ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới chịu ảnh hƣởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm kết hợp với địa hình phực tạp nên đƣợc thiên nhiên ƣu ái khi có một hệ thống động thực vật rất đa dạng và phong phú với những nét đặc trƣng riêng. Thực vật Việt Nam có tác dụng về nhiều mặt nhƣ lấy gỗ, làm dƣợc liệu, làm lƣơng thực, thực phẩm… Từ xa xƣa, ngƣời dân đã biết sử dụng cây cỏ trong tự nhiên làm thuốc chữa bệnh. Đặc biệt là giai đoạn trƣớc khi thuốc Tây y đƣợc phát hiện và sử dụng phổ biến thì sức khỏe, tính mạng con ngƣời hoàn toàn phụ thuộc vào các loài thuốc có trong tự nhiên. Tại mỗi khu vực, mỗi quốc gia, địa phƣơng, dân tộc khác nhau lại có những kinh nghiệm sử dụng các cây thuốc, các bìa thuốc khác nhau.
Trải qua nhiều thế kỷ con ngƣời mới có đƣợc những phƣơng pháp khai thác, chế biến và sử dụng các loại thuốc; những hiểu biết này không đƣợc công bố rộng rãi mà chỉ tồn tại trong các nhóm cộng đồng địa phƣơng, đƣợc gọi là kiến thức bản địa. Chính những kiến thức bản địa này đã góp phần không nhỏ cho việc sử dụng hiệu quả các loài cây con làm thuốc và trong sự tiến bộ của loài ngƣời. Ngày nay, trƣớc sự phát triển của khoa học vông nghệ, thuốc Tây y đang đóng vai trò to lớn trong việc chữa trị bệnh nhờ tính tiện dụng và liều lƣợng Cao. Tuy nhiên, còn một phần khá lớn dân số trên thế giới đã và đang đƣợc chăm sóc sức khỏe bằng y học cổ truyền.
Nguồn tài nguyên cây thuốc chính là mấu chốt cho sự phát triển y học cổ truyền cũng nhƣ thuốc Tây, là nguyên liệu để tạo ra thuốc Tây. Đồng bào dân tộc Cao Lan tại xã Đồng Quý, huyện Sơn Dƣơng, tỉnh Tuyên Quang là nhóm cộng đồng rất giàu kinh nghiệm trong việc sử dụng cây thuốc chữa bệnh. Vì thế, việc nghiên cứu kiến thức bản địa của ngƣời dân trong việc sử dụng cây thuốc nấu Cao dạ dạy để phục vụ cho đời sống con ngƣời và góp phần giữ gìn, phổ biến những kinh nghiệm làm thuốc của ngƣời dân là yêu cầu cấp thiết. Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu kiến thức bản địa của ngƣời dân tộc Cao Lan về sử dụng thực vật để nấu Cao dạ dày tại xã Đồng Quý - huyện Sơn Dƣơng - tỉnh Tuyên Quang”.
1 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Kiến thức bản địa Trong các xã hội công nghiệp hoá, dù nổi bật đến mức độ nào đi nữa thì kiến thức chính thống theo nền tảng phƣơng Tây cũng chỉ duy trì duy nhất một trong số rất nhiều hệ thống kiến thức. Ở nhiều nƣớc, hệ thống này tồn tại song song với các hệ thống kiến thức bản địa không chính thức (kiến thức truyền thống, sinh thái hay địa phƣơng). Thuật ngữ “kiến thức chính thống” (formal knowledge) dùng để chỉ những hệ thống kiến thức phát triển phần lớn dựa trên nền tảng hệ thống giáo dục phƣơng Tây.
Đó là những kiến thức chuẩn vì nó đƣợc xác nhận trong những văn kiện, những nguyên tắc, luật lệ, những quy định và cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Ngƣợc lại, khái niệm kiến thức bản địa hay kiến thức địa phƣơng dùng để chỉ những thành phần kiến thức hoàn thiện đƣợc duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tƣơng tác qua lại rất gần gũi giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên. Tập hợp những hiểu biết, kiến thức và ý nghĩa này là một phần của tổng hòa văn hoá bao gồm cả hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phƣơng thức sử dụng tài nguyên, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan. Những kiến thức này là cơ sở để đƣa ra những quyết định về nhiều phƣơng diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phƣơng nhƣ săn bắn, hái lƣợm, đánh cá, canh tác và chăn nuôi, sản xuất lƣơng thực, nƣớc, sức khoẻ và sự thích nghi với những thay đổi của môi trƣờng và xã hội.
Hơn nữa, trái với kiến thức chính thống, những kiến thức không chính thống đƣợc truyền miệng từ đời này sang đời khác và rất hiếm khi đƣợc ghi chép lại. Hệ thống kiến thức bản địa cần phải đƣợc duy trì, gìn giữ vì những tƣ tƣởng phƣơng Tây đang có xu thế thống trị hầu hết những quan điểm về chính sách phát triển. Đồng thời, cần phải ngăn chặn tình trạng tƣ tƣởng phƣơng Tây cản trở cộng đồng địa phƣơng tham gia vào công cuộc phát triển. Tuy nhiên, 2 trên thực tế đang diễn ra tình trạng “phát triển” chỉ đƣợc định nghĩa bằng những khái niệm xa lạ, thậm chí đôi khi còn không phù hợp của phƣơng Tây.
Kiến thức bản địa đã và đang đóng góp một phần quan trọng vào việc giải quyết các vấn đề của địa phƣơng. Trong những năm gần đây, các nƣớc đang phát triển cung cấp ngày càng nhiều thông tin về vai trò của kiến thức bản địa trong nhiều lĩnh vực tại các quốc gia phía Nam bán cầu nhƣ: nông nghiệp (kỹ thuật xen canh, chăn nuôi, quản lý sâu bệnh, đa dạng cây trồng, chăm sóc sức khoẻ vật nuôi, chọn giống cây trồng);sinh học (thực vật học, kỹ thuật nuôi cá); chăm sóc sức khoẻ con ngƣời (bằng các phƣơng thuốc truyền thống); sử dụng và quản lý tài nguyên thiên nhiên (bảo vệ đất, thuỷ lợi và các hình thức quản lý nƣớc khác); giáo dục (kiến thức truyền miệng, các ngôn ngữ địa phƣơng) và xoá đói giảm nghèo nói chung. Kết quả của dòng thông tin lớn mạnh đó là các học giả, những nhà hoạch định chính sách và những ngƣời đang hoạt động trên lĩnh vực phát triển ngày càng quan tâm đến kiến thức bản địa. Hơn hai thập kỷ trƣớc, họ đã thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức bản địa và khoa học, và thừa nhận tính hợp lý của kiến thức bản địa đối với hệ thống giáo dục và các vấn đề phát triển.
Hơn nữa, kiến thức bản địa đã đóng góp cho khoa học trong nhiều lĩnh vực liên quan đến việc quản lý tài nguyên thiên nhiên qua các nghiên cứu về thực vật dân tộc học hiện đại. Cụ thể là kiến thức bản địa đã giúp các nhà khoa học nắm đƣợc những vấn đề về đa dạng sinh học và quản lý rừng tự nhiên. Kiến thức bản địa cũng đóng góp vào khoa học những hiểu biết sâu sắc về thuần hoá cây trồng, gây giống, quản lý và giúp các nhà khoa học nhận thức đúng đắn về nguyên tắc, thói quen đốt nƣơng làm rẫy, nông nghiệp sinh thái, nông lâm kết hợp, luân canh cây trồng, quản lý sâu hại, đất đai và nhiều kiến thức khác về khoa học nông nghiệp. Thêm nữa, các nhà khoa học cũng thƣờng quen với kiến thức bản địa và ứng dụng vào trong các dự án về hợp tác phát triển và trong nhiều bối cảnh hiện tại khác.
Kinh nghiệm sử dụng cây thuốc tại Việt Nam Nền Y học cổ truyền của Việt Nam có từ rất lâu đời, nhiều phƣơng thuốc bào chế từ cây thuốc đƣợc áp dụng chữa bệnh trong dân gian. Những kinh nghiệm này đƣợc ghi chép thành những cuốn sách có giá trị và lƣu truyền rộng rãi trong nhân dân. Trong cuốn “ Nam dƣợc thần hiệu” và “ Hồng nghĩa giác tƣ y thƣ” của Tuệ Tĩnh đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 50 đơn thuốc chữa các bệnh trong đó 37 đơn thuốc chữa bệnh thƣơng hàn. Hai cuốn sách này đƣợc xem là những cuốn sách xuất hiện sớm nhất về cây thuốc Việt Nam.
Đến thế kỷ XVIII, Hải Thƣợng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn “ Y tông tâm tĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết về thực vật, các đặc tính chữa bệnh. Thế kỷ XIX, trong cuốn “ Nam dƣợc chí danh truyền” Nguyễn Quang Lƣơng ghi chép khoảng 500 vị thuốc nam. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Y dƣợc cổ truyền đƣợc đặt dƣới sự lãnh đạo của Bộ Y tế, cùng với y học hiện đại chăm lo cho sức khỏe của ngƣời dân. Kế thừa y học cổ truyền dân tộc, phát huy, phát triển dƣợc liệu và dƣợc học dân tộc.
Một số công trình của các nhà thực vật học, dƣợc học, y học dành nhiều thời gian, tâm huyết vào công tác điều tra cơ bản nhằm kế thừa, phát hiện và khai thác nguồn tài nguyên quý giá này trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cũng nhƣ phát triển kinh tế nhƣ: sách” Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” – G.Ngô Tất Lợi (1999), sách “ Cây thuốc Việt Nam” của lƣơng y Trần Đức (1997), “từ điển cây thuốc Việt Nam” của T. Bênh cạnh đó Việt Nam nằm tại khu vực giao thoa giữa các nền văn hóa Đông Nam Á, là quốc gia đa dạng về các nền văn hóa với 54 dân tộc anh em trên khắp lãnh thổ. Phần lớn cây thuốc của Việt Nam mọc hoang dại tại vùng rừng núi –một vùng chiếm ¾ diện tích toàn lãnh thổ, là nơi cƣ trú của phần lớn các dân tộc thiểu số. Các dân tộc thiểu số nói chu;ng – do đời sống gắn liền với khai thác và sử dụng thực vật, có nhiều kinh nghiệm và tri thức trong quá trình chế biến, sử dụng thực vật, đặc biệt là trong sử dụng cây thuốc.
Tuy nhiên, các tri thức và kinh nghiệm dân tộc thƣờng đƣợc sử dụng và lƣu truyền trong phạm vi hẹp ( dân tộc, dòng họ, gia đình) vì vậy không phát huy đƣợc toàn bộ để phuc 4 vụ cho xã hội và có nguy cơ thất thoát rất Cao. Các nhà dân tộc học, lịch sử trong và ngoài nƣớc thƣờng tập trung nghiên cứu về lịch sử, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, tín ngƣỡng, phong tục tập quán… của các dân tộc thiểu số mà ít ai quan tâm đến vấn đề y học cổ truyền bản địa của họ. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng này, trong khoảng 10 năm trở lại đây nghiên cứu thuốc dân tộc đƣợc đặc biệt quan tâm tại một số cơ sở của nƣớc ta và thu đƣợc kết quả rất khả quan. Kết quả ghi nhận đƣợc từ điều tra các kinh nghiệm sử dụng thuốc của cộng đồng dân tộc ở các địa phƣơng trong cả nƣớc đến nay có khá nhiều.
Đặc biệt là các nghiên cứu về các dân tộc miền núi phía Bắc nhƣ “ Dân tọc H’mông và thế giới thực vật” của Diệp Đình Hoa (1998), “Kinh nghiệm của ngƣời Dao – Đà Bắc- Hòa Bình” của Trần Hồng Hạnh (1997) hay “Phát hiện về cây thuốc Xạ đen có tác dụng chữa ung thƣ” của mế Hậu ở Kim Bội – Hòa Bình.