Tổng quan nghiên cứu

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 70% dân số toàn cầu tại các quốc gia đang phát triển phụ thuộc vào các nguồn dược liệu tự nhiên trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu. Tại Việt Nam, hệ thực vật rừng nhiệt đới phong phú với hàng nghìn loài cây thuốc gắn liền mật thiết với đời sống của các cộng đồng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, tình trạng biến đổi sinh thái, suy thoái rừng tự nhiên và xu hướng đô thị hóa đang đe dọa nghiêm trọng đến nguồn gen cây thuốc quý và làm mai một kho tàng tri thức y học dân gian.

Vườn quốc gia Bù Gia Mập có tổng diện tích 25.788,8 ha, nằm trong vùng chuyển tiếp sinh thái giữa Nam Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Đây là nơi lưu giữ diện tích rừng tự nhiên lớn nhất tỉnh Bình Phước cùng độ đa dạng sinh học cao. Khu vực vùng đệm, đặc biệt là xã Bù Gia Mập với 1.355 hộ dân và tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 73,3% (1.372 nhân khẩu thuộc 17 thành phần dân tộc), sở hữu bề dày kinh nghiệm sử dụng thực vật rừng làm dược liệu.

Nghiên cứu được triển khai nhằm mục tiêu điều tra, hệ thống hóa danh lục các loài cây thuốc, đồng thời tư liệu hóa toàn diện kiến thức bản địa của 5 cộng đồng dân tộc thiểu số gồm S'tiêng, M'nông, Dao, Tày và Cao Lan sinh sống tại vùng đệm Vườn quốc gia Bù Gia Mập. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian quản lý của Trạm Kiểm lâm số 1 với diện tích 2.652,37 ha cùng Vườn sưu tập thực vật và các thôn bản lân cận, được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2022. Đề tài cung cấp cơ sở khoa học xác thực giúp bảo tồn nguồn gen 68 loài cây thuốc đặc hữu, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và đề xuất định hướng phát triển sinh kế bền vững dưới tán rừng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết tri thức bản địa của các nhà nghiên cứu dân tộc học thực vật trên thế giới, tiêu biểu như khung phân tích của D.Warren và Louise Grenier. Lý thuyết này khẳng định tri thức bản địa là hệ thống tri thức thực nghiệm được tích lũy, hoàn thiện qua nhiều thế hệ thích ứng với môi trường tự nhiên đặc thù. Song song đó, đề tài kết hợp lý thuyết quản lý tài nguyên rừng bền vững và bảo tồn lâm sản ngoài gỗ, đặt mối quan hệ giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển cộng đồng làm trọng tâm.

Bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  • Cây thuốc: Những loài thực vật chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học được sử dụng nhằm mục đích phòng ngừa, thuyên giảm hoặc điều trị bệnh tật ở người và vật nuôi.
  • Tài nguyên cây thuốc: Một dạng tài nguyên sinh vật đặc thù có thể tái sinh, cấu thành bởi hai yếu tố không thể tách rời là thực thể sinh học (cây cỏ) và giá trị phi vật thể (tri thức sử dụng).
  • Tri thức bản địa về dược liệu: Tổng hợp kinh nghiệm nhận biết, kỹ thuật thu hái, phương pháp chế biến, bảo quản và các bài thuốc phối ngũ dân gian của cộng đồng địa phương.
  • Vùng đệm vườn quốc gia: Khu vực địa lý bao quanh ranh giới bảo tồn nghiêm ngặt, có chức năng giảm thiểu áp lực xâm hại từ con người vào phân khu bảo vệ sinh thái của rừng đặc dụng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tích hợp đồng bộ các phương pháp tiếp cận đa ngành giữa lâm học, thực vật học và nhân học sinh thái:

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phương pháp điều tra thực địa theo tuyến kết hợp phỏng vấn sâu nhân học. Cỡ mẫu phỏng vấn gồm 35 cá nhân am hiểu sâu về dược liệu, bao gồm các già làng, trưởng thôn, thầy lang và những người cao tuổi giàu kinh nghiệm thuộc 5 dân tộc S'tiêng, M'nông, Tày, Dao, Cao Lan. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm đảm bảo tính chuẩn xác và chiều sâu của thông tin bản địa.

Điều tra ngoại nghiệp thiết lập 5 tuyến khảo sát thực địa cắt ngang các dạng sinh cảnh rừng tiêu biểu, có chiều dài dao động từ 1,8 km đến 3,2 km, chiều rộng mỗi tuyến 15 m. Toàn bộ vị trí phân bố của các loài cây thuốc được xác định tọa độ chính xác bằng máy định vị GPS.

Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu nội nghiệp sử dụng kỹ thuật giám định hình thái học so sánh, đối chiếu với các bộ khóa phân loại chuẩn mực của Giáo sư Đỗ Tất Lợi, Giáo sư Võ Văn Chi và Giáo sư Phạm Hoàng Hộ. Danh lục thực vật được sắp xếp khoa học theo hệ thống phân loại Takhtajan năm 2009. Các số liệu thống kê được tổng hợp và phân tích tỷ lệ phần trăm theo sinh cảnh, đai cao, dạng sống và bộ phận sử dụng trong mốc thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã phát hiện và lập danh lục chi tiết 68 loài thực vật có giá trị làm thuốc thuộc hơn 20 họ thực vật bậc cao có mạch. Các họ có số lượng loài phong phú nhất gồm họ Cúc (Asteraceae) với 9 loài, họ Bạc hà (Lamiaceae) với 6 loài, họ Cà (Solanaceae) với 5 loài, họ Đậu (Fabaceae) với 5 loài và họ Hòa thảo (Poaceae) với 5 loài.

Về cấu trúc dạng sống, dạng thân thảo chiếm tỷ lệ vượt trội với 41,2% tổng số loài (28 loài), tiếp đến là dạng cây bụi chiếm 26,5% (18 loài), dạng cây thân gỗ chiếm 19,1% (13 loài) và dạng dây leo chiếm 13,2% (9 loài). Dữ liệu này phản ánh sự thích nghi sinh thái mạnh mẽ của thảm thực vật tầng dưới trong các kiểu rừng nhiệt đới gió mùa tại khu vực.

Về bộ phận sử dụng làm thuốc, tri thức bản địa ghi nhận sự phân bổ đa dạng: việc sử dụng toàn cây chiếm tỷ lệ cao nhất với 38,2% (26 loài), sử dụng lá chiếm 23,5% (16 loài), sử dụng rễ và củ chiếm 20,6% (14 loài), phần quả, hạt và vỏ thân chiếm 17,7% (12 loài).

Kho tàng bài thuốc dân gian của 5 dân tộc tại khu vực điều trị hiệu quả hơn 15 nhóm bệnh tật. Trong đó, nhóm bệnh về tiêu hóa, xương khớp, cảm mạo và gan mật chiếm tần suất sử dụng cao nhất. Đáng chú ý, có sự khác biệt rõ rệt về phương thức chế biến: người S'tiêng và M'nông chủ yếu sử dụng cây tươi giã nát đắp ngoài da hoặc vắt nước uống trực tiếp đơn phương; trong khi người Tày, Dao và Cao Lan có kỹ thuật phối ngũ phức tạp hơn, thường phơi khô, sao vàng hạ thổ, sắc nước uống hoặc nấu cao và ngâm rượu trị liệu dài ngày.

Thảo luận kết quả

Sự suy thoái nguồn tài nguyên cây thuốc tại địa bàn chịu tác động cộng hưởng từ các yếu tố tự nhiên và nhân sinh. Về mặt tự nhiên, chế độ khí hậu có nền nhiệt trung bình 25,7°C với lượng mưa phân bổ không đều (87% lượng mưa tập trung vào các tháng mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10) khiến mùa khô kéo dài gây cạn kiệt nguồn nước ở các khe suối, làm tăng nguy cơ cháy rừng trên 318,15 ha rừng lồ ô thuần loài và 110,4 ha rừng tre nứa. Về mặt xã hội, hoạt động khai thác lâm sản quá mức cùng sự tiếp cận nhanh chóng của tân dược khiến thế hệ trẻ ít mặn mà với việc kế thừa các bài thuốc gia truyền.

So sánh với các công trình tại khu vực lân cận, tính đa dạng của cây thuốc tại Bù Gia Mập mang nét đặc trưng của hệ sinh thái chuyển tiếp Nam Tây Nguyên - Đông Nam Bộ ở đai cao từ 150 m đến 725 m. Tương tự như nghiên cứu của các tác giả tại Vườn quốc gia Kon Ka Kinh (ghi nhận 82 loài lâm sản ngoài gỗ) hay Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Ông (ghi nhận 158 loài cây thuốc của người Chăm và K'Ho), nhóm bệnh tiêu hóa và xương khớp luôn là nhóm bệnh được chữa trị nhiều nhất bằng cây thuốc bản địa do đặc thù lao động nương rẫy vùng cao.

Để tối ưu hóa việc trực quan hóa dữ liệu nghiên cứu, các kết quả phân tích có thể được mô hình hóa thành biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ % các dạng sống thực vật, biểu đồ cột so sánh tương quan số lượng bài thuốc giữa 5 dân tộc thiểu số, cùng bảng ma trận phân bố loài theo 5 tuyến điều tra địa hình nhằm phục vụ công tác giám sát sinh thái dài hạn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả điều tra thực tế, đề tài đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính chiến lược và khả thi cao:

  1. Thiết lập 03 phân khu bảo tồn nguyên vị (In-situ): Ban quản lý Vườn quốc gia Bù Gia Mập cần chủ trì khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt các dải rừng giàu dược liệu trên diện tích 2.652,37 ha thuộc phạm vi Trạm Kiểm lâm số 1, đặt mục tiêu giảm thiểu 50% các vụ vi phạm khai thác lâm sản ngoài gỗ trái phép trước năm 2025.
  2. Nâng cấp vườn sưu tập và bảo tồn chuyển vị (Ex-situ): Phối hợp cùng Phân hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp nhân giống, di thực bổ sung từ 50 loài hiện có lên ít nhất 150 loài cây thuốc bản địa có giá trị kinh tế và bảo tồn cao vào Vườn sưu tập thực vật trong giai đoạn 2023–2026.
  3. Số hóa và tư liệu hóa 100% kho tàng bài thuốc gia truyền: Ủy ban nhân dân huyện Bù Gia Mập phối hợp cùng Trạm Y tế xã và Hội Đông y tiến hành lập hồ sơ khoa học, đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cộng đồng cho toàn bộ các bài thuốc bí truyền của đồng bào S'tiêng, M'nông, Tày, Dao, Cao Lan trước quý 4 năm 2024.
  4. Triển khai mô hình trồng cây thuốc thương phẩm dưới tán rừng: Thực hiện giao khoán 500 ha diện tích rừng sản xuất và đất lâm nghiệp cho 1.355 hộ dân vùng đệm canh tác các loài dược liệu có thị trường tiêu thụ mạnh như Cà gai leo, Khổ sâm, Bá bệnh, Kim tiền thảo, mục tiêu nâng cao thu nhập của các hộ gia đình nhận khoán thêm 30% đến 40% vào năm 2027 theo cơ chế của Quyết định 24/2012/QĐ-TTg.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên sâu và hữu ích cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

  • Cán bộ quản lý bảo tồn thiên nhiên và lực lượng kiểm lâm: Cung cấp cơ sở dữ liệu số học về 68 loài thực vật cùng bản đồ tọa độ 5 tuyến điều tra, hỗ trợ đắc lực cho công tác tuần tra, quy hoạch phân khu bảo tồn và phòng cháy chữa cháy rừng trên diện tích 2.652,37 ha rừng tự nhiên.
  • Các nhà nghiên cứu dược học, thực vật học và dân tộc học: Cung cấp nguồn tư liệu thực chứng về danh tính học thực vật, thành phần hóa sinh tiềm năng từ các họ Asteraceae, Fabaceae, Lamiaceae và phương pháp chữa trị 15 nhóm bệnh làm tiền đề cho việc sàng lọc hoạt chất làm thuốc mới.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách địa phương: Sử dụng các chỉ số dân sinh kinh tế của 1.355 hộ dân với 73,3% đồng bào dân tộc thiểu số tại xã Bù Gia Mập để xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển sinh kế bền vững và y tế cộng đồng vùng sâu vùng xa.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý tài nguyên rừng: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh về điều tra thực vật học dân tộc (Ethnobotany), quy trình lập tuyến khảo sát sinh cảnh và kỹ thuật phân tích taxon theo hệ thống Takhtajan.

Câu hỏi thường gặp

Giá trị khoa học nổi bật của đề tài nghiên cứu là gì? Đề tài là công trình đầu tiên hệ thống hóa toàn diện danh lục 68 loài cây thuốc thuộc hơn 20 họ thực vật tại vùng đệm Vườn quốc gia Bù Gia Mập, đồng thời tư liệu hóa chuẩn xác kinh nghiệm sử dụng dược liệu của 5 dân tộc thiểu số sống tại địa phương.

Những bộ phận nào của cây thuốc được người dân thu hái phổ biến nhất? Kết quả khảo sát cho thấy việc sử dụng toàn cây chiếm tỷ lệ cao nhất với 38,2%, tiếp theo là lá cây với 23,5%, rễ và củ chiếm 20,6%, phần quả và vỏ thân chiếm 17,7% tổng số loài được ghi nhận trong danh lục.

Phương pháp chọn mẫu điều tra của nghiên cứu có đảm bảo tính đại diện không? Đề tài kết hợp đồng thời 5 tuyến khảo sát thực địa dài từ 1,8 km đến 3,2 km đại diện cho các sinh cảnh đồi núi chuyển tiếp và phỏng vấn sâu 35 chuyên gia bản địa gồm già làng, thầy lang và người cao tuổi am hiểu sâu về cây thuốc.

Điểm khác biệt trong cách dùng cây thuốc giữa các dân tộc là gì? Người S'tiêng và M'nông chủ yếu dùng cây thuốc tươi giã nát đắp trực tiếp hoặc vắt nước uống đơn phương, trong khi người Dao, Tày, Cao Lan thường có kỹ thuật phức tạp hơn qua phơi khô, nấu cao, ngâm rượu và phối ngũ nhiều vị thuốc.

Làm thế nào để phát triển kinh tế cho người dân vùng đệm từ cây thuốc? Thông qua chính sách giao khoán quản lý bảo vệ 2.652,37 ha rừng và quy hoạch 500 ha vùng trồng dược liệu bản địa dưới tán rừng theo Quyết định 24/2012/QĐ-TTg, giúp người dân tăng thu nhập từ 30% đến 40% mỗi năm.

Kết luận

  • Đề tài đã điều tra và xác lập danh lục khoa học gồm 68 loài cây thuốc thuộc hơn 20 họ thực vật bậc cao có mạch tại vùng đệm Vườn quốc gia Bù Gia Mập.
  • Tư liệu hóa thành công kho tàng tri thức bản địa phong phú của 5 cộng đồng dân tộc thiểu số gồm S'tiêng, M'nông, Tày, Dao và Cao Lan trong điều trị 15 nhóm bệnh.
  • Phân tích chi tiết đặc điểm phân bố của các loài cây thuốc theo 4 dạng sống chính và các sinh cảnh rừng nhiệt đới ở đai cao từ 150 m đến 725 m.
  • Làm rõ các nguyên nhân gây suy giảm nguồn gen cây thuốc và nguy cơ thất truyền tri thức y học cổ truyền tại địa bàn nghiên cứu.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ kết hợp giữa bảo tồn nguyên vị, bảo tồn chuyển vị và phát triển mô hình kinh tế dược liệu dưới tán rừng.

Đóng góp chính của luận văn là xây dựng bộ dữ liệu khoa học thực chứng đầu tiên kết nối giữa bảo tồn sinh học và bảo tồn tri thức nhân văn tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập. Trong giai đoạn 2023–2026, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng triển khai số hóa dược điển địa phương và nhân rộng mô hình vườn ươm giống cây thuốc. Việc chung tay giữa các nhà khoa học, chính quyền và cộng đồng bản địa là chìa khóa then chốt để gìn giữ bền vững nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ vô giá này.