CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những thông tin chung về bệnh tay chân miệng 1. Khái niệm về bệnh tay chân miệng Bệnh tay, chân và miệng (TCM) là một bệnh truyền nhiễm phổ biến của trẻ sơ sinh và trẻ em. Dấu hiệu đặc trưng là sốt, các vết loét trong miệng, và phát ban ở bàn tay, bàn chân và mông.
Bệnh TCM thường nhầm lẫn với bệnh chân - miệng (còn gọi là lở mồm, long móng), một bệnh xảy ra ở gia súc, cừu, lợn, nhưng hai bệnh được gây ra bởi các loại vi rút khác nhau và không liên quan. Bệnh TCM được gây ra bởi một nhóm các vi rút được gọi là enterovirus. Bệnh phổ biến ở nhiều nước châu Á [32], [43], [44], 1. Lịch sử của bệnh Bệnh TCM đã được phát hiện từ lâu và gặp ở nhiều nước trên thế giới.
Năm 1969, lần đầu tiên người ta phát hiện ra bệnh TCM, tác nhân gây bệnh là Enterovirus 71 (EV71) trên trẻ em bị viêm màng não ở bang California, Mỹ. Sau đó bệnh bùng phát ở New York, Hoa Kỳ vào năm 1972 và 1977, úc vào năm 1972- 1973 và 1986, Thụy Điển vào năm 1973, Nhật Bản vào năm 1973 và 1978, Bulgaria trong năm 1975, Hungary vào năm 1978, Pháp vào năm 1979, Hồng Kông (Trung Quốc) vào năm 1985, bang Philadelphia, Mỹ vào năm 1987 [41], 1. Dịch tễ học của bệnh 1. Tác nhân gây bệnh Bệnh TCM gây ra do vi rút thuộc nhóm vi rút đường ruột.
Các vi rút có khả năng gây bệnh TCM trong nhóm này gồm vi rút Coxsackies, Echo và các vi rút đường ruột khác. Các vi rút đường ruột týp 71 (EV71) và Coxsackies A16. Coxsackie Al6 (Cox A16) là một tác nhân gây bệnh thường xuyên gặp phải trong các trường hợp TCM và biểu hiện lâm sang thường nhẹ và có thể hoàn toàn hồi phục. Trường hợp tử vong của nhiễm trùng Cox A16 là rất hiếm.
Vi rút EV 71 có thể gây ra các biến chứng nặng và dẫn đến tử vong. Các vi rút đường ruột khác thường gây bệnh nhẹ. Vi rút có thể tồn tại nhiều ngày ở điều kiện bình thường và nhiều tuần ở nhiệt độ 4°c. Tia cực tím, nhiệt độ cao, các chất diệt trùng như 5 formaldehyt, các dung dịch khử trùng có chứa Clo hoạt tính có thể diệt vi rút [2], [29], [30], 1.
Nguồn bệnh, thời kỳ ủ bệnh và thời kỳ lây truyền - Nguồn bệnh: là người mắc bệnh, người mang vi rút không triệu chứng. - Thời kỳ ủ bệnh: từ 3 đến 7 ngày - Thời kỳ lây truyền: vài ngày trước khi phát bệnh, mạnh nhất trong tuần đầu của bệnh và có thể kéo dài vài tuần sau đó, thậm chí sau khi bệnh nhân hết triệu chứng. Vi rút có khả năng đào thải qua phân trong vòng từ 2 đến 4 tuần, cá biệt có thể tới 12 tuần sau khi nhiễm. Vi rút tồn tại, nhân lên ở đường hô hấp trên và đào thải dịch tiết từ hầu họng trong vòng 2 tuần.
Vi rút cũng có nhiều trong dịch tiết từ các nốt phỏng nước, vết loét của bệnh nhân [2], [21], 1. Đường lây truyền Bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa: thức ăn, nước uống, bàn tay của trẻ hoặc người chăm sóc trẻ, các đồ dùng, đặc biệt là đồ chơi và vật dụng sinh hoạt hàng ngày như chén, bát, đĩa, thìa, cốc bị nhiễm vi rút từ phân hoặc dịch nốt phòng, vết loét hoặc dịch tiết đường hô hấp, nước bọt. Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây truyền do tiếp xúc trực tiếp người - người qua các dịch tiết đường hô hấp, hạt nước bọt, một số yếu tố có thể làm gia tăng sự lây truyền và bùng phát dịch bao gồm: mật độ dân số cao, sống chật chội, điều kiện vệ sinh kém, thiếu nhà vệ sinh, thiếu hoặc không có nước sạch phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày [2]. Đặc điêm vê tuôỉ măc bệnh Bệnh TCM chủ yếu lây nhiễm trẻ em dưới 05 tuổi, nhưng trẻ lớn và người lớn cũng có thể mắc bệnh [2].
Những người bị bệnh TCM phát triển miễn dịch đối với loại virus mà họ từng mắc. Tuy nhiên, bởi vì bệnh TCM có thể được gây ra bởi các loại virus khác nhau, mọi người có thể mắc bệnh một lần nữa nếu họ bị nhiễm bởi một virus khác gây bệnh TCM [20], [32], [35]. Trẻ em từ 1 đến 3 tuổi là đối tượng dễ bị mắc bệnh tay chân miệng, có nguy cơ mắc 2,3 lần so với nhóm khác. Trẻ sơ sinh có tỷ lệ mắc bệnh nặng cao nhất [39].
Đặc điểm mắc bệnh theo giới tỉnh Có sự chênh lệch tỷ lệ mắc bệnh TCM giữa nam và nữ. Theo một nghiên cứu ở Trung Quốc trong 2 năm 2008 - 2009, tỷ chênh giữa nam và nữ là 1,56 [39]. Trong một nghiên cứu dịch tễ học ở Singapore, tỷ lệ này là 1,3 [37]. Ở Việt Nam, theo nghiên cứu tại các tỉnh phía Nam cũng cho thấy bệnh tay chân miệng xảy ra nhiều ở nam (61,43%) [12].
Phân bố theo khí hậu Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khí hậu ảnh hưởng đến việc lây lan bệnh tay chân miệng. Bệnh TCM tăng nhanh vào mùa hè và mùa thu [19], [35]. Đài Loan và Malaysia có sự lưu hành bệnh cao từ tháng 3 đến tháng 7. Ở Việt Nam, ở các tỉnh miền Nam, năm 2008, bệnh TCM xảy ra ở khu vực phía Nam theo 2 mùa rõ rệt từ tháng 4 đến tháng 7 và từ tháng 9 đến tháng 11.
Nhưng từ năm 2009 đến 2010, bệnh TCM chỉ lưu hành ở mức cao từ tháng 9 đến tháng 11 hàng năm [12]. Bên cạnh đó, nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển của bệnh TCM. Một nghiên cứu ở Nhật Bản từ năm 2000 - 2010 cho thấy nhiệt độ trung bình tăng l°c, số lượng trường họp mắc bệnh TCM hàng tuần tăng 11,2% (95% CI: 3,2 - 19,8) và tăng 4,7 % (95% CI: 2,4 - 7,2) tương ứng với gia tăng 1% độ ẩm [36]. Một nghiên cứu khác cho thấy rõ hơn mối quan hệ này.
Nghiên cứu ở Singapore từ năm 2001 - 2008 cho thấy sự thay đổi ngắn về nhiệt độ và lượng mưa hàng tuần ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc bệnh TCM tại khoảng thời gian 1-2 tuần. Mối quan hệ ngược nhau được thiết lập giữa tỷ lệ mắc bệnh TCM và nhiệt độ tối thiểu. Tuy nhiên, moi 1 0 tăng ở mức tối đa trên 32 0 c và chênh lệch nhiệt độ lớn hơn 7 0 c tăng nguy cơ mắc bệnh TCM lên 45% và 48%. Đồng thời, lượng mưa hàng tuần từ 0 đến 75 mm cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh TCM [25], 1.
Tính cảm nhiễm và mien dịch Sau khi mắc bệnh, trẻ em có thể có miễn dịch đặc hiệu với chủng vi rút đã bị nhiễm, nhung không có miễn dịch với những chủng vi rút khác. Trẻ sơ sinh có kháng thể do mẹ truyền và giảm nhanh sau khi sinh khoảng 1 tháng. Miễn dịch tạo 7 ra từ những lần phơi nhiễm trước riêng biệt với mỗi loại vi rút, nhưng vẫn có thể bị nhiễm với chủng loại vi rút khác. Hiện nay chưa có vắc xin phòng bệnh, nhìn chung trẻ mắc bệnh TCM điển hình ở thể nhẹ và tự khỏi.
Thời gian tự khỏi thường là dưới 10 ngày. Ngoài ra hầu hết người đến tuổi trưởng thành có miễn dịch bền vững và không bị mắc bệnh trở lại. Phương pháp phòng bệnh 1. Định nghĩa dịch Mặc dù ở các nước khác nhau tiêu chuẩn được sử dụng để xác định một vụ dịch TCM là khác nhau, song cần lưu ý rằng các định nghĩa này thường đóng vai trò thúc đẩy việc thực thi các biện pháp y tế công cộng.
Tiêu chuẩn thường dùng để xác định vụ dịch là khi sổ lượng ca bệnh đạt tới 2 độ lệch chuẩn so với mức cơ bản. Một chùm ca bệnh được xác định khi hai hay nhiều ca bệnh xảy ra trong một đơn vị/tổ chức/cơ quan (trường học/nơi làm việc), trong đó có sự lan truyền dịch giữa các cá thể trong nhóm/quần thể đó [40], Tại Việt Nam, theo định nghĩa của Bộ Y tế, một nơi được gọi là 0 dịch khi có từ 2 ca lâm sàng trở lên (trong đó có ít nhất 1 ca được phòng xét nghiệm dương tính) trong vòng thời gian 7 ngày [2]. Phương pháp phòng bệnh TCM trên thế giới Hiện nay bệnh TCM chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu điều trị bệnh TCM, bệnh lây chủ yếu qua tiếp xúc với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng, phân nhiễm vi rút. Do đó nguyên tắc phòng bệnh quan trọng chủ yếu hiện nay trên thế giới là làm gián đoạn sự lan truyền của virus để ngăn ngừa bệnh nặng và giảm thiểu tối ưu trường hợp tử vong thông qua các hoạt động như: Phát hiện sớm và điều trị sớm các trường hợp bệnh có nguy cơ phát triển bệnh nặng [40].
Năm 2011, Tổ chức Y tế thế giới đã ban hành hướng dẫn về quản lý lâm sàng và đáp ứng y tế công cộng về phòng chống bệnh TCM. Các phương pháp phòng chổng bệnh TCM được WHO khuyến cáo là: Thiết lập và tăng cường hệ thống giám sát; tiến hành các chiến dịch truyền thông về vệ sinh tốt và vệ sinh cơ 8 bản, hỗ trợ trường mẫu giáo, mầm non, cơ sở chăm sóc ban ngày, trường học trong vụ dịch; tăng cường các biện pháp kiểm soát nhiễm trùng ở cả 2 tuyến chăm sóc: y tế và cộng đồng; cải thiện dịch vụ quản lý các trường hợp lâm sàng, đặc biệt các trường họp có biểu hiện nghiêm trọng yêu cầu chăm sóc y tế chuyên sâu; trao đổi thông tin và phổ biến kinh nghiệm để chuẩn bị, đáp ứng và quản lý tốt bệnh TCM, đặc biệt là trong thời gian bùng phát dịch; cải thiện hệ thống hành chính cho các cơ quan chính phủ, các đơn vị thực hiện phòng ngừa và kiểm soát; Giám sát và đánh giá tình hình dịch bệnh [40]. Một sổ can thiệp hiệu quả về phòng bệnh TCM Tại Hồng Kông, Trung Quốc, các biện pháp hiệu quả đã được tiến hành để kiểm soát dịch TCM như đóng cửa trường học, tiến hành chiến dịch vệ sinh (vệ sinh môi trường, thân thể, dụng cụ, các vật dụng tiếp xúc). Họ đã tiến hành nghiên cứu đánh giá về hiệu quả của các can thiệp Y tế công cộng (bao gồm hoạt động đóng cửa trường học và chiến dịch vệ sinh) trong năm 2003 và 2009.
Ket quả phân tích sử dụng mô hình hồi qui dự đoán cho thấy: Các biện pháp Y tế Công cộng có hiệu quả trong việc giúp làm giảm số ca mắc TCM, các biện pháp Y tế Công cộng trong năm 2003 giúp giảm nguy cơ mắc TCM là 57,2% (95%CI: 53%-60,7%); trong năm 2009 các biện pháp giúp giảm nguy cơ mắc 26,7% (95%CI: 19,5%-32,7%) [30].