CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN Phát hiện và chẩn đoán lỗi thuộc về việc giám sát chung hoặc giám sát tình trạng của các quy trình kỹ thuật. Nhiệm vụ là chỉ ra được các trạng thái hư hỏng, bất thường để đưa ra được giải pháp cũng như các biện pháp sữa chữa kịp thời, tránh thiệt hại, tai nạn hoặc gây ô nhiễm môi trường. Các hậu quả hư hỏng có thể kể đến của hệ thống truyền động và khung gầm như : nguy hiểm (ví dụ: xe xoay vòng), hiệu quả kinh tế thấp (ví dụ: tiêu thụ nhiên liệu cao hoặc mức độ hao mòn cao) hoặc gây ô nhiễm môi trường (ví dụ: nồng độ khí thải quá cao). Các nhiệm vụ cơ bản của việc giám sát, phát hiện lỗi được trình bày chi tiết trong [6] và [2].
Do đó, một số điểm nổi bật được nêu ra ở đây xem như là một giới thiệu và kiến thức nền tảng cho việc tiếp cận hệ thống chẩn đoán trên ô tô.1 Nhiệm vụ cơ bản của giám sát Một quy trình (động cơ hoặc khung gầm) hoạt động theo vòng hở được xem xét, (Hình 1. U(t) và Y(t) lần lượt là tín hiệu đầu vào và đầu ra. Nguyên nhân dẫn đến lỗi có thể xuất phát từ bên ngoài lẫn bên trong. Các nguyên nhân bên ngoài thường gặp như là ảnh hưởng từ môi trường : độ ẩm, bụi, chất hóa học, bức xạ điện từ, nhiệt độ cao dẫn tới tình trạng xe bị ăn mòn và ô nhiễm.
Các nguyên nhân bên trong có thể là thiếu môi chất bôi trơn dẫn tới tình trạng ma sát cao, sinh nhiệt, rò rỉ và ngắn mạch. Những lỗi F(t) trước tiên tác động đến các thông số bên trong Θ bởi ∆Θ(t), như là thay đổi giá trị điện trở, điện dung, độ cứng hoặc các biến đổi trạng thái bên trong x(t) bởi ∆x(t), như là sự thay đổi lưu lượng khí nạp, nhiệt độ. Theo quy trình động học, những lỗi F(t) này sẽ ảnh hưởng đến tín hiệu đầu ra Y(t) bằng một thay đổi ∆Y (t). Tuy nhiên, những nhiễu loạn và tiếng ồn trong tự nhiên N(t) cũng làm thay đổi biến điều khiển U(t) và làm ảnh hưởng đến kết quả đầu ra Y(t).
Đối với quá trình vòng lặp hở, biến lỗi F(t) sẽ dẫn đến một kết quả ∆Y (t) vĩnh cửu. Đối với trường hợp vòng lặp kín, (Hình 1.1 b), kết quả sẽ khác. Tùy thuộc vào thời gian, mức độ thay đổi của các tham số ∆Θ(t) hoặc thay đổi của biến trạng thái ∆x(t), đầu ra chỉ hiển thị độ lệch ∆Y(t) nhỏ nếu bộ điều khiển tỉ lệ tích phân PI được sử dụng. Nhưng sau đó, độ lệch ∆U(t) của biến điều khiển U(t) sẽ không thay đổi trong quá trình điều khiển PI.
Nếu chỉ giám sát đầu ra Y(t), lỗi có thể không được phát hiện do độ lệch nhỏ và ngắn, hơn nữa bị hỏng bởi nhiễu. Lý do là một vòng lặp kín không chỉ có khả năng bù cho nhiễu N(t) mà còn bù cho thay đổi tham số ∆Θ(t) và thay đổi trạng thái ∆x(t) liên quan đến biến điều khiển Y(t). Điều này có nghĩa là lỗi F(t) có thể được bù bởi vòng kín. Chỉ khi lỗi tăng kích thước và khiến biến điều khiển đạt giá trị hạn chế (bão hòa) thì độ 6 Luan van lệch vĩnh viễn ∆Y mới có thể phát sinh.
Do đó đối với các quy trình trong vòng lặp kín, giá trị đầu vào U(t) phải được giám sát giống như giá trị đầu ra Y(t).1: Sơ đồ của một quá trình (động cơ hoặc khung gầm) P bị ảnh hưởng bởi các lỗi F a. Quá trình vòng lặp hở b. Quá trình vòng lặp kín.2: Sơ đồ chung chẩn đoán lỗi Sự giám sát của các quy trình kỹ thuật trong hoạt động bình thường hoặc kiểm soát chất lượng sản phẩm trong sản xuất thường được thực hiện bằng cách kiểm tra một số biến đầu ra Y(t) có thể đo được như áp suất, lực, mức độ chất lỏng, nhiệt độ, tốc độ và dao động. Điều này có nghĩa là kiểm tra xem giá trị có nằm trong vùng dung sai Ymin < Y (t) < Ymax.
Nếu vượt quá vùng dung sai, một báo động được đưa ra. Hành động này cũng được gọi là giám sát.2 Kiến thức cơ bản về phát hiện và chẩn đoán lỗi Phát hiện và chẩn đoán lỗi là những kiến thức cơ bản cho các phương pháp giám sát và quản lý lỗi tiên tiến. Nói chung, phát hiện và chẩn đoán lỗi dựa trên các biến đo được đo bằng dụng cụ và các kĩ thuật viên sẽ giám sát các biến đo đó. Việc xử lý các biến đo để phát hiện lỗi đòi hỏi kiến thức về phân tích quy trình cũng như trực giác, kinh nghiệm chuyên môn của một chuyên gia.2) cho thấy một sơ đồ tổng thể.1 Phân tích triệu chứng Các kiến thức phân tích quy trình được sử dụng để tạo ra thông tin phân tích, định lượng.
Để làm điều này, việc xử lý dữ liệu dựa trên các biến đo phải được thực hiện để tạo các giá trị đặc trưng đầu tiên bằng cách: Kiểm tra giá trị giới hạn của các tín hiệu trực tiếp đo được. Các giá trị đặc trưng là dung sai tín hiệu bị vi phạm. Phân tích các tín hiệu có thể đo trực tiếp bằng cách sử dụng các mô hình tín hiệu như các hàm tương quan, phổ tần số, bình quân dịch chuyển hồi quy (ARMA) hoặc các giá trị đặc trưng, ví dụ: phương sai, biên độ, tần số hoặc mô hình tham số. Phân tích quá trình bằng cách sử dụng các mô hình quá trình toán học cùng với ước tính tham số, ước tính trạng thái và phương pháp phương trình chẵn lẻ.
Các giá trị đặc trưng là tham số, biến trạng thái hoặc phần dư.3: Khảo sát các phương pháp phân tích lỗi Trong một số trường hợp, các đặc tính đặc biệt sau đó có thể được trích xuất từ các giá trị đặc trưng này, ví dụ: các hệ số quy trình được xác định vật lý hoặc phần dư được 8 Luan van lọc hoặc biến đổi đặc biệt. Các tính năng này sau đó được so sánh với các tính năng thông thường của quy trình không bị lỗi. Đối với điều này, các phương pháp phát hiện và phân loại thay đổi được áp dụng. Những thay đổi kết quả (sự khác biệt) trong các tín hiệu, mô hình tín hiệu hoặc mô hình quá trình được đề cập trực tiếp được coi là triệu chứng phân tích.3) đưa ra một khảo sát chi tiết hơn về các phương pháp phát hiện lỗi phân tích, được xử lý trong các chương sau.2 Phỏng đoán triệu chứng Ngoài việc tìm hiểu các triệu chứng của ô tô thông qua các thông tin định lượng, ta có thể phỏng đoán các triệu chứng thông qua thông tin định tính từ người lái xe hoặc nhân viên xưởng.
Thông qua giám sát và kiểm tra của con người, những thông tin như tiếng ồn lạ, màu sắc, mùi, rung, hao mòn.được thu lại. Lịch sử sữa chữa, lỗi cũ, tuổi thọ cũng là một nguồn thông tin để phỏng đoán được triệu chứng của ô tô. Dữ liệu thống kê (ví dụ: thời gian trung bình giữa các lỗi, xác suất lỗi) đạt được từ kinh nghiệm với các quy trình tương tự có thể được thêm vào. Theo cách này, phỏng đoán triệu chứng có thể được tạo ra dưới dạng các biến ngôn ngữ (ví dụ: nhỏ, trung bình, lớn) hoặc là những giá trị số (ví dụ: xung quanh một giá trị nhất định) (Hình 1.3 Chẩn đoán lỗi Nhiệm vụ của chẩn đoán lỗi là xác định được những thông tin cụ thể như: loại lỗi, mức độ của lỗi, thời gian phát hiện lỗi và vùng có khả năng bị lỗi cao nhất.4: Khảo sát các phương pháp chẩn đoán lỗi Quy trình chẩn đoán lỗi là sử dụng phân tích triệu chứng và phỏng đoán triệu chứng có thể xảy ra.
Chúng phải được trình bày dưới dạng thống nhất như số tin cậy, hàm thành viên của tập mờ hoặc hàm mật độ xác suất sau khi đánh giá thống kê theo thời gian. Sau đó, các phương pháp phân loại có thể được áp dụng để xác định lỗi từ các mẫu và hoặc 9 Luan van cụm triệu chứng theo quy trình mô hình chuẩn phù hợp.Tuy nhiên, nếu có thêm thông tin về mối quan hệ triệu chứng lỗi, ví dụ: ở dạng cây phân tích lỗi hoặc quy tắc nguyên nhân-kết quả đã được biết đến, phương pháp suy luận (lý luận phương pháp) với chuỗi tiến và lùi có thể được áp dụng [6].4) đưa ra một khảo sát về các phương pháp này. Kết luận Tóm tắt các phương pháp chẩn đoán và phát hiện lỗi cơ bản được trình bày trong chương này được giới hạn trong các quy trình tuyến tính là chủ yếu. Một số phương pháp cũng có thể được áp dụng trực tiếp cho các quy trình phi tuyến, ví dụ: phân tích tín hiệu, phương trình chẵn lẻ và ước tính tham số.
Tuy nhiên, tất cả các phương pháp phải được điều chỉnh theo quy trình thực. Theo nghĩa này, các phương pháp cơ bản nên được kết hợp đúng cách để đáp ứng các yêu cầu thực tế để phát hiện lỗi trên quy trình thực.5: Sơ đồ chuẩn đoán và phát hiện lỗi với các phương pháp dựa trên tín hiệu và mô hình quy trình 10 Luan van CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN ĐỘNG CƠ ĐỐT TRONG Vì các chức năng giám sát và chẩn đoán của động cơ đốt trong liên hệ mật thiết với các chức năng điều khiển, nên chương này sẽ trình bày ngắn gọn về các nhiệm vụ điều khiển cơ bản và một số chức năng điều khiển. Tiếp theo là tìm hiểu sơ bộ về hệ thống chẩn đoán trên xe (OBD) hiện nay và các phương pháp đã được tiếp cận. Cuối cùng, phát hiện lỗi động cơ theo mô hình chuẩn được giới thiệu.1 Điều khiển động cơ điện tử Bộ điều khiển động cơ điện tử (ECU) có nhiệm vụ kiểm soát, tối ưu hóa và giám sát tất cả các chức năng có liên quan của động cơ đốt trong (ICE).
Thoạt nhìn, điều này bao gồm: Tạo mô-men xoắn theo bàn đạp ga Đảm bảo tính kinh tế nhiên liệu Đảm bảo nồng độ khí thải và tiếng ồn thấp (tuân thủ theo luật pháp quy định) Đảm bảo vận hành ổn định Đối với các chi tiết, bộ phận trên động cơ đốt trong, các chức năng điều khiển có thể được chia cho các hệ thống con hoặc các bộ phận động cơ sau: 1. Hệ thống nạp (hệ thống không khí) 2. Hệ thống phun nhiên liệu 3. Hệ thống cung cấp nhiên liệu 4.
Quá trình cháy và dẫn động trục khuỷu, bộ tăng áp 5. Hệ thống bôi trơn 6. Hệ thống khí thải, tuần hoàn khí thải 7.