Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Sản xuất nông lâm nghiệp là nguồn sinh kế chủ đạo tại các vùng miền núi Việt Nam, song đây cũng là lĩnh vực chịu tác động sâu sắc trước hiện tượng biến đổi khí hậu (BĐKH) và sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, lũ quét, rét đậm, rét hại. Tại tỉnh Hà Giang – địa phương có địa hình đồi núi chiếm 80% diện tích tự nhiên, tỷ lệ hộ nghèo ghi nhận ở mức 26% với hơn 22 dân tộc thiểu số cùng sinh sống – sinh kế nông hộ rất dễ bị tổn thương. Trong bối cảnh đó, kiến thức bản địa (KTBĐ) của các cộng đồng dân tộc thiểu số được xem là nguồn lực nội sinh quan trọng, hình thành qua quá trình tích lũy lâu đời, có độ thích ứng cao với điều kiện sinh thái vi khí hậu và phù hợp với năng lực quản lý tại chỗ.
Xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê là xã vùng III đặc biệt khó khăn của tỉnh Hà Giang, nơi người dân tộc Dao chiếm trên 75% dân số và hơn 90% hộ gia đình phụ thuộc hoàn toàn vào sản xuất nông lâm nghiệp. Địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi núi cao và khe sâu, tỷ lệ hộ nghèo năm 2019 lên tới 41,27%. Mặc dù kho tàng tri thức bản địa của người Dao về canh tác đất dốc, quản lý rừng và luân canh cây trồng rất phong phú, các nghiên cứu hệ thống hóa tri thức này để ứng phó với BĐKH tại địa bàn vẫn còn khoảng trống. Khóa luận tốt nghiệp ngành Khuyến nông của sinh viên Hoàng Cằn Dương (Trường Đại học Lâm nghiệp, 2020) được thực hiện nhằm ghi nhận, đánh giá và đề xuất giải pháp phát huy các tri thức truyền thống này.
Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 4 nhiệm vụ:
- Đánh giá hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp tại điểm nghiên cứu;
- Phân tích ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và hiện tượng thời tiết cực đoan đến sản xuất nông lâm nghiệp;
- Tổng hợp các hoạt động ứng phó với BĐKH trong nông lâm nghiệp dựa trên kiến thức bản địa của người Dao tại điểm nghiên cứu;
- Đánh giá tính thích ứng BĐKH của các mô hình sử dụng đất và đề xuất giải pháp phát triển sản xuất nông lâm nghiệp thích ứng dựa vào kiến thức bản địa của cộng đồng dân tộc Dao.
Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của khóa luận được giới hạn như sau:
- Không gian nghiên cứu: Hai thôn Khuổi Hon và Tiến Minh thuộc xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang (đây là 2 thôn tập trung đông người Dao sinh sống, có điều kiện địa hình và cơ cấu kinh tế đại diện cho toàn xã).
- Thời gian nghiên cứu: Thu thập số liệu thực địa từ ngày 15/01/2020 đến ngày 29/04/2020.
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống kiến thức bản địa trong sản xuất nông lâm nghiệp của cộng đồng người Dao và các biểu hiện, tác động của biến đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý luận về kiến thức bản địa và khung tiếp cận thích ứng dựa vào cộng đồng (Community-Based Adaptation - CBA). Tác giả tổng hợp các quan niệm học thuật về KTBĐ từ Robert Chambers (1979), Brokensha và Warren (1980), UNESCO, Warren (1991), Langil và Landon (1998), Ngô Đức Thịnh (1996), Hoàng Xuân Tý (1998), Lê Trọng Cúc (1999) và Đồng Thị Thanh, Kiều Trí Đức (2012). KTBĐ được định nghĩa là hệ thống kinh nghiệm được cộng đồng sáng tạo, tích lũy qua tương tác lâu dài với môi trường sống, kiểm nghiệm qua thực tiễn, thường lưu giữ bằng phương thức truyền miệng và không ngừng biến đổi để thích nghi.
Về BĐKH và tính thích ứng, tác giả vận dụng các định nghĩa của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), IPCC (1996), Burton (1998), cùng các nghiên cứu thích ứng dựa vào cộng đồng của Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Nông Lâm nghiệp Miền núi (ADC, 2013, 2014). Để lượng hóa mức độ thích ứng của các mô hình sử dụng đất, khóa luận ứng dụng bộ tiêu chí đánh giá mô hình thích ứng do Trương Quang Học và cộng sự (2019) xây dựng trong khuôn khổ dự án của Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF SGP - UNDP) và Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD).
| STT |
Tiêu chí đánh giá |
Số chỉ tiêu thành phần |
Điểm tối đa |
| 1 |
Thích ứng với biến đổi khí hậu |
6 |
40 |
| 2 |
Giảm phát thải khí nhà kính |
4 |
10 |
| 3 |
Hiệu quả và bền vững về kinh tế |
4 |
10 |
| 4 |
Hiệu quả và bền vững về xã hội |
4 |
10 |
| 5 |
Hiệu quả và bền vững về môi trường |
4 |
10 |
| 6 |
Phù hợp với thể chế, chính sách về BĐKH, thiên tai địa phương |
4 |
10 |
| 7 |
Khả năng nhân rộng |
4 |
10 |
| Tổng |
Bộ tiêu chí toàn diện |
30 |
100 |
Phương pháp nghiên cứu thực địa áp dụng bộ công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) kết hợp phân tích thứ cấp:
- Nghiên cứu số liệu thứ cấp: Kế thừa dữ liệu chuỗi khí tượng trạm Bắc Mê từ 1991–2010 (theo Nguyễn Long Biên, 2012) và thu thập chuỗi số liệu nhiệt độ, lượng mưa giai đoạn 2009–2019; báo cáo thiệt hại thiên tai, báo cáo kinh tế - xã hội của UBND xã Đường Hồng năm 2019.
- Chọn điểm nghiên cứu: Dựa theo nguyên tắc của Donovan (1997) về thành phần dân tộc, khả năng tiếp cận và tính đại diện địa hình để chọn 2 thôn Khuổi Hon và Tiến Minh.
- Bộ công cụ PRA: Thăm làng; điều tra theo tuyến và lập sơ đồ lát cắt cảnh quan (Transect walk); phân tích lịch mùa vụ theo âm lịch; xây dựng biểu đồ hướng thời gian (Timeline); phỏng vấn bán định hướng (bảng hỏi SSI) với cán bộ khuyến nông xã/thôn và 36 hộ gia đình người Dao làm nông lâm nghiệp; thảo luận nhóm chuyên đề (mỗi nhóm từ 5 người); phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT).
- Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê mô tả, so sánh định lượng trên phần mềm Microsoft Excel và phân tích định tính các thông tin xã hội học.
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Tính cấp thiết của đề tài
Tác giả trình bày lý do lựa chọn nghiên cứu xuất phát từ thực trạng phụ thuộc sinh kế vào tự nhiên của đồng bào miền núi phía Bắc, nguy cơ tổn thương cao do thiên tai và vai trò của tri thức bản địa trong việc bảo tồn đa dạng sinh học, ổn định kinh tế nông hộ. Phần này xác định rõ mục tiêu tổng quát, 4 mục tiêu cụ thể, đối tượng nghiên cứu và giới hạn phạm vi khảo sát tại 2 thôn Khuổi Hon, Tiến Minh (xã Đường Hồng) từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2020.
Phần II: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương tổng quan hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước thành ba mảng nội dung chính:
- Cơ sở lý luận về KTBĐ: Nêu rõ 6 đặc trưng bản chất, các cách phân loại tri thức (hệ thống 10 loại chức năng theo "Cẩm nang về tri thức bản địa - 2000" và 4 nhóm theo Ngô Đức Thịnh), vai trò của tri thức địa phương đối với sinh kế và quản lý tài nguyên.
- Thực tiễn ứng dụng KTBĐ ứng phó BĐKH trên thế giới và tại Việt Nam: Điểm qua kinh nghiệm quốc tế như chuyển đổi cây trồng từ ngô sang kê tại Zimbabwe (Shingirai S, 2018), đa dạng hóa mùa vụ và dùng tro trị sâu hại ở Nigeria (Ihenacho, 2019), đào ao albarradas trữ nước tại Ecuador, làm tháp lánh nạn machan ở Ấn Độ. Tại Việt Nam, chương này tổng kết các công trình của Vũ Văn Liết (2011) về tập đoàn giống cây con bản địa của người Thái, Tày, Dao; các kỹ thuật làm ruộng bậc thang, xếp đá đường đồng mức, dẫn nước bằng ống bương (Phạm Xuân Hoàn, Lê Thị Thu Hoài); và bộ tiêu chí đánh giá mô hình thích ứng của Trương Quang Học (2019).
- Tổng quan về BĐKH và thích ứng dựa vào cộng đồng (CBA): Nêu rõ các biểu hiện vật lý của khí hậu và khẳng định tiếp cận CBA là phương thức trao quyền cho người dân địa phương giải quyết rủi ro sinh thái.
Phần III: Nội dung, phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết 6 nội dung khảo sát tương ứng với mục tiêu đề tài. Tác giả diễn giải cụ thể quy trình vận hành từng công cụ PRA trên địa bàn, tiêu chuẩn lựa chọn mẫu 36 hộ nông dân người Dao, phương pháp phỏng vấn cán bộ chuyên trách khuyến nông và cách thức tổ chức các cuộc họp nhóm thảo luận để thống kê thiên tai, đánh giá mô hình canh tác.
Phần IV: Kết quả nghiên cứu
Đây là phần trọng tâm của khóa luận, gồm 6 tiểu mục phân tích sâu:
1. Đặc điểm cơ bản của khu vực nghiên cứu
Xã Đường Hồng nằm ở độ cao trung bình 300–500m so với mực nước biển, có địa hình dốc đứng, chia cắt phức tạp. Khí hậu phân hóa thành mùa mưa (tháng 5–10, chiếm 80% lượng mưa cả năm, các tháng 6, 7, 8 có lượng mưa bình quân trên 300mm) và mùa khô (tháng 11–4 năm sau, lượng mưa dưới 50mm/tháng). Nhiệt độ trung bình năm đạt 22,3°C, chênh lệch giữa tháng cao nhất (32,4°C) và thấp nhất (12,6°C) là 19,8°C. Đất đai gồm đất feralit núi vàng nâu dày trên 1m và đất phù sa ven suối. Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 2.649 ha (chiếm 62,24% diện tích tự nhiên, gồm 2.054,59 ha rừng sản xuất và 595,47 ha rừng phòng hộ). Nguồn nước mặt phụ thuộc hai dòng suối chính là Nà Khỏn và Nặm Vàng, hệ thống thủy lợi chủ yếu là đập tạm và mương đất. Về dân sinh, toàn xã có 865 hộ với 4.376 khẩu, 2.958 lao động (90% thuần nông, chỉ 11,75% qua đào tạo bồi dưỡng). Cơ cấu dân tộc gồm người Dao (>75%), Tày (20%), Kinh và Nùng; tỷ lệ hộ nghèo chiếm 41,27%.
2. Hiện trạng sản xuất nông lâm nghiệp tại điểm nghiên cứu
Cơ cấu đất đai xã Đường Hồng năm 2019 gồm: đất nông nghiệp chiếm 88% (đất lâm nghiệp 62%, đất sản xuất nông nghiệp gần 30%), đất chưa sử dụng chiếm 7%, đất phi nông nghiệp chiếm 4%. Quy mô cây trồng nông nghiệp chủ lực gồm lúa đạt 515,5 ha, tiếp đến là ngô, đậu tương, lạc và cỏ chăn nuôi (cỏ voi, cỏ VA06). Diện tích rừng trồng kinh tế nổi bật với cây mỡ đạt 565,5 ha, cùng sa mộc, keo, xoan ta, mai. Về chăn nuôi, tổng đàn ghi nhận 15.350 con gà, 3.748 con lợn, 2.575 con dê, 1.644 con bò và 240 con trâu. Địa phương đang triển khai các chính sách như hỗ trợ vốn vay lãi suất 0% trong 3 năm đầu cho nuôi trâu, bò, dê; trợ cấp 50% chi phí xây chuồng trại và hỗ trợ 25% tiền mua giống ngô.
Kết quả điều tra tuyến và sơ đồ lát cắt (Transect walk) qua các vạt địa hình được tổng hợp chi tiết nhằm xác định tiềm năng và khó khăn sản xuất:
| Yếu tố phân tích |
Rừng phòng hộ |
Nương rẫy |
Ruộng bậc thang |
Rừng trồng kinh tế |
Đất vườn nhà |
Hệ thống suối (Nà Khỏn, Nặm Vàng) |
| Đặc điểm tự nhiên |
Núi cao, dốc lớn, nhiều tầng tán, đất tốt |
Dốc thấp, đất tốt màu nâu đen và vàng |
Đất dốc thoải, tầng đất 20–30cm màu vàng nâu |
Núi cao dốc, 1 tầng tán, đất màu vàng |
Đất dốc trung bình, nhiều đá sỏi, hẹp |
Lưu lượng không đều, dốc, thường có lũ mùa mưa |
| Chủ thể quản lý |
Nhà nước quản lý |
Hộ gia đình |
Hộ gia đình |
Hộ gia đình |
Hộ gia đình |
Người dân và Nhà nước |
| Thực trạng thuận lợi |
Trữ lượng gỗ lớn, giữ nguồn sinh thủy |
Đất màu mỡ, rất thích hợp trồng ngô |
Ít bị rửa trôi, giữ nước và phù sa tốt |
Dễ chăm sóc, đầu tư thấp, dễ tiêu thụ gỗ |
Tiện trồng rau, cây ăn quả, chăn thả gia cầm |
Cung cấp nước tưới và sinh hoạt trực tiếp |
| Khó khăn, hạn chế |
Vẫn còn tình trạng khai thác trộm gỗ |
Dễ bị xói mòn, rửa trôi mùa mưa |
Khó cơ giới hóa, nguy cơ sạt lở bờ ruộng |
Trồng thuần loài nên dễ bị sâu nấm, gãy đổ bão |
Diện tích nhỏ hẹp, dịch bệnh hại phát sinh |
Lũ ống mùa mưa, cạn kiệt thiếu nước mùa khô |
| Giải pháp kỹ thuật |
Tăng tuần tra, tuyên truyền bảo vệ |
Canh tác đường đồng mức, phủ tàn dư |
Củng cố bờ giữ nước, cải tạo thủy lợi |
Làm đường đồng mức, xen cây dược liệu |
Lựa chọn cơ cấu giống cây trồng phù hợp |
Trồng tre, mai, luồng ven suối chống sạt lở |
Từ sơ đồ cảnh quan, khóa luận nhận diện 12 mô hình sản xuất đang vận hành: (1) Cây lâm nghiệp thuần loài (Sa mộc, Xoan); (2) Cây lâm nghiệp + Chăn nuôi gia súc (Mỡ, Xoan + Trâu, Bò, Lợn); (3) Cây Mỡ + Sắn + Lợn; (4) Ngô độc canh nương rẫy; (5) Lúa nương độc canh; (6) Cây Mỡ + Lúa nương + Vừng; (7) Lúa nước độc canh; (8) Ngô xen đậu tương; (9) Lúa + Cá + Ốc đá ruộng bậc thang; (10) Vườn tạp cây ăn quả; (11) Cây ăn quả + Gà thả vườn; (12) Mận tam hoa + Sả + Gà.
Về mùa vụ, kết quả phân tích lịch canh tác nông nghiệp theo âm lịch thể hiện rõ chu kỳ thích nghi khí hậu:
| Loại cây trồng |
Thời vụ làm đất, gieo trồng |
Thời gian chăm sóc |
Thời điểm thu hoạch |
Đặc điểm luân phiên mùa vụ |
| Lúa nước (2 vụ) |
Vụ ĐX: tháng 12 – tháng 1; Vụ HT: cày bừa, cấy tháng 5 |
Vụ ĐX: tháng 2 – 3; Vụ HT: tháng 6 – 8 |
Vụ ĐX: tháng 4; Vụ HT: tháng 9 |
Tận dụng tối đa nguồn nước suối mùa mưa; đất nghỉ giữa hai vụ |
| Lúa nương (1 vụ) |
Phát dọn thực bì tháng 2 – 3; gieo cấy tháng 4 |
Chăm sóc, làm cỏ tháng 5 – 6 |
Thu hoạch tháng 7 – 8 |
Canh tác phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời đầu mùa mưa |
| Ngô (2 vụ) |
Vụ xuân: tháng 1 – 2; Vụ hè thu: gieo tháng 6 – 7 |
Vụ xuân: tháng 3 – 4; Vụ hè thu: tháng 8 – 9 |
Vụ xuân: tháng 5; Vụ hè thu: tháng 10 – 11 |
Cây lương thực chính cho người và thức ăn chăn nuôi gia súc |
| Đậu tương (2 vụ) |
Trồng vụ xuân (tháng 1–2) và vụ hè thu (tháng 6–7) |
Chăm sóc xen kẽ theo chu kỳ sinh trưởng |
Thu sau 90–115 ngày (tháng 4–5 và tháng 9–10) |
Cải tạo độ phì cho đất dốc, trồng xen ngô hoặc độc canh |
| Lạc (2 vụ) |
Vụ xuân: giữa tháng 1 – 2; Vụ hè thu: đầu tháng 6 |
Chăm sóc vụ xuân: tháng 3 – 4; vụ hè thu: tháng 7 – 9 |
Vụ xuân: giữa tháng 5; Vụ hè thu: tháng 10 |
Trồng luân canh, tạo sinh kế hàng hóa cho nông hộ |
3. Phân tích ảnh hưởng của BĐKH và thời tiết cực đoan đến sản xuất
Phân tích chuỗi số liệu khí tượng trạm Bắc Mê giai đoạn 1991–2019 khẳng định xu thế tăng nhiệt độ trung bình năm và xu thế suy giảm tổng lượng mưa năm. Biến động nhiệt độ và lượng mưa giai đoạn 2009–2019 diễn biến thất thường, mất tính quy luật: mùa khô kéo dài gây cạn kiệt dòng chảy suối Nà Khỏn, Nặm Vàng; các đợt mưa lớn cực đoan tập trung ngắn ngày gây lũ quét, xói lở ruộng bậc thang; các đợt rét đậm kéo dài kèm nhiệt độ hạ thấp xuống 0–3°C vào mùa đông gây chết rét mạ, gia súc và làm ngừng trệ sinh trưởng của cây rừng.
4. Hoạt động ứng phó với BĐKH dựa trên kiến thức bản địa của người Dao
Người Dao tại địa phương đã vận dụng hệ thống tri thức thích ứng trên bốn khía cạnh:
- Bảo tồn và sử dụng bộ giống bản địa: Duy trì các giống lúa nương, lúa nước địa phương, giống ngô răng ngựa, đậu tương, sắn địa phương có sức đề kháng cao, chịu hạn và ít sâu bệnh; nuôi dưỡng giống lợn đen bản địa, gà thả đồi, bò địa phương chịu rét và chống dịch tốt.
- Điều chỉnh lịch mùa vụ theo lịch âm: Căn cứ vào diễn biến thời tiết hàng năm để linh hoạt dịch chuyển thời điểm gieo cấy lúa nước vụ đông xuân, gieo ngô, tránh thời điểm rét đậm hoặc hạn hán nặng.
- Kỹ thuật canh tác đất dốc: Thực hiện xếp đá thành bờ kè bậc thang theo đường đồng mức; canh tác băng cây xanh; tận dụng tàn dư thân ngô, rơm rạ phủ gốc giữ ẩm và chống rửa trôi đất; luân canh xen kẽ cây họ đậu để cải tạo đất.
- Dự báo thời tiết dân gian: Quan sát quy luật tự nhiên, tập tính di chuyển của côn trùng (kiến, chuồn chuồn), sự thay đổi mây trời, hướng gió để chuẩn bị kế hoạch gieo hạt, phòng chống bão lũ hoặc che chắn chuồng trại.
5. Đánh giá tính thích ứng BĐKH của các mô hình sử dụng đất
Khóa luận sử dụng khung 7 tiêu chí của Trương Quang Học (2019) để chấm điểm và phân tích 4 mô hình thích ứng tiêu biểu tại địa phương:
- Mô hình Cây mỡ + Lúa nương + Vừng (trên đất nương rẫy);
- Mô hình Lúa nước + Cá chép + Ốc đá (trên ruộng bậc thang vùng trũng ven suối);
- Mô hình Cây Mận tam hoa + Sả + Gà (trên đất vườn nhà đồi thấp);
- Mô hình Cây Mỡ + Sắn + Lợn (mô hình nông lâm kết hợp chăn nuôi).
6. Đề xuất giải pháp phát triển sản xuất nông lâm nghiệp thích ứng BĐKH
Dựa trên kết quả phân tích ma trận SWOT, tác giả đề xuất nhóm giải pháp tích hợp: kết hợp tiến bộ khoa học kỹ thuật với tri thức bản địa trong việc tuyển chọn, lưu giữ nguồn giống cây con địa phương; hoàn thiện hạ tầng thủy lợi nhỏ tự chảy và bê tông hóa đường giao thông liên thôn; lồng ghép các chính sách hỗ trợ sản xuất trang trại hàng hóa với công tác quy hoạch vùng canh tác đất dốc an toàn.
Phần V: Kết luận, tồn tại và kiến nghị
Tổng kết các kết quả đạt được về mặt lý luận và thực tiễn, chỉ ra những hạn chế do năng lực nghiên cứu, đồng thời đề xuất kiến nghị với các cơ quan quản lý nông nghiệp cấp huyện và xã về việc hỗ trợ chính sách duy trì tri thức bản địa.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã định lượng cụ thể thực trạng sản xuất nông lâm nghiệp của xã Đường Hồng năm 2019 với diện tích đất lâm nghiệp chiếm 2.649 ha (62,24% tổng diện tích), sản xuất nông nghiệp chiếm gần 30% với 515,5 ha lúa nước và 565,5 ha rừng trồng mỡ. Dữ liệu khảo sát phản ánh thực trạng chăn nuôi với đàn gia cầm 15.350 con, đàn lợn 3.748 con và đàn trâu bò dê quy mô nhỏ lẻ, phụ thuộc nhiều vào bãi chăn thả tự nhiên.
Công trình đã hệ thống hóa và phân loại được 12 mô hình sản xuất thực tế trên các loại đất, vẽ lát cắt sử dụng đất chỉ rõ 6 đơn vị cảnh quan sinh thái, đồng thời đánh giá định lượng tính thích ứng của 4 mô hình nông lâm kết hợp tiêu biểu theo thang điểm 100 của bộ tiêu chí thích ứng BĐKH. Tác giả chỉ rõ các giải pháp canh tác bản địa như xếp đá làm bậc thang, tủ gốc tàn dư ngô, xen canh cây họ đậu và nuôi cá/ốc trong ruộng lúa nước là những phương thức hiệu quả giúp cộng đồng người Dao giảm thiểu tổn thất do hạn hán, lũ quét và xói mòn đất.
Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn, nghiên cứu đã bổ sung cơ sở dữ liệu thực nghiệm về mối liên hệ giữa tri thức tộc người và biến đổi khí hậu tại vùng sâu tỉnh Hà Giang – một địa bàn trước đây chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về đề tài này. Khóa luận kết hợp thành công các công cụ PRA định tính với khung tiêu chí đánh giá định lượng mô hình của các tổ chức xã hội (SRD, UNDP), khẳng định tri thức bản địa là thành tố cốt lõi để xây dựng các chính sách khuyến nông và kế hoạch thích ứng dựa vào cộng đồng (CBA).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận ghi nhận một số hạn chế do điều kiện nghiên cứu thực tế:
- Thời gian khảo sát thực địa ngắn (từ 15/01/2020 đến 29/04/2020), rơi vào giai đoạn đầu mùa vụ nên việc theo dõi toàn bộ chu kỳ sinh trưởng và năng suất thực thu của các mô hình chưa thể thực hiện trọn vẹn trong năm.
- Quy mô khảo sát giới hạn ở 36 hộ gia đình thuộc 2 thôn (Khuổi Hon và Tiến Minh), việc đánh giá mô hình thích ứng BĐKH chủ yếu dựa trên nhận thức của người dân và chấm điểm chuyên gia có sự tham gia, chưa có điều kiện đo đạc các chỉ tiêu lý hóa học của đất (tỷ lệ rửa trôi, độ phì) hay tính toán lượng phát thải khí nhà kính một cách thực nghiệm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở:
- Mở rộng phạm vi điều tra sang toàn bộ 10 thôn của xã Đường Hồng và các xã lân cận trong huyện Bắc Mê có điều kiện tự nhiên tương đồng;
- Đi sâu nghiên cứu phân tích hiệu quả kinh tế - tài chính chi tiết (doanh thu, chi phí, tỷ suất lợi nhuận) của từng mô hình thích ứng;
- Nghiên cứu quy trình kỹ thuật hoàn thiện và chuẩn hóa phương thức nhân giống bản địa (lúa nương, ngô răng ngựa, lợn đen) nhằm thương mại hóa nông sản đặc sản vùng cao.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu các ngành Khuyến nông, Phát triển nông thôn, Quản lý tài nguyên rừng, Lâm nghiệp xã hội và Dân tộc học.
Đối với những người thực hiện các đề tài về biến đổi khí hậu và sinh kế cộng đồng, các nội dung có giá trị tham khảo trực tiếp gồm:
- Quy trình ứng dụng bộ công cụ PRA vào khảo sát nông thôn miền núi (cách thức xây dựng sơ đồ lát cắt transect walk, lập lịch mùa vụ âm lịch và biểu đồ hướng thời gian);
- Phương pháp vận dụng bộ tiêu chí đánh giá mô hình thích ứng BĐKH cấp cơ sở (7 tiêu chí, 30 chỉ số của Trương Quang Học và cs, 2019);
- Cơ sở dữ liệu thực tế về các biện pháp canh tác đất dốc truyền thống và kinh nghiệm dự báo thời tiết của người Dao phục vụ công tác xây dựng tài liệu tập huấn khuyến nông tại chỗ.
Câu hỏi thường gặp
1. Cỡ mẫu khảo sát hộ gia đình trong nghiên cứu là bao nhiêu và được chọn tại địa bàn nào?
Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu 36 hộ gia đình người dân tộc Dao có sinh kế gắn liền với sản xuất nông lâm nghiệp, sinh sống tại hai thôn Khuổi Hon và Tiến Minh, xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
2. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại xã Đường Hồng năm 2019 có đặc điểm gì nổi bật?
Theo số liệu thống kê năm 2019 của UBND xã, đất nông nghiệp chiếm 88% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó, đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo với 62,24% (2.649 ha, gồm 2.054,59 ha rừng sản xuất và 595,47 ha rừng phòng hộ), trong khi đất sản xuất nông nghiệp thuần túy chỉ chiếm gần 30%.
3. Khóa luận sử dụng bộ tiêu chí nào để đánh giá tính thích ứng BĐKH của các mô hình sản xuất?
Tác giả ứng dụng bộ tiêu chí đánh giá mô hình thích ứng của Trương Quang Học và cộng sự (2019) do SRD và Quỹ GEF SGP - UNDP ban hành, gồm 7 tiêu chí và 30 chỉ số với tổng thang điểm 100, trong đó tiêu chí Thích ứng với BĐKH chiếm tỷ trọng cao nhất (6 chỉ tiêu, 40 điểm).
4. Người Dao tại xã Đường Hồng áp dụng những kỹ thuật canh tác bản địa nào trên đất dốc?
Người dân áp dụng kỹ thuật xếp đá thành bờ kè bậc thang theo đường đồng mức, tạo ruộng bậc thang giữ nước, che phủ đất bằng tàn dư rơm rạ và thân cây ngô sau thu hoạch, trồng xen cây họ đậu và bố trí các dải băng xanh tự nhiên để hạn chế xói mòn, rửa trôi đất trong mùa mưa bão.
5. Chính quyền địa phương xã Đường Hồng có những chính sách hỗ trợ sản xuất nông lâm nghiệp nào trong năm 2019?
Xã triển khai ba chính sách hỗ trợ trọng điểm: cho vay vốn không lãi suất trong 3 năm đầu để phát triển nuôi trâu, bò, dê; hỗ trợ 50% chi phí xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc; và trợ giá 25% kinh phí mua giống ngô cho các hộ nông dân.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Hoàng Cằn Dương đã hệ thống hóa toàn diện thực trạng sản xuất nông lâm nghiệp và vai trò của tri thức bản địa người Dao trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu tại xã Đường Hồng, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang. Bằng việc kết hợp phương pháp PRA với bộ tiêu chí đánh giá định lượng thích ứng BĐKH, nghiên cứu đã làm sáng tỏ giá trị của các mô hình nông lâm kết hợp, kinh nghiệm mùa vụ và kỹ thuật canh tác đất dốc truyền thống. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn tin cậy, đóng góp vào việc bảo tồn tri thức dân gian và hoạch định chính sách phát triển sinh kế nông thôn bền vững cho các cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi.