ĐẶT VẤN ĐỀ Cây thuốc là nguồn tài nguyên thực vật đƣợc con ngƣời sử dụng từ rất sớm, ngay từ thời nguyên thủy con ngƣời đã biết sử dụng cây cỏ để làm thuốc và làm rau ăn, cây thuốc giữ một vị trí cực kì quan trọng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, là khu vực có tính đa dạng rất cao đặc biệt là sự đa dạng về thành phần loài cây thuốc, đa dạng về thành phần loài. Tuy nhiên sự phân bố, tình hình sinh trƣởngvà phát triển của các loài cây thuốc ở mỗi khu vực là khác nhau và kinh nghiệm sử dụng chúng ở mỗi khu vực, mỗi cộng đồng dân tộc là khác nhau. Việt Nam có 3/4 diện tích lãnh thổ là đồi núi, là nơi cƣ trú của 54 dân tộc anhem mà chủ yếu là các dân tộc thiểu số với khoảng 24 triệu ngƣời, chiếm 1/3 dân số quốc gia.
Chính sự đa dạng về sắc tộc cùng với sự khác biệt về phong tục, tập quán, văn hóa trong từng cộng đồng dân tộc đã dẫn đến sự đa dạng những kinh nghiệm trong việc chữa bệnh và cách sử dụng nguồnnguyên liệu làm thuốc bản địa, với cùng một cây thuốc nhƣng ở mỗi khu vực khác nhau lại có cách sử dụng. Việc thống kê, tìm hiểu những cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng chúng ở mỗi địa phƣơng, mỗi cộng đồng dân tộc sẽ góp phần bổ sung thêm cho kho tàng về cây thuốc ở Việt Nam. Việt Nam là một trong 16 quốc gia có chỉ số đa dạng sinh học cao nhất thế giới. trong đó, ở vùng Bắc Trung Bộ cũng là nơi hội tụ của nhiều loài động, thực vật quý hiếm đang sinh sống và phát triển tại các VQG, khu bảo tồn nhiên nhiên nhƣ: VQG Bến En, VQG Pù Mát, KBTTN Xuân Liên, KBTTN Pù Hu… KBTTN Xuân Liên nằm trên khu vực chuyển tiếp của 2 vùng sinh tháiTây Bắc và Bắc Trung Bộ nên có tính đa dạng sinh học khá cao, hệ thực vật khá đa dạng về thành phần loài, đã ghi nhận 1142 loài thực vật bậc cao (thuộc 620 chi và 180 họ).
Trên thực tế,từ trƣớc đến nay chƣa có một công trình khoa học nào nghiêm cứu hoặc một dự án nào nhằm thống kê cũng nhƣ trồng thử nghiệm và bảo tồn về các loài cây thuốc hiện có ở vùng đệm KBTTN Xuân 1 Liên. Nhằm góp phần bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc cũng nhƣ các kiến thức bản địa trong việc sử dụng nguồn tài nguyên này tôi tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu kiến thức bản địa của người dân về cây thuốc ở vùng đệm tại KBTTN Xuân Liên – Thanh Hóa”để tìm hiểu cụ thể hơn kinh nghiệm của ngƣời dân tại vùng này khai thác và sử dụng cây thuốc chữa bệnh,biết thêm kinh nghiệm của ngƣời dân bản địa trong sử dụng cây thuốcchữa bệnh. Từ đó góp thêm sự đa dạng và phong phú cho nguồn tài nguyên cây thuốc tại Việt Nam.TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sơ lƣợc tình hìnhcây thuốc trên thế giới Từ thời xa xƣa con ngƣời đã biết sử dụng cây cỏ làm lƣơng thực, thực phẩm trong quá trình sinh sống, dần dần kiến thức về các loài cây đã đƣợc con ngƣời đúc kết thành kinh nghiệm dân gian, những loài nào ăn đƣợc thì để làm lƣơng thực, thực phẩm.
những cây nào mà trong quá trình sử dụng thấy có lợi thì làm cây thuốc, những loài nào có độc thì tránh. Nhữngkinh nghiệm sử dụng đấy đã đƣợc mọi ngƣời truyền nhau đến tận ngày nay cùng với đó là sự phát triển và tiến hóa của loài ngƣời, càng ngày khoa học càng phát triển thế nên sự hiểu biết và vốn kiến thức về cay thuốc ngày càng đƣợc ngƣời dân sử dụng phong phú và đa dạng. Dựa vào bằng chứng khảo cổ, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng khoảng 500 nƣớc trƣớc công nguyên cây thuốc đã đƣợc sử dụng rộng rãi và vì vậy nó là mục tiêu chiếm đoạt giữa các cuộ chiến tranh của các bộ tộc. Từ những kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây, các sản phẩm khai thác ché biến từ cây cỏ dung để chữa bệnh và đúc kết thành những cuốn sách có giá trị.
Theo thống kê thì Trung Quốc là một trong những quốc gia có truyền thống lâu đời nhất và có nhiều kinh nghiệm trong sử dụng cây cỏ tự nhiên để làm thuốc. theo ƣớc tính, có khoảng 1000 loài thực vật đã đƣợc ngƣời Trung Quốc sử dụng thành thuốc chữa bệnh. Từ thời nhà Tấn (186 trƣớc công nguyên) tại Trung Quốc trong cuốn sách “thủ hậu bị cấp phƣơng” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh có nguồn gốc từ cây cỏ. Trong tập “thần nông bách thảo” đã thống kê đƣợc 365 vị thuốc có giá trị phòng và chữa bệnh, trong đó nhiều bài thuốc vẫn sử dụng cho đến ngày nay nhƣ cây Gai mèo (Cannabis sp) dùng để chống nôn, cây Đại phong tử (Hydnocarpus kurzii) làm thuốc chữa bệnh phong.
3 Vào thời Tam quốc,danh y Hoa Đả, sử dụng Đàn hƣơng, Tứ đinh hƣơng nang để phòng và chữa bệnh lao phổi và bệnh lỵ. ông còn dung hoa Cúc, Kim ngân phơi khô cho vào chiếc gối để điều trị bệnh mất ngủ, đau đầu, cao huyết áp. Ngƣời Trung Quốc đã biết sử dụng thuốc thảo dƣợc để chữa bệnh nhƣ: sử dụng nƣớc chè đặc (Thea sinensls L.) để rửa vết thƣơng và tắm ghẻ. Dung cây Mã đề (Plantago major L) sắc nƣớc uống hoặc giã lá tƣơi để đắp vết thƣơng.
Cho đến nay, Trung Quốc đã cho ra đời khá nhiều công trình về sử dụng các loài cây cỏ để chữa bệnh. Không chỉ có Trung Quốc, nhiều nƣớc khác cũng có nhiều kinh nghiệm chữa bệnh lâu đời của họ. ở Ấn Độ, nền y học cổ truyền đã hình thành cách đây hơn 3000 năm. Ấn Độ là quốc gia rất phát triển về nghiên cứu thảo dƣợc.
Hiện nay, chính phủ khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng cây thuốc. Hầu hết các viện nghiên cứu dƣợc của Ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu các loại thuốc và hợp chất có hoạt tính từ thực vật. Ở Châu Âu vào thời trung cổ, các kiến thức về cây thuốc chủ yếu đƣợc các thầy tu sƣu tầm và nghiên cứu. Họ trồng cây thuốc và dịch các tài liệu về thảo mộc bằng tiếng Ả Rập.
Vào năm 1649,Nicolas Culpeper đã viết cuốn sách “A Physical Directory” sau đó vài năm ông lại viết cuốn “The English Physician”. Đây là cuốn dƣợc điển có giá trị và là một trong những cuốn sách hƣớng dẫn đầu tiên dành cho nhiều đối tƣợng sử dụng, ngƣời không chuyên có thể sử dụng để làm cẩm nang chăm sóc sức khỏe. cho đến nay cuốn sách này vẫn đƣợc tham khảo và sử dụng. Trong Y học dân gian Liên xô đã sử dụng nƣớc sắc vỏ cây Bạch dƣơng (Betula alba), vỏ cây Sồi (Quercus robus) để rửa vết thƣơng và tắm ghẻ.
Ở nƣớc Nga, Đức đã biết dùng cây Mã đề (Plantago major) sắc nƣớc hoặc giã nát lá tƣơi đắp, chữa trị vết thƣơng, viêm tiết niệu, sỏi thận. Tại “xứ sở hoa hồng” đất nƣớc Bungaria, từ lâu đã sử dụng hoa hồng để chữa nhiều bệnh khác nhau, ngƣời ta dung cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan huyết ứ và phù thũng. Ngày nay, 4 ngƣời ta đã chứng minh đƣợc trong cánh hoa hồng có một lƣợng tannin, glusit, tinh dầu đáng kể, tinh dầu này không chỉ để chế nƣớc hoa hồng mà còn dùng để làm thuốc chữa nhiều bệnh khác nhau. Thầy lang và những bài thuốc cổ truyền từ thực vật đóng vai trò quan trọng đối với sức khỏe của cả triệu ngƣời.
Tỷ lệ ngƣời làm thuốc cổ truyền và các bác sỹ đƣợc đào tạo ở các trƣờng đại học cóliên quan tới toàn bộ dân số các nƣớc Châu Phi. Ở Philipin ngƣời ta sử dụng cây Bồ cu vẽ (Breynia fructycosa) lấy vỏ sắc làm thuốc cầm máu hoặc tán bột rắc lên mụn nhọt, vết lở loét làm chúng nhanh khỏi. Ở Malaixia, cây Hùng chanh (Coleus amboinicus) dùng lá sắc cho phụ nữsau khi sinh đẻ uống hoặc giã nhỏ vắt nƣớc cốt cho trẻ em uống trị ho, sổ mũi, đau họng. Ở Campuchia, Malaixia ngƣời ta dùng hƣơng nhu tía (Ocimum sanctum) trong đó rễ trị đau bụng, sốt rét, nƣớc lá tƣơi có tác dụng long đờm.
Ở khu vực Đông Nam Á, Perry đã ghi nhậnnhững cây thuốc trong y học cổ truyền và các loài cây này đã đƣợc các nhà khoa học kiểm chứng, trong đó có 146 loại thuốc có tính kháng khuẩn. Hay gần đây, các nhà khoa học đã cho ra đời cuốn sách Tài nguyên các loại cây thuốc ở Đông Nam Á “Plant Resourees of South-East Asia, Medicinal and poisonous Plant (2001)” với 121 loài cây. Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO) đến năm 1985, trên toàn thế giới đã biết tới trên 20000 loài thực vật bậc thấp cũng nhƣ thực vật bậc cao (trongtổng số 250000 loài đã biết) đƣợc sử dụng trực tiếp để làm thuốc hay có xuất xứ cung cấp các hoạt chất để làm thuốc. Trong đó, ở Trung Quốc đã có tới hơn 10000 loài thực vật đƣợc coi là cây thuốc, ở Ấn Độ 6000 loài, vùng nhiệt đới Đông-Nam á khoảng 6500 loài, vùng nhiệt đới Châu Mỹ có hơn 1900 loài thực vật có hoa.
Khoảng 80% dân số ở các quốc gia đang phát triển sử dụng các phƣơng pháp y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe, trong đó chủ yếu là cây cỏ. Nhu cầu sử dụng cây thuốc của con ngƣời trong việc chăm sóc sức khỏe ngày một tăng, nhƣng nguồn tài nguyên thực vật đang bị suy giảm. Nhiều loài 5 thực vật đang bị tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng do hoạt động trực tiếp và gián tiếp của con ngƣời. Theo tổ chức bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) cho biết, trong tổng số 43000 loài thực vật mà cơ quan này lƣu giữ thông tin có tới 30000 loài đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau.
Trong đó, có nhiều cây thuốc quý hiếm và có giá trị kinh tế cao. Nguyên nhân gây nên sự suy giảm nghiêm trọng về mặt số lƣợng của các loài cây thuốc trƣớc hết là do khai thác quá mức nguồn tài nguyên dƣợc liệu và do môi trƣờng sống của chúng đang bị hủy diệt bởi hoạt động của con ngƣời. Đặc biệt, ở các vùng nhiệt đới và Á Nhiệt đới là nơi có mức độ đa dạng sinh học cao của thế giới nhƣng bị tàn phá nhiều nhất. Theo số liệu của tổ chức Nông Lƣơng (FAO) của liên hợp quốc, trong vòng 40 năm (1940-1980), diện tích của các loại rừng bị thu hẹp 44%, ƣợc tính khoảng 75000 ha rừng bị phá hủy.