CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1.1: Tổng quan v tình hình sản xuất và lưu hành xe ở Việt Nam và trên thế giới. Tổng quan về tình hình ô tô ở Việt Nam. Chúng ta còn nhớ, khoảng 30 năm trước, chiếc xe đạp Thống nhất đến tay người tiêu dùng hoạ may đi theo con đường tem phiếu cán bộ. Thời gian sau, chiếc xe gắn máy đến với người sử dụng trong nước cũng thực sự khó khăn, cho đến những năm mở cửa nó mới thật sự đến với mọi nhà.
Còn bây giờ, người tiêu dùng và nhà sản xuất lại tiếp tục trăn trở với ô tô. Điểm qua một số quốc gia Châu Á lúc khởi đầu ngành công nghiệp ô tô để thấy được khả năng công nghiệp ô tô của ta hiện nay. Nhật Bản khởi điểm ngành công nghiệp ô tô lúc GDP chỉ đạt 65 USD/người. Hàn Quốc bắt tay vào sản xuất ô tô lúc GDP đạt 200 USD/người.
Họ đã khởi nghiệp đúng thời cơ và đã thành công. Việt Nam thì sao? Ngành công nghiệp ô tô trong nước hiện có 12 liên doanh lắp ráp ô tô. công suất dự kiến mỗi năm khoảng trên 150 ngàn xe các loại. Bên cạnh các liên doanh, chúng ta còn có 9 công ty vốn trong nước đã mạnh dạn đầu tư vào lĩnh vực này, mỗi năm lượng xe xuất xưởng cũng khoảng 60 ngàn chiếc.
Có thể nói, thị trường ô tô trong nước và khu vực đang hấp dẫn nhà đầu tư. Tuy nhiên, sản xuất ô tô theo những quy định như hiện nay liệu có đủ sức cạnh tranh trên đường hội nhập và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng? Trên thực tế, giá xe ô tô của Việt Nam cao gấp 1,6 đến 2,9 lần giá xe của thế giới. Dự án tham gia vào lĩnh vực sản xuất ô tô không phải là ít nhưng cái chính là các ngành công nghiệp hỗ trợ để phát triển sản xuất ô tô chưa theo kịp. Thực tế, các liên doanh và doanh nghiệp trong nước tham gia vào ngành ô tô hiện chỉ mới dừng lại ở dạng lắp ráp CKD.
Theo quy định của Chính phủ, các nhà sản xuất ô tô trong nước phải đảm bảo được tỷ lệ nội địa hoá. Đây là quy định rất đúng dẫn, hợp lý, nhưng để thực hiện không phải dễ. Cả nước hiện nay mới có khoảng 60 công ty sản xuất linh kiện thì không thể nào đáp ứng được nhu cầu trên 200 ngàn chi tiết của một chiếc ô tô xuất xưởng, ở 6 Downloaded by EBOOKBKMT VMTC (nguyenphihung1009@gmail.com) lOMoARcPSD|2935381 Thái lan có 15 hãng sản xuất ô tô với 17 nhà máy lắp ráp ô tô trong khi đó có đến 709 công ty lớn và 1.100 công ty vừa và nhỏ cung cấp linh kiện. Trung Quốc có 125 nhà máy lắp ráp ô tô của hơn 60 Tập đoàn, công ty nhưng có gần 5.000 nhà cung ứng linh kiện phụ tùng ô tô.
Bởi thế, hơn 13 năm qua, các liên doanh cũng như một số doanh nghiệp trong nước hầu như chỉ hoạt động ở mức 10-30% công suất thiết kế và dĩ nhiên lại phải phụ thuộc vào linh kiện nhập khẩu. Sở dĩ họ không sản xuất linh kiện là vì ngành công nghiệp sản xuất ô tô trong nước chưa đủ mạnh để đáp ứng thị trong linh kiện. Vừa có tín hiệu mừng sẽ phát triển được nhi u dự án đầu tư, sản xuất ô tô, thì bất ngờ trong số này có không ít đơn vị đã làm để được phê duyệt rồi chỉ đơn thuần lắp ráp bán lấy lãi, không tuân thủ quy định nội địa hoá cũng như các tiêu chuẩn theo Quy định 115/2004/QĐ-BCN của Bộ Công nghiệp. Có thể nói, muốn phát triển ngành công nghiệp ô tô, ngoài việc cơ chế chính sách nhà nước phải hợp lý, hậu kiểm và xử lý triệt để các đơn vị làm không tốt, vấn đ cơ bản là các doanh nghiệp phải làm tốt thì mới cùng đa ngành công nghiệp ô tô trong nước đi lên được.
Tổng quan về ngành ô tô trên thế giới. Trong vòng khoảng 20 năm trở lại đây, sản lượng ô tô thế giới gần như ổn định và chỉ dao động quanh con số 52 đến 58 triệu chiếc một năm. Tổng số ô tô trên toàn thế giới hiện nay vào khoảng 660 triệu chiếc tức là bình quân cứ 8 người có 1 chiếc ô tô. Công nghiệp ô tô là ngành sản xuất được toàn cầu hoá sớm nhất và hiện nay, lượng cung đã vượt xa lượng cầu.
Năng lực sản xuất của toàn thế giới hiện nay dư thừa khoảng 21%. Ngành công nghiệp ô tô cũng là ngành công nghiệp tiếp cận nhanh nhất và sớm nhất các thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại, từ công nghệ tin học, đi u khiển học, đến ngành vật liệu mới, tự động hoá sản xuất thông qua hệ thống máy móc hiện đại. 7 Downloaded by EBOOKBKMT VMTC (nguyenphihung1009@gmail.com) lOMoARcPSD|2935381 Đến nay, sản phẩm ô tô là một sản phẩm mang tính quốc tế. Các quốc gia đảm nhận chế tạo các phần khác nhau của ô tô rồi lắp ráp thành phẩm.
Các nước đang phát triển cũng đã tính đến việc xây dựng một ngành công nghiệp ô tô cho riêng mình. Các nước phong Tây, Mỹ không còn độc chiếm nguồn cung cấp ô tô cho toàn thế giới nữa. Trên thế giới đã có 89 quốc gia có dây chuyển sản xuất và lắp ráp ô tô. Sự phát triển của ngành công nghiệp ô tô thế giới được đánh dấu bằng cuộc chiến tranh xe hơi Nhật, Mỹ.
Cho đến thập kỷ 90, số lượng xe hơi Nhật Bản ở Mỹ chiếm hơn 30%. Chậm chạp nhưng chắc chắn, năm này qua năm khác số lượng xe hơi từ Nhật nhập vào Mỹ ngày càng tăng lên. Tại thị trường Mỹ, nơi mà người Nhật và người châu Âu phải làm việc theo những luật lệ giống nhau của người Mỹ, công nghiệp xe hơi châu Âu đã trở nên lập v. Các hàng như Fint, Peugeot, Renault bị người Nhật đánh bật ra khỏi thị trường này.
Chỉ còn lại hãng Wolkswagen thì thị phần suy giảm mạnh từ 10% chỉ còn 1% và rất khó khăn để trụ lại. Thời điểm này đánh dấu sự dẫn đầu v sản lượng xe hơi của Nhật Bản, đứng thứ hai là châu Âu và Mỹ tụt xuống hàng thứ 3, Sau một thập kỷ bị mất thị trường cho xe hơi Nhật Bản, ngành công nghiệp ô tô Mỹ đã có những thay đổi lớn v chất. Năm 1992, các hãng xe Mỹ chiếm thêm được 2% thị trường nội địa và đặc biệt là họ tăng được số lượng xe tải bán ra. Tổng cộng họ giành được 72% thì phần nước Mỹ, đạt 12,9 triệu chiếc.
Năm 1993, lượng xe bán ra tăng 7% lên 158 triệu chiếc. Tổng quan về ô tô. Ô tô là phương tiện vận tải đường bộ chủ yếu. Ô tô có tính cơ động cao và phạm vi hoạt động rộng.
Vì vậy trên toàn thế giới ô tô hiện nay đang được dùng để vận chuyển hành khách hoặc hàng hoá phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế quốc dân và quốc phòng. Phân loại ô tô: 8 Downloaded by EBOOKBKMT VMTC (nguyenphihung1009@gmail.com) lOMoARcPSD|2935381 Dựa vào trọng tải và số chỗ ngồi Có thể chia ra các loại sau: Ô tô có trọng tải nhỏ (hạng nhẹ): trọng tải chuyên chở nhỏ hơn hoặc bằng 1,5 tấn và ô tô có số chỗ - ngồi ít hơn hoặc bằng 9 chỗ. Ô tô có trọng tải trung bình (hạng vừa): trọng tải chuyên chở lớn hơn 1,5 tấn và nhỏ hơn 3,5 tấn hoặc có số chỗ ngồi lớn hơn 9 và nhỏ hơn 30 chỗ. Ô tô có trọng tải lớn (hạng lớn): trọng tải chuyên chở lớn hơn hoặc bằng 3,5 tấn hoặc có số chỗ ngồi lớn hơn hoặc bằng 30 chỗ.
Ô tô có trọng tải rất lớn (hạng nặng): trọng tải chuyên chở lớn hơn 20 tấn Dựa vào nhiên liệu sử dụng: Ô tô dùng động cơ xăng và chạy bằng xăng. Ô tô dùng động cơ diesel và chạy bằng dầu diesel. Ô tô chạy bằng khí gas. Ô tô dùng động cơ điện và chạy bằng ắc quy.
Hiện nay tuyệt đại đa số ô tô đ u dùng động cơ xăng và động cơ diesel. Dựa vào công dụng của ô tô: Ô tô vận tải (ô tô chuyên chở hàng hoá). Ô tô khách (ô tô chuyên chở hành khách). Ô tô chuyên chở hành khách bao gồm các loại sau: ô tô buýt, ô tô tắc xi, ô tô con, ô tô hành khách liên tỉnh.
Ô tô chuyên dùng như: ô tô cứu thương, ô tô phun nước, ô tô cẩu, ô tô vận tải chuyên dùng. Các loại phương tiện vận tải. Ô tô Đây là phương tiện vận chuyển chính của đường bộ. Ô tô vô cùng thích hợp với những kiện hàng vừa và nhỏ với những cự li ngắn.
9 Downloaded by EBOOKBKMT VMTC (nguyenphihung1009@gmail.com) lOMoARcPSD|2935381 Hình 1.2: Tàu hỏa Đây là một phương tiện vận chuyển phổ biến cho một hành trình nhất định. Tàu thuỷ Hình 1.3: Tàu Thủy 10 Downloaded by EBOOKBKMT VMTC (nguyenphihung1009@gmail.com) lOMoARcPSD|2935381 Tàu thuỷ có chi phí duy trì trung bình và chi phí phát sinh thấp nên loại hình phương tiện vận chuyển hàng hoá này vô cùng phát triển. Đây là loại phương tiện vận chuyển hàng hoá có thể tối ưu nhất với thời gian vận chuyển nhanh. Lịch sử phát triển của ô tô.
Từ những năm 1860 chiếc ô tô đầu tiên sử dụng động cơ đốt trong được ra đời. Những chiếc xe này sử dụng động cơ khoảng 2 mã lực với tốc độ cực đại khoảng 20 Km/ h. Sự ra đời của loại ô tô dùng động cơ đốt trong được thách thức các phương tiện vận tải thô sơ thời bấy giờ và ngày càng thúc đẩy ngành vận tải đường bộ phát triển. Đến nay, công nghiệp chế tạo ô tô trên thế giới được phát triển rất mạnh và chế tạo được nhi u loại ô tô hiện đại với tốc độ lớn nhất đạt khoảng hàng trăm km /h.
Các gam tải trọng cũng rất đa dạng, phổ biến là từ ( 0,5 - 10 ) tấn. Đặc biệt có những loại ô tô tải nặng có tải trọng đến 60 tấn. Xu hướng phát triển ô tô trên thế giới hiện nay là tăng tải trọng, tăng tốc độ, tăng tính kinh tế nhiên liệu, tăng tính tiện nghi và giảm ô nhiễm môi trường. 11 Downloaded by EBOOKBKMT VMTC (nguyenphihung1009@gmail.com) lOMoARcPSD|2935381 Để phục vụ cho xu hướng phát triển trên, các thành tựu khoa học kỹ thuật mới như: tin học, tự động đi u khiển, điện tử, vật liệu mới.đ u được ngành chế tạo ô tô ứng dụng.
Một số hãng sản xuất ô tô. Vinfast Việt Nam Kia Hàn Quốc Mercedes-Benz Đức Honda Nhật Bản Lexus Nhật Bản Lamborghini Italia Mitsubishi Nhật Bản 12 Downloaded by EBOOKBKMT VMTC (nguyenphihung1009@gmail.com) lOMoARcPSD|2935381 Hình 1.5: Một số hãng ô tô 1. Tổng quan về cơ cấu phân phối khí. Công dụng, phân loại yêu cầu.