chương 1 trình bày các khái niệm an toàn, kiến thức, thái độ, thực hành; lý thuyết, khung phân tích liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành an toàn giao thông. Phần sau cùng là lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến đề tài.1 Các khái niệm liên quan Để có sự thống nhất và tránh những tranh luận bên ngoài phạm vi nghiên cứu, phần đầu tiên của luận văn trình bày những khái niệm và ý nghĩa của các thuật ngữ này được sử dụng trong luận văn. An toàn giao thông: khái niệm an toàn giao thông nói đến những cách thức, biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro cho con người khi đang tham giao trên mạng lưới giao thông khỏi những tổn thương hoặc thương vong (chết người). Người tham gia giao thông bao gồm người đi bộ, đi xe đạp, hành khách trên những phương tiện giao thông công cộng, lái xe của các loại phương tiện được qui định trong luật giao thông đường bộ ở mỗi quốc gia (Theo vi.org) Theo Đại học Giao thông Vận Tải Hà Nội thì An toàn giao thông trên đường tên tiếng Anh là “Road Traffic Safety”.
Đó là một hệ thống Đường - Xe cộ - Người lái dưới sự tác động của quá trình xây dựng đường, luật lệ giao thông, điều kiện thời tiết và mức độ an toàn của các phương tiện giao thông. Một con đường trong quá trình khai thác sử dụng, cùng với hệ thống trang thiết bị giao thông tương ứng sẽ luôn tồn tại hai thành phần. Thành phần thứ nhất là: Rủi ro tai nạn cơ bản (còn gọi là: rủi ro không có có khả năng tránh). Thành phần thứ hai là: Tiềm năng an toàn (được gọi là: mật độ chi phí tai nạn có khả năng tránh được).
An toàn giao thông là các hành vi văn hóa khi tham gia giao thông bao gồm việc chấp hành luật giao thông, phải có ý thức khi tham gia giao thông, là sự chấp hành tốt các luật lệ về giao thông, cư xử phù hợp khi lưu thông trên các phương tiện giao thông (Nguyễn Văn Dũng, 2013). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Luật giao thông đường bộ: căn cứ vào hiến pháp cụ thể tại các quốc gia, mỗi quốc gia sẽ có những văn bản luật khác nhau để kiểm soát, quản lý giao thông đường bộ. Tại Việt Nam, căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; Quốc hội ban hành luật giao thông đường bộ (Luật số 23/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008). Luật giao thông đường bộ là văn bản quy phạm pháp lật do Cơ quan nhà nước CHXHCNVN ban hành để điều chỉnh các vấn đề về giao thông đường bộ và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước.
Luật này quy định về quy tắc giao thông đường bộ; kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; phương tiện và người tham gia giao thông đường bộ; vận tải đường bộ và quản lý nhà nước về giao thông đường bộ (Điều 1).Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân liên quan đến giao thông đường bộ trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 2). Mới nhất, ngày 26 tháng 5 năm 2016 Chính phủ ban hành Nghị định số 46/2016 Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính; hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2018, quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Luật nêu rõ những hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ nào (tính chất nguy hiểm cao, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác và hành vi có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời) mới bị coi là phạm tội hình sự. Những hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ mà không có tính chất nguy hiểm, không gây thiệt hại cho người khác thì bị xử phạt vi phạm hành chính. Luật phân biệt tính chất của các hành vi phạm tội: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 hành vi khách quan, hành vi chủ quan; những căn cứ để xác định trách nhiệm đối với người gây tai nạn, chủ thể của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, và các chi tiết liên quan khác. Tai nạn giao thông: Tai nạn giao thông được định nghĩa là những vụ va chạm, sự cố không dự tính, bất ngờ khi tham gia giao thông gây ra tổn thương hoặc thương vong, và thiệt hại về tài sản và tinh thần.
Theo Thông tư số 58 (Điều 5) qui định và hướng dẫn, tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu, cung cấp thông tin TNGT đường bộ thì tai nạn giao thông đường bộ là ‘sự việc xảy ra do người tham gia giao thông đang hoạt động trên mạng lưới giao thông đường bộ vi phạm các qui định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ hay gặp phải sự cố bất ngờ gây ra những thiệt hại nhất định đến tính mạng, sức khỏe của con người hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân’. Theo Nghị định số 97 (phần phụ lục, tiểu mục 19-Trật tự an toàn xã hội và tư pháp thì tai nạn giao thông là ‘sự kiện bất ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người, xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc ở các địa bàn giao thông công cộng (gọi là mạng lưới giao thông), nhưng do chủ quan, vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, đã gây ra những thiệt hại nhất định cho tính mạng, sức khỏe con người hoặc tài sản’. Theo Bộ Y tế thì tai nạn giao thông là ‘sự va chạm bất ngờ nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người, xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dụng hoặc ở địa bàn công cộng nhưng do chủ quan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải các tình huống, sự cố đột xuất không kịp phanh, tránh, gây thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe’ Nhìn chung các khái niệm được diễn tả theo ngôn từ khác nhau, nhưng có cùng chung những đặc điểm tương tự về tai nạn giao thông như sau: a) sự cố bất ngờ nằm ngoài mong muốn; b) xảy ra trên mạng lưới giao thông đường bộ; c) do vi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 phạm các quy định về trật tự, an toàn giao thông; d) gây thiệt hại đến sức khỏe, sinh mạng, tinh thần, tài sản của cá nhân, tổ chức và xã hội.2 Kiến thức, thái độ, thực hành (hành vi cụ thể) Kiến thức là những gì cá nhân biết được, ví dụ như số liệu, khái niệm, mô hình. Kiến thức thông thường là những gì có thể tìm thấy được trong sách, tài liệu, các phương tiện truyền thông, thông tin khác.
Đôi lúc kiến thức cũng là điều đó bản thân có thể tiếp cận được về tinh thần và có thể truyền lại cho người khác. Thái độ là những gì mà bản thân có ý định thực hiện, chỉ đơn giản là cá nhân có thể làm điều gì nhưng không có nghĩa là cá nhân thực sự làm điều đó. Một thái độ chỉ rõ cái gì mà bản thân có ý định thực hiện. Ví dụ, mọi người biết rằng làm thế nào để không uống rượu bia trước khi lái xe, nhưng không phải mỗi người đều phải có thái độ không lái xe khi đã uống rượu bia.
Thực hành là thực hiện, làm thường xuyên điều gì đó. Khi cá nhân thực hiện ý định làm điều gì đó cụ thể và việc thực hiện đó mang tính chất thường xuyên.2 Các lý thuyết liên quan 2.1 Mô hình niềm tin sức khỏe Mô hình niềm tin sức khỏe (Health Belief Model-HBM) là một trong những lý thuyết lâu đời nhất và được sử dụng làm khung phân tích để giải thích hành vi sức khỏe của con người (Becker, 1974). Mô hình gồm có 3 thành phần là: nhận thức của cá nhân, các yếu tố bổ trợ và khả năng hành động. Các cá nhân sẽ có hành vi ngăn ngừa nếu họ có niềm tin rằng bản thân họ có khả năng bị tổn thương do bệnh tật hoặc vấn đề mẫn cảm nào đó, và những ảnh hưởng, hệ lụy về sau là nghiêm trọng (rủi ro cảm nhận về mức độ nghiêm trọng của bệnh tật, thương tật), từ đó những hành động ngăn ngừa đối với mối hiểm nguy thì sẽ hữu ích (nghĩa là những lợi ích cảm nhận từ hành động nào đó), đồng thời những hành động đó cũng có lợi nhiều hơn so với chi phí (chi phí cảm nhận).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Tuy nhiên, mô hình này cũng có nhiều khiếm khuyết. Thứ nhất là các hành vi có tính chất thói quen như hút thuốc, thì có xu hướng là không bị ảnh hưởng từ việc tính toán chi phí hay lợi ích. Mô hình HBM cố gắng dự đoán hành vi của con người thông qua việc xem xét những sự khác biệt về niềm tin và thái độ của cá nhân, nhưng không xem xét các ảnh hưởng tương tác giữa các yếu tố hành vi. Đồng thời mô hình cũng không đóng góp nhiều vào sự hiểu biết về cơ chế nhân quả của các mối gắn kết.2 Lý thuyết hành vi dự định(Theory of Planned Behavior-TPB) Lý thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991; Azjen và Madden, 1986) cho rằng hành vi của một người được quyết định bởi ý định của người ấy muốn thực hiện hành động nào đó.
Ý định thì được hình thành từ thái độ đối với một hành vi, niềm tin của bản thân về những gì người khác sẽ thực hiện, động lực để làm theo những mong muốn của người khác và kiểm soát được hành vi theo cảm nhận của họ. Lý thuyết TPB đã đưa thêm yếu tố kiểm soát hành vi vào mô hình của lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Rational Action – TRA). TRA bị hạn chế khi sử dụng để dự đoán hành động của người tiêu dùng khi họ không thể kiểm soát được.