ĐẶT VẤN ĐỀ Cứu hộ động vật hoang dã là hình thức nuôi dưỡng, chăm sóc và tác động tới các cá thể động vật hoang dã trong tình trạng nguy cấp khác nhau do bị cất giữ, mua bán, vận chuyển trái pháp luật (bị thương, bị bệnh, mất tập tính do nuôi nhốt lâu ngày…) để phục hồi sự sống và có khả năng tồn tại được trong môi trường tự nhiên sau khi được tái thả (UBNDTP Hà Nội, 2011). Cứu hộ động vật hoang dã là một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết đối với sự bảo tồn và phát triển các loài động vật nguy cấp, quý hiếm. Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú trong đó tài nguyên động vật đóng góp lớn cho sự đa dạng này. Mặc dù vậy, với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội trong khi sự quản lý còn thiếu chặt chẽ đã dẫn tới nhiều loài động vật hoang dã đang bị khai thác và buôn bán bất hợp pháp.
Động vật hoang dã bị buôn bán có nguồn gốc cả trong nước và nước ngoài như ở Lào, Campuchia, Thái Lan. Khi bị cơ quan chức năng thu giữ, các cá thể động vật này sẽ được tái thả trở lại tự nhiên nếu chúng còn trong điều kiện sức khỏe tốt và có nguồn gốc ở Việt Nam. Nếu chúng có nguồn gốc từ nước ngoài và không còn khỏe mạnh thì sẽ được đưa vào các trung tâm cứu hộ động vật hoang dã để phục hồi sức khỏe, sau đó tùy hoàn cảnh mà có thể được tái thả trở lại tự nhiên hoặc nuôi lâu dài tại các trung tâm cứu hộ, chuyển cho các vườn thú hoặc các trang trại nhân nuôi động vật hoang dã. Vườn Quốc Gia (VQG) Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình được thành lập từ năm 1962 (là Khu Bảo tồn thiên nhiên đầu tiên của Việt Nam) với nhiệm vụ bảo tồn nguồn tài nguyên động thực vật hiện có trong khu vực.
Trải qua quá trình xây dựng và phát triển, VQG Cúc Phương đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc nhân nuôi các loài động vật hoang dã và bảo tồn các loài động thực vật quý hiếm của Việt Nam. Trung tâm Cứu hộ và bảo tồn động thực vật hoang dã Cúc Phương được thành lập vào năm 2005 gồm 5 đơn vị là Trung tâm Bảo tồn và Phát triển thực vật, Trung tâm Bảo tồn hươu nai Cúc Phương, 1 Chương trình Bảo tồn thú linh trưởng, Chương trình bảo tồn Rùa và Chương trình Bảo tồn Thú ăn thịt và Tê tê (CPCP). Sau 10 năm thành lập, Chƣơng trình Bảo tồn Thú ăn thịt nhỏ và Tê tê đã cứu hộ được 9 loài Thú ăn thịt là Mèo rừng (Prionailurus bengalensis), Cầy mực (Arctictis binturong), Cầy vằn (Chrotogale owstoni), Cầy vòi mốc (Paguma larvata), Cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus), Cầy tai trắng (Arctogalidia trivirgata), Cầy hương (Viverricula indica), Chồn bạc má nam (Melogale personata), Chồn bạc má bắc (Melogale moschata) và 02 loài Tê tê là Tê tê java (Manis javanica) và Tê tê vàng (Manis pentadactyla). Số lượng các cá thể tái thả lại tự nhiên là trên 100 cá thể.
Một thành tựu nổi bật khác của Chương trình là đã nuôi sinh sản thành công loài Cầy vằn và loài Tê tê trong điều kiện nuôi nhốt. Với những thành tựu đạt được, Chương trình Bảo tồn Thú ăn thịt và Tê tê đã dần tạo thành địa chỉ tin cậy của cả nước về cứu hộ các nhóm loài động vật quý hiếm này. Tuy nhiên, công tác cứu hộ Thú ăn thịt và Tê tê cũng tồn tại nhiều hạn chế trong quá trình cứu hộ do con vật bị nhốt giữ lâu ngày, bị stress, bị bơm bột đá vào dạ dày trong quá trình buôn bán, bị thương nặng hoặc khó khăn trong việc tìm môi trường tái thả phù hợp sau cứu hộ. Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu kỹ thuật cứu hộ Thú ăn thịt và Tê tê của Chương trình bảo tồn Thú ăn thịt và Tê tê tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình”.
Đề tài được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng, tìm hiểu kỹ thuật cứu hộ là cơ sở để đề xuất giải pháp cứu hộ và phát triển Thú ăn thịt và Tê tê tại VQG Cúc Phương. Để giải quyết mục đích trên, đề tài sẽ tập trung tìm câu trả lời cho 2 câu hỏi: (1) - Công tác cứu hộ Thú ăn thịt và Tê tê tại VQG Cúc Phương đang được thực hiện như thế nào? (2) - Giải pháp hiệu quả cho cứu hộ Thú ăn thịt và Tê tê là gì? 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Hoạt động cứu hộ động vật hoang dã ở Việt Nam 1. Quy mô và tổ chức hoạt động Ở Việt Nam, hoạt động cứu hộ động vật hoang dã chưa thực sự được chú trọng.
Thực tiễn cho thấy, số lượng các trung tâm cứu hộ động vật hoang dã ở Việt Nam còn hạn chế. Hiện trong cả nước chỉ có một số Tổ chức, Trung tâm, Trạm cứu hộ tiêu biểu như: Trung tâm cứu hộ và bảo tồn động thực vật hoang dã Cúc Phương, Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội, Trung tâm Cứu hộ Gấu Tao Đảo, Trung tâm Cứu hộ bảo tồn và Phát triển sinh vật VQG Phong Nha Kẻ Bàng, Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi. Trong suốt quá trình hoạt động, các trung tâm cứu hộ động vật đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, đóng góp to lớn cho công tác cứu hộ và bảo tồn các loài động vật hoang dã quý hiếm: Trung tâm cứu hộ Gấu Tam Đảo (Vĩnh Phúc) được thành lập từ năm 2006 do Tổ chức Động vật Châu Á (AAF) xây dựng và quản lý. Trung tâm có diện tích 12 ha, có khả năng tiếp nhận cứu hộ đến 250 cá thể gấu.
Hiện nay, Trung tâm đã tiếp nhận và chăm sóc hơn 100 cá thể gấu trong điều kiện đảm bảo tốt về y tế, thức ăn và điều kiện sống gần với môi trường tự nhiên (Báo điện tử Tổ chức động vật châu Á, 2016). Trung tâm cứu hộ các loài linh trƣởng quý hiếm (EPRC) là một trong năm đơn vị trực thuộc của Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Cúc Phương). Hiện nay, Trung tâm EPRC đang cứu hộ và nuôi dưỡng trên 150 cá thể của 15 loài và phân loài Thú linh trưởng. Các cá thể sau khi cứu hộ được chăm sóc và nuôi dưỡng đều khỏe mạnh và có thể sinh sản được trong điều kiện nuôi nhốt.
Một thành tựu nổi bật của Trung tâm EPRC là có 6 loài thú linh trưởng chỉ được chăm sóc tại Trung tâm mà không nơi nào trên thế giới nuôi nhốt với mục đích bảo tồn, đó là: Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus laotum hatinhensis), Voọc đen tuyền (Trachypithecus laotum ebenus), Voọc Lào (Trachypithecus laotum 3 laotum), Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus) và Voọc Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea) (Báo điện tử Vườn Quốc Gia Cúc Phương, 2011). Chƣơng trình bảo tồn Rùa (TCC) cũng là một trong năm đơn vị thuộc Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật Cúc Phương. Hiện nay, Trung tâm đang cứu hộ và chăm sóc hơn 1000 cá thể của 20 loài trên tổng số 25 loài rùa cạn và rùa nước ngọt của Việt Nam. Trong đó có 15 loài rùa đã cho sinh sản thành công trong điều kiện nuôi nhốt.
Chương trình đã tiến hành thả hàng trăm cá thể rùa sau khi được cứu hộ và chăm sóc sức khỏe trở lại vùng phân bố của chúng trong tự nhiên (Báo điện tử Vườn Quốc Gia Cúc Phương, 2011). Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Hà Nội (Trung tâm Cứu hộ động vật hoang dã và Kỹ thuật bảo vệ rừng Sóc Sơn) đã cứu hộ được trên 1000 cá thể động vật hoang dã, Trung tâm đã nhân nuôi sinh sản và nhân đàn được 24 cá thể, trong đó có 4 cá thể hổ, 20 cá thể khỉ. Bên cạnh đó, Trung tâm cũng đã bảo tồn 28 cá thể hổ, 15 cá thể gấu, 4 cá thể vượn đen má trắng, 8 cá thể công, 2 cá thể hồng hoàng; thả, chuyển giao động vật hoang dã sau cứu hộ về môi trường tự nhiên 50 cá thể (Báo Vietnamplus, 2014). Trạm Cứu hộ động vật hoang dã Củ Chi (TPHCM) được thành lập từ tháng 9 năm 2006 hiện đang nuôi dưỡng và chăm sóc 46 loài, với khoảng 168 cá thể, trong đó có những loài động vật quý hiếm ở Việt Nam như: Gấu ngựa, Gấu chó, Vượn đen má vàng, Cheo cheo, Culi nhỏ (đặc biệt có 35 cá thể thuộc Thú linh trưởng), rái cá lông mượt, tê tê java, rùa núi vàng, mèo rừng.
Chỉ tính riêng trong hai năm 2014 - 2015, nơi đây đã tiếp nhận tất cả 2.919 cá thể thuộc hàng chục loài động vật hoang dã quý hiếm, đồng thời cũng thả về tự nhiên 2.350 cá thể, góp phần rất lớn vào việc bảo tồn các loài động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam (Báo Tổng cục Lâm nghiệp, 2015). Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật thuộc VQG Phong Nha - Kẻ Bàng sau 10 năm đi vào hoạt động đã cứu hộ được 800 cá thể động vật hoang dã thuộc 46 loài, trong đó có 20 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam, 25 loài nằm trong danh mục Nghị định 32/NĐ - CP như Voọc, Gấu ngựa, Rùa hộp trán vàng, Cầy vằn bắc, Rồng đất.Đồng thời Trung tâm cũng đã tái thả lại 4 tự nhiên 500 cá thể động vật hoang dã và chuyển giao cho các đơn vị cứu hộ khác trên 110 cá thể động vật hoang dã khác, đạt tỷ lệ cứu hộ thành công trên 80% (Báo Vietnamplus, 2013). Những yêu cầu kỹ thuật trong cứu hộ và tái thả động vật hoang dã 1. Yêu cầu về kỹ thuật trong cứu hộ Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cứu hộ động vật rừng (Bộ NN&PTNT, 2009), các yêu cầu kỹ thuật về cứu hộ động vật rừng như sau: a) Yêu cầu về an toàn - Động vật sau khi được chuyển giao cho trung tâm cứu hộ phải được lưu giữ trong chuồng hoặc cũi được thiết kế chuyên biệt, tại khu vực cách ly trong Trung tâm cứu hộ.
- Nhân viên cứu hộ phải được trang bị các công cụ hỗ trợ và bảo hộ trong quá trình thực hiện cứu hộ. - Trung tâm cứu hộ phải có nội qui làm việc đảm bảo an toàn cho người và động vật cứu hộ. b) Yêu cầu về kiểm tra và phân loại ban đầu Động vật phải được phân loại ngay sau khi tiếp nhận. c) Yêu cầu về cách ly Động vật khi đưa vào trung tâm cứu hộ phải được kiểm dịch và lưu giữ tại khu vực cách ly trong thời gian tối thiểu là 30 ngày.