Chương 1: Kịch về đề tài lịch sử từ sau năm 1975 và kịch của Doãn Hoàng Giang. - Chương 2: Lịch sử và thế sự trong kịch lịch sử của Doãn Hoàng Giang. - Chương 3: Nghệ thuật thể hiện trong kịch lịch sử của Doãn Hoàng Giang. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: KỊCH VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ TỪ SAU NĂM 1975 VÀ KỊCH CỦA DOÃN HOÀNG GIANG 1.
Những đổi mới về kịch sau năm 1975 1. Đổi mới quan niệm về kịch Giáo sư Đỗ Đức Hiểu có giải thích về khái niệm kịch: “Kịch không những là một môn nghệ thuật tổng hợp, mà đúng hơn là một giao hưởng nghệ thuật. Trong kịch có sự hòa trộn của nhiều loại hình nghệ thuật, nó được ví như một cung đàn có nhiều âm sắc”[10]. Kịch nói Việt Nam được hình thành từ những năm đầu thế kỉ XX khi văn hóa Phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp du nhập vào Việt Nam.
Bắt đầu từ năm 1906, khi thực dân Pháp tiến hành cuộc cải cách giáo dục, đưa chữ Quốc ngữ, song song với chữ La tinh và chữ Hán trong chương trình giáo dục thì đời sống văn hóa, tinh thần của người dân cũng biến đổi. Có thể nói, giai đoạn này là khi sân khấu nhà hát cùng tồn tại với sân khấu sân đình, nghĩa là bên cạnh sàn diễn, phông bạt, ánh sáng của sân khấu hiện đại thì vẫn tồn tại song song hát chèo, tuồng biểu diễn ở nông thôn. Trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỉ XX có viết: “Trên bình diện văn hóa nghệ thuật từ đầu thế kỉ XX trở đi, văn hóa Việt Nam đi vào quỹ đạo cận – hiện đại. Những người viết văn, làm thơ, viết kịch đã dần dần trở thành nghề nghiệp hóa thú chơi tài tử của mình.
Đa số họ đã làm ăn, kiếm sống bằng việc bán sáng tác của mình cho các nhà xuất bản. Các loại văn mới xuất hiện như: tiểu thuyết, phóng sự, kịch nói, phê bình… đều được sáng tác theo quy thức phương Tây. Công chúng văn học thời kì này là công thương, học sinh, viên chức có xu hướng Âu hóa về mặt thẩm mỹ” [19, tr. Như vậy, sự ra đời của kịch Việt Nam là do ảnh hưởng vừa mang tính chất cưỡng bức, vừa là sự tự giác của văn hóa phương Tây (cụ thể là Pháp) trong điều kiện lịch sử - kinh tế và văn hóa nội tại.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có thể nói sự ra đời của kịch nói ở nước ta hoàn toàn không phải là sự vận động của tiến trình văn học nước nhà mà là sự hình thành của một thể loại hoàn toàn mới, không hề có sự cạnh tranh với hai loại hình cũ là chèo và tuồng, và cũng là quá trình ngược trở lại kịch nói cùng kích thích sự thay đổi của chúng để hòa nhập vào với guồng quay của xã hội đương thời. Quan điểm về kịch ở thời điểm mới ra đời cũng có sự khác biệt giữa kịch nói làng xã và văn minh đô thị. Lí do là bởi kịch vốn sinh ra ở vùng thành thị, do tầng lớp trí thức Tây học và tiểu tư sản tạo nên, vì vậy đối với xu hướng thẩm mỹ của người thành thị thì kịch là thú vui để thỏa mãn nhu cầu về mặt tinh thần, tâm lý và thị hiếu của chính bản thân mình. Tuy nhiên, ở vùng nông thôn, khi người dân hoàn toàn chưa biết về kịch, và với họ sân khấu chèo, tuồng nơi sân đình mới là thị hiếu của họ.
Mặc dù ban đầu kịch chỉ là thú chơi tài tử của những trí thức tân học nhưng càng về sau, kịch càng được chuyên môn hóa và trở thành bộ môn nghệ thuật của phần đông người thành thị, khác hẳn với nghệ thuật sân đình ở vùng nông thôn. Từ khi ra đời đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, kịch nói Việt Nam mang tính chất tài tử, nghĩa là: kịch là một loại hình sân khấu do giới trí thức trong xã hội sáng tạo vàbiểu diễn cho một bộ phận công chúng chọn lọc. Giai đoạn này kịch chỉ đơn thuần như một bộ môn nghệ thuật giải trí. Từ năm 1945 – 1975, kịch Việt Nam gắn bó với quá trình chống đế quốc Pháp và Mỹ xâm lược.
Do đó, kịch chủ yếu là những vở có dung lượng ngắn để phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh. Thời kì này quan niệm kịch cũng như văn chương là cây bút chiến đấu, cổ vũ tinh thần đấu tranh của dân tộc. Khoảng 10 năm đầu sau khi giải phóng (1975 – 1985), kịch nói ở thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu tập trung ở các mảng đề tài chính: tái hiện hình ảnh cuộc chiến, đánh giá về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và đặt ra những vấn đề xây dựng thành phố. Hầu hết các thể loại văn học đều phát triển mạnh mẽ.
Giai đoạn này xuất hiện nhiều đoàn kịch chuyên nghiệp phục vụ nhu cầu 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của xã hội. Kịch nói của nước ta được nâng cao đội ngũ diễn viên, người viết kịch bản, đạo diễn và phục trang trên sân khấu để đáp ứng nhu cầu thưởng thức kịch của khán giả. Giai đoạn này nổi bật là những sáng tác của Kim Cương như: Lá sầu riêng, Dưới hai màu áo, Tôi là mẹ, Trà hoa nữ, Cánh hoa tàn,… Ban kịch Thẩm Thúy Hằng với một số vở diễn nổi bật do bà sáng tác như: Người mẹ già, Suối tình, Đôi mắt bằng sứ… cũng được dư luận đón nhận nồng nhiệt. Có thể nói, hai ban kịch Kim Cương và Thẩm Thúy Hằng là một trong bốn đoàn kịch chủ lực của Hồ Chí Minh từ khi giải phóng đến khoảng những năm 90 của thế kỉ XX.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thành đã đánh giá về kịch nói ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn này: “Sức trẻ và niềm say mê sáng tạo, mong muốn làm nghề cộng với những nhân tố khác như tài năng bẩm sinh, vốn hiểu biết chuyên môn rộng, cộng lại tạo nên một luồng gió mới, tràn đầy sinh lực, hưng phấn, tân kỳ, mới lạ phả vào sàn diễn, gây nên sức truyền cảm, quyến rũ, rạo rực. Cái hăm hở, nhiệt huyết sôi sục ấy lại được cộng hưởng với hình thức sân khấu kịch dưới dạng sân khấu nhỏ - hình thức năng động nhất của một thể loại vốn đầy ắp chất năng động như kịch nói – nên đã nhanh chóng bừng nở rực rỡ, chói sáng như một hiện tượng đặc biệt của sinh hoạt kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh cuối những năm 80” [35, tr. Giai đoạn này, kịch nói phát triển cực độ ở khu vực này, còn miền Bắc vẫn chưa có nhiều biến đổi. Trong cuốn Những thay đổi trong đời sống văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh thời gian 1986 – 2006 của Cao Tự Thanh và Hoàng Hương chủ biên thì tính trong khoảng 10 năm (1975 – 1985) cả thành phố có khoảng 2.800 đội văn nghệ quần chúng, xây dựng hơn 9000 tiết mục, trong đó chiếm phần đông là kịch nói.
Đứng trước thực trạng của sân khấu những năm 90 của thế kỉ XX, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Minh Thái cho rằng: “Từ sau hội diễn chuyên nghiệp toàn quốc năm 1990, sân khấu cả nước đứng trước một bước ngoặt có tính 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất đảo lộn: thời sân khấu bao cấp đã được thay thế bởi sân khấu trong cơ chế thị trường. Thế là biết bao vật đổi sao dời. Sân khấu như đứng khựng lại, ngơ ngác tìm đường nhận đường” [33, tr. Tất Thắng cũng khái quát về giai đoạn này như sau: “Là giai đoạn sân khấu phải đương đầu, phải nhập cuộc, phải vượt lên có khi sứt đầu mẻ trán với cơ chế thị trường ùa vào các lĩnh vực văn nghệ khiến cho nhiều nghệ sĩ ngơ ngác đến thảm hại.
Sân khấu xuống cấp, sân khấu khủng hoảng, sân khấu thương mại, sân khấu ăn khách, sân khấu kiếm sống… Những vấn đề mới mẻ và nhức nhối đó luôn luôn được đặt ra, bàn cãi, nhắc lại trong nhiều cuộc hội thảo, trên nhiều bài nói, bài viết của các nhà hoạt động sân khấu. Từ hội diễn 1985 đến hội diễn 1990, sự xuống cấp của sân khấu đã là trông thấy” [36, tr. Trước tình hình đó, ở thành phố Hồ Chí Minh hình thành mô hình sân khấu nhỏ và mô hình xã hội hóa đã đưa sân khấu kịch khởi sắc trở lại. Sự ra đời của nhà hát kịch sân khấu nhỏ đã có những dấu ấn nổi bật như vở: Dạ cổ hoài lang (Thanh Hoàng), Sân ga tình người (Lê Bình), Ngụ ngôn năm 2000 (Lê Hoàng), Ngôi nhà không có đàn ông (Ngọc Linh)… Như vậy, từ khi mới hình thành đến nay, kịch nói nước ta đã trải qua nhiều giai đoạn biến đổi rõ rệt về quan niệm sáng tác, thưởng thức và biểu diễn kịch.
Cho đến nay, kịch nói vẫn được khai thác chủ yếu ở hai đề tài: thế sự - đời tư, nhìn lại những vấn đề của lịch sử hoặc dàn dựng lại các vở kịch của nhà viết kịch nổi tiếng như Lưu Quang Vũ, Nguyễn Huy Tưởng… 1. Những đổi mới về thể loại: chính kịch, hài kịch, kịch lịch sử Trong luận án Tiến sĩ Bi kịch trong văn học Việt Nam hiện đại: Qua một số tác phẩm tiêu biểu, Phạm Thị Chiên có nhận định: “Bi kịch, hài kịch, chính kịch là ba thể loại quan trọng của văn học kịch. Trong đó, chính kịch là thể loại nghiêm túc trong vai trò tiếp cận cuộc sống xã hội, diễn tả nội dung mới của xã hội. Nếu bi kịch và hài kịch là hai đối cực thì giữa hai đối cực ấy sẽ có một khoảng trống ở giữa.
Vì thế, sự có mặt của chính kịch là để bù lấp 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cái khoảng trống kia, đó là một thể loại trung gian. Tuy nhiên, chính kịch không phải là sự cộng lại của bi kịch và hài kịch mà nó tồn tại độc lập với những đặc trưng riêng. Chúng ta phân biệt bi kịch với chính kịch trên các bình diện: cốt truyện, hành động, xung đột, đề tài, phong cách, cấu trúc” [2, tr. Xét riêng về vấn đề thể loại, đa số ý kiến phê bình lựa chọn cách phân loại kịch gồm: chính kịch, hài kịch, bi kịch và kịch lịch sử.
Tuy nhiên, sau năm 1975, hầu như không có bi kịch. Chúng tôi tìm hiểu những đổi mới của chính kịch, hài kịch và kịch lịch sử. Chính kịch là thể loại kịch đề cập đến mọi mặt đời sống của con người. Sau năm 1975, chính kịch phát triển mạnh mẽ, chủ yếu xoay quanh những đề tài liên quan đến hình ảnh người lính sau chiến tranh, những vấn đề nổi bật của đời sống, xã hội.
Xung đột kịch của chính kịch chính là những mâu thuẫn trong cuộc sống hàng ngày.