Nghiên Cứu Kiến Thức Bản Địa Về Sử Dụng Cây Thuốc Của Cộng Đồng Tại Vườn Quốc Gia Bù Gia Mập

Chuyên khảo phân tích Nghiên cứu kiến thức bản địa về sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng dân cư sống tại vùng đệm, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2022

129
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu

1.2. Tình hình nghiên cứu về cây thuốc

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.2. Mục tiêu nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.2. Vị trí địa lý, phạm vi nghiên cứu

3.3. Khí hậu, thủy văn

3.4. Đặc điểm kinh tế, xã hội

3.5. Những thuận lợi, khó khăn

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Kiến Thức Bản Địa Về Cây Thuốc Bù Gia Mập

Việt Nam, với khí hậu nhiệt đới, sở hữu sự đa dạng sinh học phong phú, đặc biệt là các loài cây thuốc. Tuy nhiên, diện tích rừng suy giảm đe dọa sự tồn tại của các loài cây này, kéo theo sự mai một của kiến thức bản địa về sử dụng dược liệu. Nghiên cứu về cây thuốc không chỉ bảo tồn đa dạng sinh học mà còn bảo tồn văn hóa bản địa. Vườn quốc gia Bù Gia Mập, khu vực chuyển tiếp giữa cao nguyên và đồng bằng, là nơi lưu giữ diện tích rừng lớn nhất tỉnh Bình Phước, có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn hệ sinh thái và nguồn gen quý hiếm. Nghiên cứu này tập trung vào kiến thức bản địa về sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân cư sống tại vùng đệm Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của cây thuốc bản địa

Cây thuốc được lựa chọn dựa trên nhiều yếu tố như màu sắc, mùi vị, hình dạng và độ hiếm. Việc sử dụng cây thuốc là một quá trình học hỏi và tích lũy kinh nghiệm qua nhiều thế hệ. Các bằng chứng khảo cổ cho thấy người Neanderthal đã biết sử dụng cây thuốc từ 60.000 năm trước. Tài nguyên cây thuốc là một dạng đặc biệt của tài nguyên sinh vật, bao gồm cả cây thuốctri thức bản địa về sử dụng chúng. Việc bảo tồn tài nguyên cây thuốc có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và duy trì văn hóa bản địa.

1.2. Tri thức bản địa về cây thuốc Định nghĩa và vai trò

Tri thức bản địa là hệ thống kiến thức và kinh nghiệm được phát triển qua nhiều thế hệ trong một nền văn hóa cụ thể. Tri thức bản địa về cây thuốc bao gồm kiến thức về đặc điểm nhận dạng, công dụng, cách sử dụng và bảo quản cây thuốc. Tri thức bản địa đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển dược liệu và nâng cao sức khỏe cộng đồng. D.Warren định nghĩa: “Tri thức bản địa là những hệ thống tri thức và thực nghiệm được phát triển qua nhiều thế hệ trong một lĩnh vực cụ thể tới một nền văn hóa chuyên biệt”.

II. Thách Thức Bảo Tồn Kiến Thức Bản Địa Về Cây Thuốc Bù Gia Mập

Tình trạng khai thác và mua bán các sản phẩm từ rừng diễn ra phức tạp, dẫn đến suy giảm tài nguyên cây thuốc. Các bài thuốc dân gian chưa được tư liệu hóa, gây khó khăn cho việc duy trì, bảo tồn và phát triển. Sự thay đổi lối sống và tiếp cận với y học hiện đại cũng ảnh hưởng đến việc sử dụng cây thuốc truyền thống. Cần có các giải pháp đồng bộ để bảo tồn kiến thức bản địa về cây thuốc và phát huy giá trị của dược liệu trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

2.1. Suy giảm tài nguyên cây thuốc Nguyên nhân và hậu quả

Khai thác quá mức, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và biến đổi khí hậu là những nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm tài nguyên cây thuốc. Hậu quả là mất đi nguồn dược liệu quý giá, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và làm mai một văn hóa bản địa. Cần có các biện pháp quản lý và bảo vệ rừng hiệu quả để ngăn chặn tình trạng này.

2.2. Mai một tri thức bản địa Yếu tố tác động và giải pháp

Sự thay đổi lối sống, tiếp cận với y học hiện đại và thiếu sự quan tâm của thế hệ trẻ là những yếu tố tác động đến sự mai một của tri thức bản địa. Cần có các chương trình giáo dục, truyền thông và hỗ trợ cộng đồng để bảo tồn và phát huy tri thức bản địa về cây thuốc. Việc tư liệu hóa các bài thuốc dân gian cũng là một giải pháp quan trọng.

2.3. Thiếu hụt nguồn lực cho bảo tồn và phát triển cây thuốc

Nguồn lực tài chính, nhân lực và kỹ thuật cho công tác bảo tồn và phát triển cây thuốc còn hạn chế. Cần có sự đầu tư và hỗ trợ từ nhà nước, các tổ chức và cộng đồng để nâng cao năng lực bảo tồn và phát triển dược liệu bền vững. Việc hợp tác quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc chia sẻ kinh nghiệm và nguồn lực.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Kiến Thức Bản Địa Về Cây Thuốc

Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp định tính và định lượng để thu thập và phân tích dữ liệu. Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng để thu thập kiến thức bản địa từ người dân địa phương. Phương pháp điều tra thực địa được sử dụng để xác định và thu thập mẫu cây thuốc. Dữ liệu được phân tích bằng các phần mềm thống kê và phương pháp phân tích nội dung để đưa ra các kết luận khoa học.

3.1. Phỏng vấn sâu cộng đồng Thu thập tri thức bản địa

Phỏng vấn sâu là phương pháp quan trọng để thu thập tri thức bản địa về cây thuốc. Người được phỏng vấn là những người có kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong cộng đồng, bao gồm thầy thuốc, người lớn tuổi và những người có kiến thức chuyên sâu về dược liệu. Câu hỏi phỏng vấn tập trung vào các khía cạnh như tên gọi, đặc điểm nhận dạng, công dụng, cách sử dụng và bảo quản cây thuốc.

3.2. Điều tra thực địa Xác định và thu thập mẫu cây thuốc

Điều tra thực địa được thực hiện để xác định và thu thập mẫu cây thuốc trong khu vực nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu phối hợp với người dân địa phương để xác định vị trí phân bố của cây thuốc và thu thập mẫu để phân tích. Mẫu cây thuốc được định danh khoa học và lưu trữ tại các phòng thí nghiệm.

3.3. Phân tích dữ liệu Đánh giá và hệ thống hóa thông tin

Dữ liệu thu thập được từ phỏng vấn sâu và điều tra thực địa được phân tích bằng các phần mềm thống kê và phương pháp phân tích nội dung. Mục tiêu là đánh giá mức độ sử dụng cây thuốc, xác định các loài cây thuốc quan trọng và hệ thống hóa tri thức bản địa về cây thuốc. Kết quả phân tích được sử dụng để đưa ra các khuyến nghị về bảo tồn và phát triển dược liệu.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Kiến Thức Bản Địa Về Cây Thuốc Bù Gia Mập

Nghiên cứu đã xác định được danh lục các loài thực vật có giá trị làm thuốc tại khu vực nghiên cứu. Các loài cây thuốc được sử dụng bởi cộng đồng dân tộc S'tiêng, M'nông, Dao, Tày, Cao Lan rất đa dạng. Nghiên cứu cũng ghi nhận kiến thức bản địa về sử dụng bộ phận cây thuốc, thời vụ thu hái và phương thức sử dụng cây thuốc.

4.1. Danh lục cây thuốc Đa dạng loài và phân bố

Nghiên cứu đã lập danh lục các loài cây thuốc được sử dụng bởi cộng đồng dân cư tại vùng đệm Vườn quốc gia Bù Gia Mập. Danh lục bao gồm tên khoa học, tên địa phương, đặc điểm nhận dạng và công dụng của từng loài cây thuốc. Nghiên cứu cũng xác định khu vực phân bố của các loài cây thuốc trong khu vực nghiên cứu.

4.2. Kiến thức sử dụng cây thuốc Bộ phận thời vụ phương thức

Nghiên cứu ghi nhận kiến thức bản địa về sử dụng bộ phận cây thuốc (rễ, thân, lá, hoa, quả), thời vụ thu hái và phương thức sử dụng (sắc, hãm, ngâm, đắp). Kiến thức này được truyền lại từ đời này sang đời khác và đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

4.3. Bài thuốc dân gian Công thức và ứng dụng điều trị

Nghiên cứu thu thập các bài thuốc dân gian được sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau. Các bài thuốc này thường kết hợp nhiều loại cây thuốc khác nhau và có công thức riêng biệt. Nghiên cứu cũng ghi nhận ứng dụng của các bài thuốc dân gian trong điều trị các bệnh thông thường và bệnh mãn tính.

V. Giải Pháp Bảo Tồn và Phát Triển Kiến Thức Bản Địa Bù Gia Mập

Cần có các giải pháp đồng bộ để bảo tồn và phát triển kiến thức bản địa về cây thuốc. Các giải pháp bao gồm: tăng cường giáo dục và truyền thông, hỗ trợ cộng đồng bảo tồn cây thuốc, tư liệu hóa các bài thuốc dân gian và phát triển du lịch sinh thái gắn với cây thuốc.

5.1. Giáo dục và truyền thông Nâng cao nhận thức cộng đồng

Tăng cường giáo dục và truyền thông về giá trị của cây thuốctri thức bản địa cho cộng đồng. Tổ chức các lớp học, hội thảo và các hoạt động ngoại khóa để truyền đạt kiến thức về cây thuốc cho thế hệ trẻ. Sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng để nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo tồn cây thuốc.

5.2. Hỗ trợ cộng đồng Bảo tồn và phát triển cây thuốc

Hỗ trợ cộng đồng bảo tồn và phát triển cây thuốc thông qua các dự án trồng cây thuốc, xây dựng vườn cây thuốc mẫu và hỗ trợ kỹ thuật cho người dân. Khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động bảo tồn cây thuốc và chia sẻ kiến thức bản địa.

5.3. Tư liệu hóa bài thuốc Lưu giữ và phát huy giá trị

Tư liệu hóa các bài thuốc dân gian bằng cách ghi chép, chụp ảnh và quay video. Xây dựng cơ sở dữ liệu về cây thuốc và bài thuốc dân gian để lưu giữ và chia sẻ thông tin. Tổ chức các hội thảo khoa học để trao đổi kinh nghiệm và phát huy giá trị của các bài thuốc dân gian.

VI. Kết Luận và Kiến Nghị Về Nghiên Cứu Cây Thuốc Bù Gia Mập

Nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ kiến thức bản địa về cây thuốc của cộng đồng dân cư sống tại vùng đệm Vườn quốc gia Bù Gia Mập. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, phát triển dược liệu và nâng cao sức khỏe cộng đồng. Cần có sự quan tâm và đầu tư hơn nữa cho công tác nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập.

6.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu và ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu đã xác định được danh lục các loài cây thuốc quan trọng, ghi nhận kiến thức bản địa về sử dụng cây thuốc và đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển dược liệu. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chính sách và chương trình bảo tồn cây thuốc và phát triển dược liệu bền vững.

6.2. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu còn một số hạn chế như phạm vi nghiên cứu hẹp, chưa đánh giá được tác dụng dược lý của các loài cây thuốc và chưa phân tích được thành phần hóa học của các bài thuốc dân gian. Hướng nghiên cứu tiếp theo là mở rộng phạm vi nghiên cứu, đánh giá tác dụng dược lý và phân tích thành phần hóa học của các loài cây thuốc.

6.3. Kiến nghị cho công tác bảo tồn và phát triển cây thuốc

Kiến nghị nhà nước tăng cường đầu tư cho công tác nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc, xây dựng các chính sách hỗ trợ cộng đồng bảo tồn cây thuốc và phát triển dược liệu bền vững. Kiến nghị các tổ chức và cộng đồng tham gia vào các hoạt động bảo tồn cây thuốc và chia sẻ kiến thức bản địa.

05/06/2025
Nghiên cứu kiến thức bản địa về sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng dân cư sống tại vùng đệm vườn quốc gia bù gia mập tỉnh bình phước

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu Khái niệm cây cỏ làm thuốc Cây cỏ làm thuốc được lựa chọn dựa trên màu sắc, mùi, vị, hình dạng hay sự hiếm có của chúng. Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc là quá trình mò mẫm học tập trải qua nhiều thế hệ. Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000 năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay vẫn thấy sử dụng trong Y học cổ truyền như Cỏ thi (Achillea millefolium), Cúc bạc… Người dân bản xứ Mexico từ nhiều nghìn năm trước đã biết sử dụng Xương rồng Mexico mà ngày nay được biết là chứa chất gây ảo giác, kháng sinh.

Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi chép trong khoảng thời gian 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc trong đó có Lô hội (Aloe vera), Gai dầu (Cannabis sativa)…; người Trung Quốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông Bản thảo trong khoảng thời gian gần 5.0 năm trước đây với 365 vị thuốc; người Ấn Độ cổ đại đã ghi chép nền y học của người Hindu khoảng 2.000 năm trước, trong đó có các loài cây cỏ gây ngủ, ảo giác, chữa rắn cắn…[3] Khái niệm tài nguyên cây thuốc Tài nguyên cây thuốc là một dạng đặc biệt của tài nguyên sinh vật, thuộc tài nguyên có thể tái sinh (hồi phục), bao gồm hai yếu tố cấu thành là cây cỏ – là yếu tố vật thể và tri thức sử dụng chúng – là yếu tố phi vật thể – để làm thuốc và chăm sóc sức khỏe. Bộ phận cấu thành thứ nhất (cây cỏ) là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài dưới tác động của các yếu tố tự nhiên. Do đó liên quan đến các môn khoa học tự nhiên như sinh học, nông học, lâm học, dược học, v.v… Bộ phận cấu thành thứ hai (kiến thức) là kết quả của quá trình đấu tranh 4 sinh tồn của loài người, có từ khi loài người xuất hiện trên trái đất; được đúc rút, tích lũy và lưu truyền trải qua nhiều thế hệ, chịu tác động của các quy luật kinh tế – xã hội, quản lý, do đó liên quan đến các môn học xã hội như dân tộc học, xã hội học, kinh tế học… Khái niệm tri thức bản địa D.Warren định nghĩa: “Tri thức bản địa là những hệ thống tri thức và thực nghiệm được phát triển qua nhiều thế hệ trong một lĩnh vực cụ thể tới một nền văn hóa chuyên biệt” (dẫn theo Phạm Quang Hoan, 2005). Tri thức bản địa đã được tiếp cận và nghiên cứu không những chỉ ở Việt Nam mà trên phạm vi toàn thế giới, mỗi nghiên cứu ứng với mỗi lĩnh vực khác nhau như: văn hóa dân gian, văn hóa truyền thống, kinh nghiệp về nguồn tài nguyên thiên nhiên, dự đoán diễn biến thời tiết, sử dụng đất đai trong canh tác.

Tình hình nghiên cứu về cây thuốc 1. Tình hình nghiên cứu sinh trên thế giới Ở giai đoạn khởi đầu của xã hội. con người đã giành nhiều thời gian để học cách nhận biết và phân loại thực vật phù hợp để sử dụng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Trong số những thứ cần thiết này, việc sử dụng thảo mộc và chiết xuất từ thảo dược cho khả năng chữa bệnh của các loại cây thuốc có thể con người phải trải qua quá trình ngộ độc và dẫn đến chết… Qua nhiều thời gian họ dần dần có kinh nghiệm và nhận thức phân biệt được các loài cây khác nhau để sử dụng ăn được và làm thuốc trong sinh hoạt đời sống của họ ngày một tốt hơn.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 70% dân số thế giới dựa vào cây trồng để chăm sóc sức khoẻ ban đầu của họ và khoảng 35.000 loài đã được sử dụng làm thuốc trị liệu, tương ứng với 14-28% trong số 250.000 5 loài thực vật được ước tính có khả năng chữa bệnh trên khắp thế giới và tương đương với 35-70% của tất cả các loài được sử dụng trên toàn thế giới [10-12], Nền y học phương Đông, đặc biệt là nền y học Trung Quốc, đã sử dụng cây thuốc từ rất lâu. Năm 2637 TCN, đã có cuốn “Hoàng đế nội kinh” nói về các phương pháp chữa bệnh theo y học Đông phương. “Bản thảo cương mục” (1596) do Lý Thời Trân (1518-1593) biên soạn vào triều đại nhà Minh được công nhận thực sự có giá trị y học, và đến nay vẫn được xem là cuốn sách giáo khoa về y học cổ truyền đầu tiên của Trung Quốc. Ấn Độ cũng được tự hào về nền y học dân tộc Ayurveda (có nghĩa là “Kiến thức trường thọ”) của họ.

Nền y học này đã tồn tại hàng nghìn năm trên cơ sở các phương pháp điều trị dựa vào dược liệu tự nhiên và hiện nay vẫn được bảo tồn và phát triển. Các dân tộc khác trên thến giới, đặc biệt các dân tộc Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia… đều có nền y học dân tộc riêng của mình và chủ yếu dựa vào nguồn dược liệu tự nhiên. Louise Grenier (1998) [21] “Làm việc với kiến thức bản địa”. Cuốn sách hướng dẫn này giúp tìm hiểu kiến thức bản địa, góp phần vào chiến lược phát triển bền vững, giải thích được tiềm năng của môi trường địa phương, kinh nghiệm và sự khôn ngoan của người bản địa.

Thông qua việc xem xét lại các ví dụ hiện trường cũng như lý thuyết và thực tiễn hiện tại, nó cũng cấp một tổng quan ngắn gọn nhưng toàn diện về nghiên cứu và đánh giá tri thức bản địa. “Nghiên cứu dân tộc học về các loài ăn được của người Kara và Kwem ở Thùng lũng LowerOmo, khu Debub Omo, SNNPR, Eetiôpia”. Nghiên cứu cho thấy 38 loài thực vật hoang dã được báo cáo là nguồn thực phẩm, thuộc 23 họ và 33 chi, có 29% là cây bụi, 16% là thảo dược và 5% là cây leo núi. Bộ phận có 40 bộ phận của cây được chỉ định là ăn được: ăn quả 58,97%, ăn lá 33,33%, ăn rễ 7,69% và ăn hạt 2,56%.

Teklehaymanot và Giday (2010) [22] 6 1. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam Với những tầm quan trọng của cây thuốc trong đời sống hàng ngày của người dân cũng như trong nghành y học, các nhà nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam đã tìm hiểu, nghiên cứu các kinh nghiệm, kiến thức từ các cộng đồng để ngày càng hoàn thiện danh lục các loài cây thuốc Việt Nam.200 loài thuộc gần 1.200 chi và trên 300 họ năm 1997 (Võ Văn Chi, 1997)[4] đến năm 2000, Việt Nam đã có đến 3.830 loài cây làm thuốc (Viện dược liệu 2000). Trong số các loài cây làm thuốc thì có tới 90% là các loài cây mọc trong rừng tự nhiên, tập trung chủ yếu ở rừng có trữ lượng lớn, đa dạng và có giá trị sử dụng cao. Ngoài việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc một cách đơn giản và trực tiếp trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày thì hàng năm tài nguyên cây thuốc đã cung cấp đến vài chục tấn dược liệu khác nhau cho nhu cầu sử dụng trong y học cổ truyền và làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp chiết xuất các hợp chất là thuốc, đồng thời xuất khẩu với số lượng lớn.

Một nghiên cứu gần đây của các nhà khoa họ (Nguyễn Tập và cộng sự, 2005) ở Viện dược liệu đã tiến hành khảo sát các loài cây thốc được ưu tiên bảo tồn thì trong 134 loài được coi là có nguy cơ bị tuyệt chủng ở nước ta. Nhóm nghiên cứu đã phân các mức độ ưu tiên theo ba nhóm: - Nhóm cực kỳ nguy cấp (CR) có 18 loài như: Ba gạc hoa đỏ, Sâm vũ điệp, Bình vôi, Hoàng liên… - Nhóm nguy cấp (EN) có 42 loài. Đa số các loài như Sâm ngọc linh, Mã đâu linh, Hoàng tinh vòng… vốn không thật hiếm nhưng đã bị khai thác kiệt quệ. Nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời cũng sẽ chuyển sang nhóm cực kì nguy cấp.

- Có 47 loài còn lại thuộc nhóm sẽ bị nguy cấp (VU). Các loài này vốn phân bố phổ biến nhưng bị khai thác tàn phá đến mức nghiêm trọng như: Hà thủ ô đỏ, Đẵng sâm… 7 Không những thế cây thuốc còn được các nhà nghiên cứu còn xây dựng các mô hình trồng cây thuốc để phục vụ công tác bảo tồn. Trong nhiều năm qua Viện dược liệu đã đưa hơn 500 loài cây thuốc về trồng. Hiện nay có 65 loài cây thuốc có nguy cơ cao đã được trồng để bảo tồn ở nhiều nơi như: Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Sa Pa (Lào Cai), Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến thuốc Hà Nội (Thanh Trì), Trung tâm nghiên cứu dược liệu Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa) và Vườn bảo tồn cây thuốc vùng cao Phó Bảng (Đồng Văn – Hà Giang).

Trần Văn Hải và cộng sự (2011) nghiên cứu “Các loài thực vật được đồng bào dân tộc H’Mông Tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên – Văn Bàn sử dụng làm thuốc trị bện Gan” đã xác định được 31 loài thực vật được đồng bào dân tộc H’Mông tại Khu BTTN Văn Bàn sử dụng làm thuốc chữa các bệnh về gan (viêm gan, bổ gan, giải độc gan và xơ gan). Các bộ phận khác nhau của các loài nói trên (lá, thân, rễ, quả, hoa và có thể toàn cây) đều có thể được sử dụng làm thuốc. Các loài nói trên thường được sử dụng tươi hay phơi khô để sắc lấy nước uống, đôi khi được nấu thành cao. Có 25 loài được dùng riêng và 6 loài được sử dụng kết hợp với một số loài thực vật khác trong các bài thuốc chữa bệnh gan … Đỗ Văn Trường và Phạm Thành Trang (2011) nghiên cứu “Kinh nghiệm sử dụng cây cỏ làm men lá của cộng đồng người Tày tại Hà Giang” đã xác định được 20 loài thực vật được sử dụng làm men rượu thuộc 19 chi, 17 họ thực vật tại khu vực nghiên cứu, trong đó có 15 loài được coi là chủ yếu trong quá trình làm men lá (Riềng nếp, Kinh giới núi, Sài đất giả, Cà, Thiên niên kiện, Hoa sói, Nhân trần, Tu hú lá to, Lưỡi đắng bầu, Trầu không rừng, Gié bụi, Bạch tu lá quế, Găng, Xuyên tiêu, Dây mật) và mỗi quả men được sử dụng ít nhất là 8-10 loài cây trong tổng số những cây chính.

Nguyễn Thị Thu Hà (2013) đã thực hiện “Nghiên cứu tri thức bản địa của 8 người Bahnar trong khai thác và sử dụng tài nguyên rừng ở vùng đệm vườn quốc gia Gia Kon Ka Kinh, Tỉnh Gia Lai”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Kiến Thức Bản Địa Về Cây Thuốc Tại Vườn Quốc Gia Bù Gia Mập" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tri thức bản địa liên quan đến các loại cây thuốc trong khu vực Vườn Quốc Gia Bù Gia Mập. Nghiên cứu này không chỉ làm nổi bật giá trị của các loại cây thuốc mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy tri thức truyền thống trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các loại cây thuốc, cách sử dụng và lợi ích của chúng trong điều trị bệnh.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Tổng quan về một số cây thuốc có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh ung thư, nơi cung cấp thông tin chi tiết về các cây thuốc có khả năng hỗ trợ điều trị ung thư. Ngoài ra, tài liệu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu đa dạng cây thuốc trong tri thức sử dụng của cộng đồng người H`mông tại huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về sự đa dạng và ứng dụng của cây thuốc trong cộng đồng dân tộc thiểu số. Cuối cùng, tài liệu Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại huyện Thạch An tỉnh Cao Bằng cũng là một nguồn tài liệu quý giá để khám phá thêm về tri thức bản địa trong việc sử dụng cây thuốc. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về lĩnh vực này.