Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Kháng sinh Kháng sinh theo định nghĩa WHO là chất hóa học được tạo ra bởi một sinh vật sống, nói chung là vi sinh vật. Thuốc kháng sinh là một loại chất kháng khuẩn có hoạt tính chống lại vi khuẩn. Kháng sinh quan trọng nhất để chống nhiễm trùng do vi khuẩn và thuốc kháng sinh được sử dụng rộng rãi trong điều trị và phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng như vậy.
Chúng có thể tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của vi khuẩn (15). Định nghĩa của Bộ Y tế Việt Nam, kháng sinh là chất được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật có tác dụng tiêu diệt hoặc ức chế sự phát triển của các vi sinh vật sống khác. Kháng sinh không phải là chất tổng hợp, bán tổng hợp hoặc dẫn xuất từ thực vật hoặc động vật (16). Thuốc kháng vi sinh vật là chất được tạo ra từ các nguồn khác nhau (vi sinh vật, thực vật, động vật, tổng hợp hoặc bán tổng hợp), có tác dụng trên các loài vi sinh vật bao gồm vi khuẩn (kháng khuẩn), vi nấm (kháng nấm), kí sinh trùng (kháng kí sinh trùng) và vi rút (kháng vi rút).
Tất cả các kháng sinh đều được coi là thuốc kháng vi sinh vật, tuy nhiên thuốc kháng vi sinh vật không nhất thiết phải là kháng sinh (16). Vi sinh vật là các sinh vật có kích thước rất nhỏ và thường chỉ quan sát được qua kính hiển vi. Vi sinh vật bao gồm vi khuẩn, vi nấm và động vật đơn bào. Mặc dù vi rút không được coi là sinh vật sống, nhưng đôi khi cũng được xếp vào vi sinh vật (16).
Kháng sinh dự phòng: Đây là việc sử dụng kháng sinh trước khi có dấu hiệu bệnh xuất hiện, nhằm ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng có thể xảy ra. Phương pháp này thường được áp dụng trong các giai đoạn nhạy cảm, chẳng hạn như khi gà còn nhỏ, trong quá trình chuyển mùa hoặc khi có thông tin về dịch bệnh từ các trang trại khác. 7 Kháng sinh điều trị: Đây là việc sử dụng kháng sinh khi đã xuất hiện các dấu hiệu bệnh lý rõ ràng. Điều trị bằng kháng sinh nhằm loại bỏ hoặc kiểm soát các bệnh nhiễm trùng đã hiện diện.
Việc điều trị này thường yêu cầu chuẩn đoán chính xác và theo dõi chặt chẽ để đảm bảo hiệu quả và hạn chế tình trạng kháng thuốc. Sự khác biệt trong sử dụng kháng sinh: Hai phương thức sử dụng kháng sinh này có sự khác biệt rõ rệt trong mục đích và cách thức sử dụng. Kháng sinh dự phòng thường được áp dụng rộng rãi và định kỳ, trong khi kháng sinh điều trị tập trung vào việc chữa trị các trường hợp cụ thể và đòi hỏi theo dõi sát sao từ các chuyên gia thú y. Người dân chăn nuôi Người dân chăn nuôi là những người tham gia trực tiếp vào hoạt động chăn nuôi, nuôi sinh trưởng, nuôi sinh sản vật nuôi và hoạt động khác có liên quan đến vật nuôi, sản phẩm chăn nuôi phục vụ mục đích làm thực phẩm, khai thác sức kéo, làm cảnh hoặc mục đích khác của con người thuộc hộ chăn nuôi (17).
Đối tượng trực tiếp chăn nuôi gà được hiểu là những người có tham gia vào quá trình chăm sóc và quản lý đàn gà trong trang trại. Điều này bao gồm cả chủ trang trại và người làm thuê nếu họ tham gia trực tiếp vào việc quyết định và thực hiện các biện pháp chăm sóc, bao gồm sử dụng kháng sinh. Chăn nuôi nông hộ là một đầu mối tiêu thụ, chế biến những phụ phẩm của ngành nông nghiệp, các ngành nghề phụ ở nông thôn như xay xát, nấu rượu, làm bún, bánh. để tạo ra những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như trứng, thịt, sữa.
Ngoài ra, chăn nuôi nông hộ tận dụng được nguồn đất đai bạc màu, công lao động nhàn rỗi và vốn tự có của hộ nông dân. Hình thức chăn nuôi này còn tồn tại ở hầu hết các nước có thu nhập thấp (17). Nguyên tắc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi 1. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh Trong chăn nuôi và thú y, kháng sinh được dùng để phòng, trị bệnh và kích thích tăng trưởng (18).
Việc sử dụng kháng sinh không hợp lý, trong chăn nuôi 8 động vật sẽ dẫn tới sự tồn dư kháng sinh, chất kích thích tăng trưởng trong thịt và các sản phẩm động vật, gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của người tiêu dùng và làm giảm hiệu quả điều trị của kháng sinh bởi tính KKS của vi khuẩn (19). Vai trò của kháng sinh đối với sức khỏe vật nuôi đó là đảm bảo phúc lợi động vật vì kháng sinh giúp phòng và trị những căn bệnh do vi khuẩn gây ra đau đớn và tử vong cho vật nuôi; đảm bảo phúc lợi động vật, sự bền vững, giúp đảm bảo an toàn cho con người, vì vật nuôi khỏe mạnh là bước quan trọng đầu tiên để có nguồn thực phẩm an toàn hoặc những vật nuôi an toàn. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh tronng chăn nuôi đó là chẩn đoán đúng bệnh; dùng đúng thuốc; sử dụng đúng liều lượng kháng sinh; dùng đúng liệu trình; dùng liều từ cao xuống thấp. Luật Chăn nuôi (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020), quy định cụ thể (17).
Điều trị bằng kháng sinh cho động vật dựa trên 4 nguyên tắc: 1) Xác định tác nhân gây bệnh và lựa chọn loại thuốc thích hợp để điều trị; 2) Chọn đúng kháng sinh và đường đưa thuốc thích hợp: Đạt được nồng độ thuốc hiệu quả tại vị trí nhiễm trùng. Các đường sử dụng kháng sinh phụ thuộc vào các yếu tố: Tính khẩn cấp trong trị liệu, vị trí nhiễm khuẩn, đặc tính hấp thu kháng sinh, khả năng sử dụng kháng sinh theo đường uống. Các đường đưa thuốc: Đường uống, đường tiêm tĩnh mạch (dùng trong các trường hợp nhiễm trùng nặng hay nhiễm trùng ở vị trí đặc biệt: màng não, tim mạch, xương… hay khi đường uống không thể thực hiện), tiêm bắp, tiêm dưới da, dùng kháng sinh tại chỗ. 3) Sử dụng liều lượng, tần suất và phương pháp dùng liều đúng thời gian quy định.
Liều lượng sử dụng kháng sinh phụ thuộc vào các yếu tố như mức nhạy cảm của vi khuẩn gây bệnh đối với kháng sinh, tính chất dược động của kháng sinh, vị trí của ổ nhiễm trùng, cơ địa gia súc, sử dụng phối hợp kháng sinh, thời gian sử dụng kháng sinh (sử dụng đúng liệu trình với từng kháng sinh). 9 4) Sử dụng phương pháp điều trị hỗ trợ cụ thể và thích hợp để cải thiện khả năng vượt qua nhiễm trùng và các tình trạng bệnh liên quan của động vật. Phải nắm vững nguyên tắc khi cần thiết phải sử dụng phối hợp kháng sinh: Nắm chắc tác dụng cộng dồn, tác dụng hiệp đồng, hoặc tác dụng đối kháng. Không bao giờ sử dụng phối hợp một loại kháng sinh diệt khuẩn với một loại kháng sinh kìm khuẩn như trong Hình 1.
kháng sinh sử dụng trong thức ăn chăn nuôi phải là thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam. Chỉ được sử dụng kháng sinh trong sản xuất thức ăn chăn nuôi theo đơn của người có chứng chỉ hành nghề phòng, trị bệnh cho động vật theo quy định của pháp luật về thú y để phòng bệnh cho vật nuôi ở giai đoạn con non, trị bệnh cho vật nuôi nhiễm bệnh. Việc sử dụng thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh phải tuân thủ hướng dẫn của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc cung cấp thức ăn chăn nuôi. Thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh phải thể hiện thông tin về tên và hàm lượng kháng sinh, hướng dẫn sử dụng, thời gian ngừng sử dụng trên nhãn sản phẩm hoặc tài liệu kèm theo sản phẩm.
Chính phủ quy định tiêu chí đối với các loại vật nuôi ở giai đoạn con non được phép sử dụng thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh để phòng bệnh và lộ trình bỏ việc sử dụng kháng sinh trong phòng bệnh đối với vật nuôi. Thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh cần tuân thủ theo đúng tiêu chí chỉ được sử dụng kháng sinh trong sản xuất thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh cho gia súc, gia cầm. Và đối với một số loại vật nuôi ở giai đoạn con non được sử dụng thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh để phòng bệnh được quy định như sau: − Gà từ 01 đến 21 ngày tuổi; 10 Hình 1.1: Cách phối trộn kháng sinh trong điều trị cho gà Việc phối hợp kháng sinh trong chăn nuôi nhằm: tăng khả năng diệt khuẩn, điều trị nhiều loại vi khuẩn cùng lúc, giảm KKS. Dùng kháng sinh theo phác đồ để tránh hiện tượng KKS.
Trong thú y chia 2 nhóm kháng sinh lớn: Nhóm A (Beta- lactam, Aminosid), nhóm B (Phenicol, Cyclin, Macrolid). Nguyên tắc phối hợp A+A (phối hợp 2 kháng sinh cùng trong nhóm A) = tăng tác dụng, B+B (phối hợp 2 kháng sinh cùng trong nhóm B) = chỉ tác dụng đơn thuần, A+B (phối hợp 1 kháng sinh nhóm A và 1 kháng sinh nhóm B) = đối kháng mất tác dụng. Ví dụ: tụ cầu tiết penicilinase kháng penicillin, ampicillin, colistin. Để giảm hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc, cần sử dụng kháng sinh phổ hẹp đúng chỉ định, đúng liều lượng.
Bên cạnh đó, việc sử dụng thuốc thú y có chứa kháng sinh, cũng được quy định cụ thể trong Thông tư số 21/2019/TT-BNNPTNT ngày 28/11/2019 của Bộ 11 trưởng Bộ Nông nghiệp hướng dẫn một số điều của Luật Chăn nuôi về thức ăn chăn nuôi, có hiệu lực kể từ ngày 14/01/2020; Thông tư 31/2022/TT-BNNPTNT sửa đổi 1 số điều của Thông tư số 21/2019/TT-BNNPTNT (21,22). - Sử dụng thuốc thú y có chứa kháng sinh để phòng bệnh cho động vật là việc sử dụng thuốc thú y có chứa kháng sinh cho động vật trên cạn ở giai đoạn con non theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định số 13/2020/NĐ-CP, có nguy cơ mắc bệnh và chưa có dấu hiệu lâm sàng của bệnh. - Sử dụng thuốc thú y có chứa kháng sinh để điều trị dự phòng cho động vật là việc sử dụng thuốc thú y cho một nhóm động vật có nguy cơ mắc bệnh khi trong nhóm có một hoặc nhiều động vật được chẩn đoán, xét nghiệm với kết luận mắc bệnh, nghi mắc bệnh hoặc để phòng, trị nhiễm trùng trước và sau phẫu thuật cho động vật. - Sử dụng thuốc thú y để điều trị bệnh cho động vật là việc sử dụng thuốc thú y cho động vật có dấu hiệu lâm sàng của bệnh hoặc được chẩn đoán, xét nghiệm với kết luận mắc bệnh.
Cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh phải có biện pháp kiểm soát bảo đảm không phát tán, gây nhiễm chéo giữa các loại kháng sinh khác nhau, giữa thức ăn chăn nuôi chứa kháng sinh và thức ăn chăn nuôi không chứa kháng sinh.