Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Hội chứng mạch vành cấp 1. Định nghĩa hội chứng mạch vành cấp Hội chứng mạch vành cấp (HCMVC) là một thuật ngữ dùng để chỉ một loạt những tình trạng liên quan đến việc thiếu máu cơ tim/ nhồi máu cơ tim cấp tính, thường là do sự giảm đột ngột dòng chảy của dòng máu qua động mạch vành (ĐMV) [1], [2]. Hội chứng mạch vành cấp bao gồm đau thắt ngực không ổn định (ĐTNKÔĐ), nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp không ST chênh và nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên [1], [2].
Nguyên nhân hội chứng mạch vành cấp - Ở bệnh HCMVC, nguyên nhân thường gặp nhất là do mảng xơ vữa, chiếm hơn 90%. Mảng xơ xữa động mạch vành nứt ra dẫn đến hình thành huyết khối và gây tắc mạch, làm giảm tưới máu mạch vành đột ngột. Tùy theo cục huyết khối gây tắc nghẽn hoàn toàn hay không hoàn toàn, mà trên lâm sàng biểu hiện các dạng khác nhau của hội chứng mạch vành cấp [1], [2]. + Đau thắt ngực không ổn định: cục huyết khối ban đầu thường gồm toàn tiểu cầu (huyết khối trắng) gây bít hẹp không hoàn toàn lòng động mạch vành, chỉ bít hẹp ở mức độ vừa.
+ NMCT cấp không ST chênh lên: ban đầu cũng thường là huyết khối trắng gây bít hẹp không hoàn toàn, bít hẹp mức độ nặng + NMCT cấp ST chênh lên: ban đầu là huyết khối trắng, sau đó hình thành huyết khối đỏ hoàn chỉnh (gồm hồng cầu, tiểu cầu) gây bít hẹp hoàn toàn lòng mạch vành. 4 - Một số trường hợp do các nguyên nhân khác gây tổn thương động mạch vành như: bất thường bẩm sinh các nhánh động mạch vành (ĐMV), viêm lỗ ĐMV do giang mai, bóc tách động mạch chủ lan rộng đến mạch vành, chấn thương động mạch vành, bệnh về máu (đa hồng cầu, đa tiểu cầu. Cơ chế bệnh sinh hội chứng mạch vành cấp Có 5 cơ chế chính hình thành hội chứng mạch vành cấp [1], [2]: - Hình thành huyết khối trên mảng xơ vữa tồn tại trước. - Tắc nghẽn cơ học do co thắt mạch vành.
- Sự tiến triển tắc nghẽn cơ học. - Tình trạng viêm và/hoặc nhiễm trùng. - ĐTNKÔĐ thứ phát do mất cân bằng giữa cung và cầu oxy cơ tim. Đa số các mảng xơ vữa động mạch là ổn định nhưng chúng phát triển từ từ theo thời gian và triệu chứng xuất hiện khi lòng động mạch hẹp 70-80%.
Một số mảng xơ vữa không ổn định, chúng nứt vỡ và gây HCMVC mặc dù những mảng xơ vữa này gây hẹp <50% đường kính lòng mạch [1]. Sự nứt ra của mảng xơ vữa: làm lớp dưới nội mạc với điện tích khác dấu lộ ra, khởi phát quá trình ngưng kết tiểu cầu và hình thành huyết khối [1]. Đây là cơ chế thường gặp nhất. Cản trở về mặt cơ học: co thắt ĐMV hoặc do co mạch.
Lấp tắc dần dần về mặt cơ học: do sự tiến triển dần dần của mảng xơ vữa hoặc tái hẹp sau can thiệp ĐMV. Tình trạng viêm hoặc có thể liên quan đến nhiễm trùng: người ta đã tìm thấy bằng chứng viêm của mảng xơ vữa không ổn định và dẫn đến sự dễ vỡ ra của mảng xơ vữa, gây kết tập tiểu cầu để hình thành huyết khối cũng như sự hoạt hóa các thành phần tế bào viêm để gây ra các phản ứng co thắt động mạch vành làm lòng mạch càng thêm hẹp hơn. Một lượng lớn đại thực bào được tìm thấy trong những mảng xơ vữa bị nứt vỡ, không ổn định và gây triệu 5 chứng. Mối liên quan đến viêm hoặc nhiễm trùng ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp chưa được chứng minh rõ ràng.
ĐTNKÔĐ thứ phát: do tăng nhu cầu oxy cơ tim ở các bệnh nhân đã có hẹp sẵn ĐMV làm cho cung không đủ cầu [1]. Huyết khối có thể gây tắc nghẽn hoàn toàn lòng ĐMV, khi đó thường biểu hiện NMCT có ST chênh lên hoặc tắc nghẽn không hoàn toàn gây ra ĐTNKÔĐ và NMCT không ST chênh lên. Nhìn chung, quá trình hình thành bệnh sinh của HCMVC chịu sự tác động của nhiều yếu tố: sự giảm cung cấp máu chuyên chở oxy đến tế bào cơ tim gây ra sự mất chức năng, tiêu hủy tế bào, làm mỏng và mềm vùng cơ tim bị ảnh hưởng và sau đó là sự xơ hóa và tái cấu trúc tâm thất. Nếu vùng nhồi máu đủ lớn, chức năng tâm thu thất trái sẽ bị suy yếu, thể tích nhát bóp giảm và áp lực đổ đầy thất gia tăng và có thể dẫn đến hạ huyết áp và sung huyết phổi [1].
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng hội chứng mạch vành cấp Bệnh nhân HCMVC (gồm cơn ĐTNKÔĐ, NMCT cấp không có ST chênh lên và NMCT cấp có ST chênh lên) được chẩn đoán dựa trên hỏi tiền sử, khám lâm sàng, đo điện tim, xét nghiệm men tim, siêu âm tim [12], [64]. Chẩn đoán đau thắt ngực không ổn định và nhồi máu cơ tim cấp không ST chênh lên * Lâm sàng Có 3 biểu hiện chính [16]: - Đau thắt ngực khi nghỉ: đau thắt ngực xảy ra khi nghỉ và kéo dài, thường lớn hơn 20 phút. - Đau thắt ngực mới xuất hiện: đau thắt ngực mới xuất hiện và nặng từ mức II theo phân độ Hiệp hội Tim mạch Canada trở lên. 6 - Đau thắt ngực gia tăng: ở các bệnh nhân đã được chẩn đoán đau thắt ngực trước đó mà đau với tần số gia tăng, kéo dài hơn hoặc có giảm ngưỡng gây đau ngực (nghĩa là tăng ít nhất một phân độ đau và tới mức III trở lên).
Mức độ nặng của của cơn đau thắt ngực được phân loại theo Hiệp hội Tim mạch Canada gồm 4 độ [44]: + Độ 1: những hoạt động thể lực bình thường không gây đau thắt ngực, đau thắt ngực chỉ xuất hiện khi hoạt động thể lực rất mạnh. + Độ 2: hạn chế nhẹ các hoạt động thể lực mức bình thường, đau thắt ngực xuất hiện khi leo >1 tầng gác thông thường bằng cầu thang hoặc đi bộ dài hơn 2 dãy nhà. + Độ 3: hạn chế đáng kể hoạt động thể lực thông thường, đau thắt ngực khi đi bộ dài từ 1-2 dãy nhà hoặc leo cao 1 tầng gác. + Độ 4: các hoạt động thể lực bình thường đều gây đau thắt ngực, đau thắt ngực khi làm việc nhẹ, gắng sức nhẹ.
Khám lâm sàng có thể có dấu hiệu suy tim, gồm cả giảm tưới máu ngoại biên, hở hai lá thoáng qua, tĩnh mạch cổ nổi, phù phổi cấp, phù ngoại biên. Có thể có bệnh lý nền gợi ý ở các bệnh nhân đau ngực dai dẳng. Có bằng chứng suy thất trái như suy tim xung huyết, hạ huyết áp [12], [13]. * Cận lâm sàng - Điện tim: có thể có thay đổi đoạn ST thoáng qua, mới (>0,05mV), hoặc có sóng T đảo chiều (khoảng 0,2mV) cùng với các triệu chứng lâm sàng.
Điện tim bình thường cũng không loại trừ được bệnh lý mạch vành [12], [16]. - Các men sinh học: CKMB, Troponin T, Troponin I tăng trong NMCT cấp không có ST chênh lên. Mức tăng Troponin T, Troponin I có ý nghĩa tiên lượng do tăng nguy cơ tử vong ở các bệnh nhân có hội chứng động mạch vành cấp nếu ST không chênh và mức CKMB bình thường. Trong ĐTNKÔĐ thì các men sinh học trong giới hạn bình thường [12], [16].
7 - Chụp ĐMV: thời điểm chụp mạch vành tùy thuộc vào tình trạng lâm sàng của bệnh nhân và cho biết chính xác vị trí nhánh mạch vành gây hẹp. Nhồi máu cơ tim cấp ST chênh Nhồi máu cơ tim là tình trạng thiếu máu cơ tim đột ngột và hoại tử một vùng cơ tim, do sự tắc nghẽn một hoặc nhiều nhánh động mạch vành, thường do mảng xơ vữa vỡ ra hoặc do hình thành huyết khối [13], [16]. Theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Hoa Kỳ (2015), Hội Tim mạch Châu Âu (2015) và theo Tổ chức Y tế thế giới việc chẩn đoán xác định nhồi máu cơ tim cấp khi có ít nhất 2 trong 3 tiêu chuẩn sau: đau ngực điển hình, kéo dài ≥30 phút, dùng các thuốc giãn động mạch vành không đỡ; có thay đổi đặc trưng trên điện tâm đồ; men tim tăng cao ít nhất gấp 2 lần giá trị giới hạn cao của bình thường [54], [67]. * Lâm sàng - Đau ngực: bệnh nhân thường có cảm giác như đè ép, thắt nghẹt, cảm giác như “đá đè lên ngực”.
Thường xuất hiện ngay sau xương ức, có thể lan lên vùng cổ, hàm, vùng liên bả vai, chi trên, vùng thượng vị. Thời gian của cơn đau điển hình kéo dài >30 phút, có thể trội lên hay thuyên giảm đi. Cơn đau thường xảy ra đột ngột, không có gắng sức. Ít hoặc không đáp ứng với nitroglycerin.
- Các triệu chứng khác kèm theo như: vã mồ hôi, khó thở, hội hộp đánh trống ngực, nôn, buồn nôn, lú lẫn, rối loạn tiêu hóa và có thể đột tử. * Cận lâm sàng Điện tâm đồ: đơn giản, tiện lợi, dễ áp dụng rộng rãi, giúp chẩn đoán xác định cũng như định khu vùng NMCT nhanh chóng. Cần phải làm sớm trong vòng 10 phút kể từ khi xuất hiện cơn đau và làm nhắc lại nhiều lần sau đó để giúp chẩn đoán và theo dõi diễn biến bệnh. 8 Dựa vào các chuyển đạo có đoạn ST chênh lên và/hoặc có sóng Q bệnh lý để chẩn đoán định khu vùng NMCT trên điện tâm đồ bề mặt theo khuyến cáo của hội tim mạch quốc gia Việt Nam [13].
Thành trước: 1. Trước vách: V1, V2, V3, V4. Bên cao: DI, aVL. NMCT trước rộng: V1, V2, V3, V4, V5, V6 và DI, aVL.
Trước vách bên cao: V2, V3, V4 và DI, aVL. Trước bên: DI, aVL, V5, V6. NMCT thành dưới (hay sau dưới): DII, aVF và DIII. Thất phải: ST chênh lên 1mm ở 1 trong các chuyển đạo V3R, V4R, V5R, V6R.
Các tiêu chuẩn chẩn đoán NMCT cấp trên điện tâm đồ là [13]: - Xuất hiện đoạn ST chênh lên (≥0,1mV) ở ít nhất hai trong các chuyển đạo DII, DIII, aVF; V1 đến V6; DI và aVL; hoặc - Xuất hiện sóng Q mới tiếp theo sự chênh lên của đoạn ST (rộng ít nhất 30ms và sâu 0,2mV) ở ít nhất hai trong các chuyển đạo nói trên, hoặc - Xuất hiện blốc nhánh trái mới hoàn toàn trong bệnh cảnh lâm sàng nói trên. 9 - Có một số trường hợp đặc biệt cần làm thêm các chuyển đạo (V7-V9 nếu nghi ngờ động mạch mũ là thủ phạm, V3R-V4R nếu nghi ngờ NMCT thất phải. Cần làm lại nhiều lần do điện tim thay đổi thay đổi theo thời gian. Các dấu ấn sinh học cơ tim - Creatinin Kinase (CK) và Creatine Kinase Myocardial Band CKMB): tăng trong vòng 3 đến 12 giờ sau NMCT, đạt đỉnh khoảng 24 giờ và trở về bình thường sau 48 đến 72 giờ.