Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Biến đổi khí hậu đang là thách thức toàn cầu với những tác động tiêu cực rõ rệt đến các hệ sinh thái và hoạt động sản xuất nông nghiệp. Việt Nam được đánh giá là một trong năm quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, đặc biệt là khu vực miền núi - nơi địa hình chia cắt phức tạp và sinh kế của người dân phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên tự nhiên.

Xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa là địa bàn miền núi vùng sâu, vùng xa thuộc vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông. Với trên 70% diện tích tự nhiên là đồi núi có độ dốc từ 30% đến 50%, hoạt động canh tác nông nghiệp của người dân địa phương thường xuyên chịu ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết cực đoan như rét đậm, rét hại, sương muối, hạn hán kéo dài, mưa bão, lũ quét và sạt lở đất. Các hiện tượng này làm suy giảm năng suất cây trồng, gia tăng dịch bệnh trên gia súc, gia cầm và đe dọa trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc Thái - nhóm dân cư chiếm đa số tại địa bàn.

Trước thực tế thiếu vắng các nghiên cứu chuyên sâu về tri thức bản địa của người Thái trong sản xuất nông nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu, đề tài "Tìm hiểu việc sử dụng kiến thức bản địa của đồng bào dân tộc Thái trong sản xuất nông nghiệp nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu tại xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa" được thực hiện nhằm hệ thống hóa và đánh giá thực tiễn ứng dụng các tri thức này.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Trên cơ sở tìm hiểu các kiến thức bản địa (KTBĐ) của đồng bào dân tộc Thái tại xã Thành Sơn trong sản xuất nông nghiệp, tiếp tục bổ sung và đề xuất giải pháp phát triển các KTBĐ giúp người dân nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Khảo sát, đánh giá thực trạng sử dụng KTBĐ của người dân tộc Thái tại xã Thành Sơn trong ứng phó với biến đổi khí hậu.
    2. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn của người dân trong việc vận dụng KTBĐ và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng hoạt động thích ứng với thời tiết cực đoan.
    3. Đề xuất các giải pháp phát triển KTBĐ của đồng bào dân tộc thiểu số trong thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hộ nông dân dân tộc Thái có áp dụng các hoạt động thích ứng và sử dụng KTBĐ trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Thành Sơn.
  • Phạm vi không gian: 5 làng thuộc xã Thành Sơn, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa (Làng Báng, Kho Mường, Đông Điểng, Nông Công, Phả Khà).
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu sơ cấp năm 2018; số liệu thứ cấp giai đoạn 2016 – 2018; thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 02/2019 đến tháng 05/2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng trên hệ thống lý luận về biến đổi khí hậu, thích ứng dựa vào cộng đồng và kiến thức bản địa trong nông nghiệp:

  • Khung lý thuyết và khái niệm:
    • Biến đổi khí hậu: Tiếp cận theo định nghĩa của Công ước khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC), ISDR (2008), IPCC (2007) và Rex cùng cộng sự (2007), xác định biến đổi khí hậu là sự thay đổi trạng thái khí quyển trong chu kỳ dài hạn (từ 30 năm trở lên) do các hoạt động tự nhiên và nhân sinh gây ra.
    • Kiến thức bản địa (KTBĐ): Khung khái niệm dựa trên UNESCO (2010), Ashok Das Gupta (2012), Okeke (2013) và Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (ADC, 2013), định nghĩa KTBĐ là hệ thống tri thức độc đáo, đặc trưng của từng cộng đồng địa phương, được tích lũy qua thực tiễn, lưu truyền bằng phương thức truyền khẩu qua các thế hệ và liên tục điều chỉnh để thích ứng với điều kiện môi trường sống.
    • Thích ứng với biến đổi khí hậu: Tiếp cận theo các phương thức điều chỉnh chọn giống, phương thức sản xuất, kỹ thuật canh tác, lịch thời vụ và mô hình thích ứng dựa vào cộng đồng (CBA) với 6 cấp độ tham gia của người dân (tham gia bị động, cung cấp thông tin, thảo luận, động cơ vật chất, thực hiện chức năng nhất định, tham gia có tính tương tác).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Số liệu thứ cấp: Tổng hợp từ báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo tổng kết nông nghiệp của UBND xã Thành Sơn, Hợp tác xã nông nghiệp, Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Bá Thước, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Thanh Hóa, cùng chuỗi số liệu khí tượng - thủy văn trạm Thành Sơn giai đoạn 2010 – 2018.
    • Số liệu sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra bảng hỏi bán cấu trúc chọn ngẫu nhiên 40 hộ dân tộc Thái (8 hộ/làng tại 5 làng: Báng, Kho Mường, Đông Điểng, Nông Công, Phả Khà, bao gồm cả hộ nghèo và cận nghèo). Đồng thời, sử dụng phương pháp chọn mẫu quả bóng tuyết (Snowball-sampling) để phỏng vấn sâu các già làng, trưởng bản và nông dân có kinh nghiệm lâu năm, kết hợp với thảo luận nhóm tập trung và quan sát thực địa.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đặc điểm địa lý vùng núi cao xã Thành Sơn và tác động tiêu cực của các hiện tượng thời tiết cực đoan lên sinh kế nông nghiệp. Xác định rõ mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể, đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa khoa học - thực tiễn của khóa luận đối với công tác quản lý và hỗ trợ phát triển nông thôn miền núi.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu toàn cầu và tại Việt Nam; phân tích biểu hiện của nhiệt độ tăng, lượng mưa biến động và tần suất thiên tai gia tăng. Làm rõ vai trò của KTBĐ trong thích ứng dựa vào cộng đồng, phân tích các hình thức tham gia của người dân và tổng quan tác động của biến đổi khí hậu đến các vùng sinh thái trên thế giới và đồng bào dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định khung nghiên cứu, đối tượng khảo sát là hộ nông dân người Thái, phạm vi không gian tại 5 làng thuộc xã Thành Sơn và khung thời gian thực hiện. Trình bày quy trình thu thập số liệu thứ cấp và phương pháp điều tra sơ cấp (phỏng vấn 40 hộ, phỏng vấn sâu snowball-sampling, thảo luận nhóm và quan sát thực địa).

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Tập trung phân tích các kết quả khảo sát thực tế tại địa bàn nghiên cứu:

  • Đặc điểm địa bàn: Đồi núi chiếm trên 70%, độ dốc 30 - 50%. Năm 2018, xã có 185 hộ nghèo (33,33%) và 139 hộ cận nghèo (25,045%), thu nhập bình quân 8 - 11 triệu đồng/người/năm. Tổng diện tích gieo trồng đạt 321,92 ha (lúa 95 ha, ngô 125 ha, sắn 40 ha, rau đậu 18 ha, lạc 3,5 ha). Đàn vật nuôi gồm 381 con trâu, 543 con bò, 460 con lợn, 185 con dê và 7.189 con gia cầm.
  • Thực trạng thời tiết cực đoan: Hạn hán kéo dài làm giảm diện tích ngô đồi xuống còn 45% so với 6 - 7 năm trước; tỷ lệ ngô không kết hạt năm 2018 lên tới 30%. Rét đậm kéo dài làm chậm thời vụ lúa mùa 1 tháng. Sâu bệnh hại mới xuất hiện gồm lùn sọc đen, nhện vàng, bọ xít đen trên lúa, rệp cờ đen trên ngô, con Nhẵn (rệp xanh đen) và bọ Ban miêu trên đậu xanh; gia súc mắc bệnh lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cước chân, tai xanh và viêm loét miệng.
  • Hệ thống KTBĐ được sử dụng:
    • Trồng trọt: Dùng tro bếp và màng phủ nilon chống rét cho mạ; tháo nước giữ mức 2 - 3 cm kết hợp sục bùn bón phân chống rét cho lúa vụ xuân; dùng cuộn giẻ ngâm nước giải cắm trên ruộng để bẫy bọ xít; tưới phân lân pha loãng khi ngô trổ cờ gặp hạn; theo dõi hoa xoan nở để gieo đậu xanh; rải tro bếp trừ rệp muội; lót rơm rạ dưới củ giống khoai tây trên đất cát pha ven suối; cắt ngang thân chuối con (1 - 1,5 m) và cắt vát tiếp sau 10 ngày nếu không mưa để chống hạn; duy trì các giống bản địa chịu hạn tốt như lúa Bao Thai, ngô nếp cổ, đỗ mốc.
    • Chăn nuôi: Rải trấu nền chuồng chống rét cho gia cầm; trộn tỏi vào thức ăn phòng bệnh cúm và tiêu hóa; ủ thân cây chuối và rơm trộn muối cho trâu bò trong mùa rét; dùng gừng giã nhỏ ngâm rượu xoa bóp chữa cước chân cho trâu bò; đốt xông khói bằng lá bầu khô, lá bèo cái khô, lá sả, vỏ bưởi, bã chè khô để xua đuổi ruồi muỗi mang mầm bệnh tả, kiết lỵ; dùng lá ổi và thảo mộc rừng trị bệnh đường ruột ở bê nghé.
    • Dự báo thời tiết dân gian: Tre nở hoa nhiều hoặc măng gục vào gốc báo hiệu năm mưa nhiều; nhãn và xoài sai quả báo hiệu năm nắng nóng; ong làm tổ thấp báo hiệu mưa bão; cua đá bò lên bờ báo hiệu nguy cơ sạt lở đất; kiến di chuyển đàn đông qua đường hoặc rết chạy vào nhà báo hiệu sắp có mưa lớn; nước ao đổi màu xanh rêu báo hiệu mưa to sau 2 - 3 ngày.
    • Điều chỉnh lịch thời vụ: Chuyển gieo mạ xuân từ tháng 1 - 2 sang cuối tháng 2 - 3 (dương lịch) để tránh các đợt rét hại; chuyển gieo ngô đông sớm hơn sang tháng 7 - 8 để ngô ra hoa đậu bắp trước ngày 20/11 nhằm tránh rét đậm làm điếc bắp.

Phần 5: Kết luận và khuyến nghị

Tổng kết vai trò thiết thực của KTBĐ trong việc giảm thiểu thiệt hại do thiên tai tại địa bàn; đề xuất các giải pháp lồng ghép KTBĐ với tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng cường bảo tồn nguồn gen cây trồng vật nuôi bản địa và nâng cấp cơ sở hạ tầng thủy lợi nông thôn.


Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã cung cấp bức tranh dữ liệu định lượng và định tính toàn diện về tình hình sản xuất và các phương thức ứng phó thiên tai của đồng bào dân tộc Thái:

1. Số liệu thực trạng sản xuất nông nghiệp xã Thành Sơn năm 2018

Chỉ tiêu nông nghiệp Diện tích (ha) / Số lượng (con) Năng suất bình quân Sản lượng Biến động so với cùng kỳ / Kế hoạch
Lúa ruộng 95 ha 48 tạ/ha 456 tấn (4.200 tạ) Đạt 100% kế hoạch
Ngô 125 ha 32 tạ/ha 400 tấn Đạt 100% kế hoạch
Sắn 40 ha - - Đạt 100% kế hoạch
Rau, đậu các loại 18 ha 64 tạ/ha 1.152 tạ Đạt 100% kế hoạch
Lạc 3,5 ha 18,5 tạ/ha 64,75 tạ Đạt 32% kế hoạch
Đàn trâu 381 con - - Giảm 56 con
Đàn bò 543 con - - Giảm 95 con
Đàn lợn 460 con - - Giảm 239 con
Đàn dê 185 con - - Tăng 34 con
Đàn gia cầm 7.189 con - - Giảm nhẹ so với cùng kỳ

2. Tổng hợp kinh nghiệm bản địa thích ứng thời tiết cực đoan

Lĩnh vực Hiện tượng thời tiết cực đoan Kiến thức bản địa và biện pháp kỹ thuật truyền thống áp dụng
Trồng lúa Rét đậm, rét hại mạ xuân Vãi tro bếp lên mạ, phủ nilon giữ ấm luống mạ.
Trồng lúa Bệnh nghẹt rễ vụ xuân Tháo bớt nước chân ruộng còn 2 - 3 cm, tiến hành làm cỏ, sục bùn và bón thúc phân.
Trồng lúa Bọ xít gây hại Dùng giẻ cuộn tròn tẩm nước giải cắm đều trên ruộng hoặc tháo nước ngập lá rồi dùng vợt bắt.
Cây ngô Hạn hán lúc trổ cờ Tưới nước pha lân loãng; gieo sớm tháng 7 - 8 để cây trổ cờ đậu hạt trước ngày 20/11.
Đậu xanh, lạc Rệp muội, sâu cắn hoa Rải tro bếp mịn lên tán lá; chọn thời điểm hoa xoan nở rộ để bắt đầu gieo hạt vụ xuân.
Cây chuối Khô hạn Chọn chuối con cao 1 - 1,5 m, cắt ngang thân khi trồng; nếu sau 10 ngày không mưa tiếp tục cắt vát vết mới.
Gia súc Rét đậm, cước chân Giữ trâu bò tại chuồng, cho ăn thân chuối ủ rơm trộn muối; giã gừng tươi hòa rượu xoa bóp chân.
Gia súc, gia cầm Ruồi muỗi, dịch tả, kiết lỵ Hun khói chuồng bằng lá bầu khô, bèo cái khô, lá sả, vỏ bưởi, bã chè; tắm nước lá bầu tươi.
Gia cầm Rét hại, dịch tiêu hóa Rải trấu nền chuồng giữ ấm; giã tỏi tươi trộn vào khẩu phần thức ăn hàng ngày.

3. Đóng góp của đề tài

  • Hệ thống hóa toàn diện kho tàng tri thức bản địa của người Thái tại vùng đệm Pù Luông trong 4 nhóm hoạt động: trồng trọt, chăn nuôi, dự báo thời tiết và điều chỉnh lịch thời vụ.
  • Chứng minh tính hiệu quả và chi phí thấp của KTBĐ trong việc bảo vệ mùa màng và vật nuôi, giúp giảm thiểu sự phụ thuộc vào vật tư hóa chất và giống ngoại lai.
  • Cung cấp cơ sở thực tiễn cho chính quyền địa phương trong việc xây dựng các kế hoạch hành động thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế:
    • Quy mô mẫu khảo sát bảng hỏi dừng lại ở 40 hộ tại 1 xã miền núi (Thành Sơn), chưa mở rộng so sánh liên xã trong toàn huyện Bá Thước hoặc các vùng sinh thái lân cận.
    • Nghiên cứu chưa định lượng hóa chi tiết hiệu quả kinh tế (so sánh chi phí - lợi nhuận) giữa các hộ chỉ dùng KTBĐ và hộ kết hợp kỹ thuật mới.
    • Thời gian thực địa diễn ra trong 4 tháng (tháng 02/2019 đến tháng 05/2019) nên chưa theo dõi liên tục trọn vẹn cả chu kỳ sản xuất 4 mùa trong năm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các xã lân cận trong Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông để so sánh sự tương đồng và khác biệt về tri thức bản địa giữa các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau (Thái, Mường).
    • Phân tích cơ chế sinh học, dược lý học của các loại thảo mộc bản địa (lá bầu, bèo cái, củ gừng, lá ổi) và đặc tính di truyền của các giống cây địa phương (lúa Bao Thai, ngô nếp cổ, đỗ mốc) để làm cơ sở khoa học cho việc nhân rộng.

Giá trị tham khảo của khóa luận

  • Đối với sinh viên và học viên cao học: Tài liệu tham khảo hữu ích cho các chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý tài nguyên môi trường, Dân tộc học và Xã hội học nông thôn về phương pháp tiếp cận nghiên cứu thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng và phương pháp điều tra thực địa có sự tham gia.
  • Đối với cán bộ khuyến nông và nhà quản lý địa phương: Cung cấp danh mục các tri thức dân gian, lịch mùa vụ điều chỉnh và các giống cây trồng bản địa có khả năng chống chịu tốt, phục vụ trực tiếp cho công tác lập kế hoạch phát triển nông - lâm nghiệp tại các huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa và vùng Tây Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Địa bàn xã Thành Sơn có những đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội nổi bật nào trong năm 2018?

Xã Thành Sơn nằm ở phía Tây Bắc huyện Bá Thước thuộc vùng đệm Khu bảo tồn Pù Luông, có trên 70% diện tích là đồi núi với độ dốc từ 30% đến 50%. Năm 2018, xã có 185 hộ nghèo (chiếm 33,33%) và 139 hộ cận nghèo (chiếm 25,045%), thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt từ 8 đến 11 triệu đồng/người/năm.

2. Biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan gây ra những thiệt hại cụ thể nào đối với cây trồng tại địa phương?

Hạn hán kéo dài làm diện tích ngô đồi giảm xuống chỉ còn 45% so với 6 - 7 năm trước đó, trong đó năm 2018 có tới 30% diện tích ngô bị điếc bắp không hạt; sâu đục thân và rệp cờ đen phát triển mạnh. Đối với lúa, rét đậm kéo dài làm chậm thời vụ lúa mùa 1 tháng, gây nghẹt rễ mạ xuân và phát sinh các loại sâu bệnh mới như bọ xít đen, nhện vàng và lùn sọc đen.

3. Người dân tộc Thái sử dụng các bài thuốc dân gian nào để phòng và trị bệnh cho gia súc, gia cầm?

Đồng bào dùng gừng tươi giã nhỏ ngâm rượu xoa bóp hàng ngày để chữa cước chân cho trâu bò; trộn tỏi vào thức ăn gia cầm để phòng cúm và bệnh đường ruột; dùng lá ổi và cây rừng trị tiêu chảy cho bê nghé; hun khói chuồng bằng lá bầu khô, thân bèo cái khô, lá sả, vỏ bưởi và bã chè khô để xua đuổi ruồi muỗi truyền bệnh tả và kiết lỵ.

4. Những dấu hiệu tự nhiên nào được đồng bào Thái dùng để dự báo thời tiết xấu và thiên tai dài hạn?

Người dân quan sát thấy tre nở hoa nhiều hoặc măng mọc đổ gục vào gốc mẹ thì năm đó mưa nhiều; nhãn và xoài sai quả báo hiệu năm nắng nóng; cua đá bò lên bờ cảnh báo sắp có sạt lở đất; ong làm tổ thấp báo hiệu năm nhiều mưa bão; rết chạy vào nhà hoặc mặt nước ao chuyển màu xanh rêu báo hiệu sắp có mưa to trong 2 - 3 ngày tới.

5. Lịch thời vụ các loại cây trồng chính đã được điều chỉnh như thế nào so với trước đây?

Gieo mạ xuân được lùi từ tháng 1 - 2 sang cuối tháng 2 - 3 dương lịch để tránh rét hại; gieo lạc và ngô xuân chuyển từ tháng 3 - 4 sang tháng 4; ngô vụ đông được đẩy sớm từ tháng 8 - 9 sang tháng 7 - 8 dương lịch nhằm đảm bảo cây trổ cờ và thụ phấn xong trước ngày 20/11 trước khi các đợt rét đậm xuất hiện.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hà Văn Hiếu đã phân tích thực trạng và hệ thống hóa chi tiết các kinh nghiệm, tri thức bản địa của đồng bào dân tộc Thái tại xã Thành Sơn, huyện Bá Thước trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu. Các giải pháp kỹ thuật truyền thống trong chọn giống bản địa, phòng trừ sâu bệnh bằng thảo mộc, giữ ấm chuồng trại và điều chỉnh lịch thời vụ thể hiện tính linh hoạt và khả năng thích ứng cao của cộng đồng miền núi. Kết quả nghiên cứu khẳng định giá trị thực tiễn của kiến thức bản địa như một giải pháp bổ trợ quan trọng cho các tiến bộ khoa học kỹ thuật, góp phần định hướng phát triển nông nghiệp bền vững tại các vùng dân tộc thiểu số.