Tổng quan luận án
Công trình "Khu hệ lưỡng cư và bò sát vùng phía Bắc Đèo Cù Mông" do nghiên cứu sinh Dương Đức Lợi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Ngô Đắc Chứng, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế năm 2016 thuộc chuyên ngành Động vật học (mã số 62420103).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Việt Nam nằm trong khu vực Indo-Burma – một trong những điểm nóng về đa dạng sinh học toàn cầu (Conservation International, 2010). Lãnh thổ đất liền có diện tích 329.241 km² với 75% diện tích là đồi núi và bờ biển kéo dài 3.260 km, tạo nên hệ sinh thái và sinh cảnh phong phú cho khu hệ động thực vật (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011). Dù cả nước đã ghi nhận 545 loài lưỡng cư và bò sát (Nguyen et al., 2009) cùng nhiều loài mới liên tục được mô tả, nguồn tài nguyên này đang suy giảm do áp lực khai thác, mất sinh cảnh và biến đổi khí hậu.
Vùng phía Bắc Đèo Cù Mông (phần lớn thuộc địa bàn tỉnh Bình Định) là khu vực chuyển tiếp địa hình quan trọng từ cao nguyên Kon Tum xuống dải đồng bằng duyên hải miền Trung. Trước thời điểm nghiên cứu, các dẫn liệu khoa học về lưỡng cư và bò sát tại đây còn phân tán và hạn chế, chỉ ghi nhận 3 loài lưỡng cư phổ biến, 16 loài rắn, 4 loài thằn lằn và 10 loài rùa. Các ranh giới phân vùng địa lý động vật học tại miền Trung vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác biệt giữa các hệ thống phân loại. Công tác quản lý và bảo tồn tại địa phương gặp khó khăn do thiếu điều tra cơ bản mang tính hệ thống. Việc thực hiện một nghiên cứu chuyên sâu trên phạm vi toàn tỉnh Bình Định là yêu cầu cấp thiết nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học cho công tác quy hoạch, bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên động vật.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định sự đa dạng về thành phần loài và đặc điểm phân bố của các loài lưỡng cư, bò sát vùng phía Bắc Đèo Cù Mông.
- So sánh mức độ tương đồng về thành phần loài lưỡng cư, bò sát của khu vực nghiên cứu với các phân vùng địa lý động vật ở miền Trung Việt Nam.
- Đánh giá giá trị bảo tồn và xác định các yếu tố tác động đến các loài lưỡng cư, bò sát làm cơ sở khoa học phục vụ quy hoạch quản lý, bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên động vật ở vùng nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài thuộc lớp Lưỡng cư (Amphibia) và lớp Bò sát (Reptilia).
- Phạm vi không gian: Toàn bộ ranh giới hành chính tỉnh Bình Định, giới hạn từ phía Bắc Đèo Cù Mông đến đèo Bình Đê, gồm 11 đơn vị hành chính (thành phố Quy Nhơn, thị xã An Nhơn và 9 huyện: An Lão, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Cát, Phù Mỹ, Tây Sơn, Tuy Phước, Vân Canh, Vĩnh Thạnh) với tổng diện tích 6.025,6 km². Đối với bò sát biển, luận án kế thừa tư liệu đã công bố và tập trung điều tra thực địa trên đất liền.
- Phạm vi thời gian: Quá trình điều tra thực địa được tiến hành trong thời gian 3 năm, từ tháng 5/2012 đến tháng 5/2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Lịch sử nghiên cứu lưỡng cư và bò sát (LCBS) tại Việt Nam được luận án phân chia thành ba giai đoạn chính:
Giai đoạn trước năm 1954
Các ghi nhận ban đầu xuất phát từ y học cổ truyền của Tuệ Tĩnh (1623?-1713) với 16 vị thuốc có nguồn gốc từ LCBS. Các nghiên cứu học thuật hiện đại thời kỳ này chủ yếu do các tác giả phương Tây thực hiện: Cantor (1847) lập danh sách 8 loài đầu tiên; Guenther (1864) bổ sung 14 loài ở Đông Dương; tiếp theo là các công trình của Milne-Edwards (1866), Theobald (1868), Swinhoe (1870), Stoliczka (1870, 1873), Morice (1875), Anderson (1878), Flower (1896), Annandale (1900), Schenckel (1901), Boettger (1901), Ridley (1902, 1903-1904), Vaillant (1904), Boulenger (1890, 1900, 1920), Parker (1925, 1934), Chevey (1927), Delacour (1929). Smith (1921, 1924, 1943) mô tả nhiều loài mới tại cao nguyên Langbian và chuyên khảo về rắn Ấn Độ - Đông Dương. Tiêu biểu nhất là các công trình chuyên khảo của Bourret về rắn (1936), rùa (1941) và ếch nhái Đông Dương (1942). Tổng kết của Nguyen (2006) cho thấy giai đoạn này ghi nhận được 177 loài/phân loài thằn lằn, 245 loài/phân loài rắn, 45 loài/phân loài rùa và 171 loài/phân loài lưỡng cư tại Đông Dương.
Giai đoạn 1954 – 1975
- Ở miền Bắc: Đào Văn Tiến và cộng sự (1956, 1962) nghiên cứu khu hệ Vĩnh Linh (Quảng Trị) và Đình Cả (Thái Nguyên); Đào Văn Tiến và Lê Vũ Khôi (1965) công bố nghiên cứu sinh thái cá thể ếch đồng (Rana rugulosa). Báo cáo của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (1981) tổng kết giai đoạn 1956-1976 ghi nhận 228 loài (159 loài bò sát, 69 loài lưỡng cư).
- Ở miền Nam: Marx & Inger (1955) công bố loài rắn mới Calamaria buchi. Campden-Main (1970, tái bản 1984) công bố cẩm nang phân loại mô tả 77 loài rắn miền Nam Việt Nam.
Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
- Xây dựng khóa phân loại: Đào Văn Tiến hoàn thành các khóa định loại kinh điển cho 87 loài lưỡng cư (1977), 32 loài rùa và 2 loài cá sấu (1978), 77 loài thằn lằn (1979), 165 loài rắn (1981, 1982).
- Nghiên cứu khu hệ: Các luận án của Nguyễn Văn Sáng (1981), Hoàng Xuân Quang (1993), Trần Thanh Tùng (2008), Hoàng Văn Ngọc (2010), Hoàng Thị Nghiệp (2012), Đậu Quang Vinh (2014), Phan Thị Hoa (2015), Nguyen (2011), Tran (2013).
- Nghiên cứu khu vực lân cận: Ngô Đắc Chứng (1998, 2012), Nguyễn Quảng Trường (2000, 2002), Nguyễn Xuân Đặng và cs (2000), Lê Nguyên Ngật và cs (2001), Hồ Thu Cúc (2002), Ziegler et al. (2004, 2006, 2007), Hendrix et al. (2008), Lê Thanh Dũng và cs (2009), Lê Vũ Khôi và cs (2000, 2002, 2011), Hoàng Ngọc Thảo và cs (2012), Luu et al. (2013, 2014), Ngô Đắc Chứng và Trần Duy Ngọc (2007), Lê Thị Thanh và cs (2011), Ngô Đắc Chứng và Trần Hậu Khanh (2008), Trương Thị Vinh Hương và Lê Nguyên Ngật (2009), Nguyễn Quảng Trường và cs (2009), Nguyen et al. (2010), Rasmussen et al. (2011), Le et al. (2015).
- Danh lục tổng kết toàn quốc: Nguyễn Văn Sáng và cs (1996: 340 loài; 2005: 458 loài; 2009: 545 loài gồm 176 loài lưỡng cư và 369 loài bò sát). Theo Frost (2015) và Uetz & Hošek (2015), giai đoạn 2010-2014 ghi nhận thêm 81 loài mới (32 loài lưỡng cư, 49 loài bò sát).
| Giai đoạn công bố |
Số loài lưỡng cư mới |
Số loài bò sát mới |
Tổng số loài mới |
| Trước năm 1954 |
- |
- |
84 |
| 1954 – 1975 |
- |
- |
1 |
| 1976 – 1987 |
- |
- |
7 |
| 1988 – 2009 |
- |
- |
106 |
| 2010 – 2014 |
32 |
49 |
81 |
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Tại tỉnh Bình Định (phía Bắc Đèo Cù Mông), các công trình trước đây chỉ ghi nhận điểm xuyết: Campden-Main (1984) thống kê 4 loài rắn tại Quy Nhơn (Python reticulatus, Chersydrus granulatus, Ptyas korros, Xenochrophis piscator); Ngô Đắc Chứng và cs (2011) ghi nhận Leiolepis guttata; Hendrie và cs (2011) xác định 9 loài rùa. Chưa có công trình nào điều tra toàn diện về thành phần loài, cấu trúc phân loại, hình thái, sinh thái học phân bố và giá trị bảo tồn trên toàn tỉnh, cũng như phân tích mối quan hệ địa lý động vật học giữa vùng nghiên cứu với hai phân khu Trung Trường Sơn (CAN) và vùng đất thấp Trung - Nam Việt Nam (CSL).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án áp dụng các nguyên lý phân loại học hình thái động vật có xương sống cổ điển kết hợp tu chỉnh danh pháp hiện đại theo Frost (2015) đối với Lưỡng cư, Uetz & Hošek (2015) đối với Bò sát, và Nguyen et al. (2009) đối với tên tiếng Việt. Khung phân tích địa lý động vật học dựa trên sự so sánh giữa hai hệ thống phân vùng: quan điểm truyền thống của Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Trần Kiên (1985), Trần Kiên và Hoàng Xuân Quang (1992) (chia Việt Nam thành 7 phân khu) và quan điểm của Bain et al. (2011) (chia Đông Dương thành 19 phân khu, Việt Nam có 8 phân khu).
Nguồn tư liệu và vật liệu nghiên cứu
Luận án đã thu thập và phân tích tổng cộng 264 mẫu vật thực tế, bao gồm:
- 135 mẫu Lưỡng cư
- 52 mẫu Thằn lằn
- 58 mẫu Rắn
- 19 mẫu Rùa
Toàn bộ mẫu vật được xử lý định hình và lưu giữ tại Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế, cùng một số mẫu tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam).
Phương pháp nghiên cứu thực địa
- Tuyến khảo sát: Thiết lập 27 tuyến khảo sát tại 11 điểm thu mẫu đại diện cho 11 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh. Đã thực hiện 20 đợt khảo sát với tổng thời gian 101 ngày (mỗi đợt từ 4 đến 7 ngày), chủ yếu vào mùa khô từ tháng 1 đến tháng 9 (đặc biệt các tháng có mưa giông). Tọa độ và độ cao được xác định bằng máy định vị GPS Garmin 60CX.
- Phương pháp thu mẫu:
- Lưỡng cư: Thu trực tiếp bằng tay vào ban đêm từ 17h00 đến 24h00 dọc theo suối, vách đá, hang hốc, bờ ruộng, ao hồ.
- Bò sát: Thu mẫu ban ngày (9h00 - 14h00) và ban đêm (18h00 - 24h00). Thằn lằn được bắt bằng thòng lọng hoặc cần câu; rắn bắt bằng gậy kẹp hoặc móc sắt chuyên dụng; nhông cát thu tại các bãi cát ven biển.
- Xử lý mẫu: Gây mê bằng bông thấm ethyl acetate; đeo nhãn; mô cơ hoặc gan phục vụ sinh học phân tử được ngâm cồn 95% (cách ly formol). Cố định mẫu trong cồn 80-90% từ 4-10 giờ (tiêm cồn 90% vào cơ và khoang bụng đối với mẫu lớn), sau đó bảo quản trong cồn 70%.
- Phương pháp điều tra phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn người dân địa phương và thợ săn thông qua phiếu điều tra kết hợp bộ ảnh mẫu chuẩn để xác định tên địa phương, sự phân bố, tập tính, mùa sinh sản và mức độ khai thác, buôn bán thương mại.
Phân tích trong phòng thí nghiệm và xử lý số liệu
- Đo đạc hình thái: Sử dụng thước kẹp điện tử C-MART D0024-06 (sai số 0,01 mm).
- Lưỡng cư: Đo các chỉ tiêu SVL, HL, HW, SL, ED, TD, NS, EN, IML, UEW, TIB, FEM, HND, FTL, IN, ML, PL và tính công thức màng bơi theo Ohler & Delorme (2006).
- Thằn lằn: Đo SVL, HL, TrunkL, TL, HW, HH, EarL, ForeL, CrusL, đếm hàng vảy thân (SAB), vảy bụng (SB), lỗ trước huyệt (PrePore), lỗ đùi (FB), bản mỏng dưới ngón chân theo Manthey & Grossmann (1997) và Bourret (1943).
- Rắn: Đo SVL, HL, ED, EN, TL; đếm vảy bụng (VENT), vảy dưới đuôi (SUBC), vảy lưng (DOR1, DOR2, DOR3), vảy môi trên (SPL1, SPL2), vảy môi dưới (INFR), vảy thái dương (TEMP), tình trạng tấm hậu môn theo Manthey & Grossmann (1997).
- Rùa: Đo chiều dài mai (CL), chiều rộng mai (CW), chiều cao mai (SH), chiều dài yếm (PL), chiều dài đuôi (LT), phân tích hình thái các tấm sừng mai và yếm theo Hoàng Xuân Quang và cs (2012).
- Định danh khoa học: Dựa trên các tài liệu chuyên khảo của Bourret (1942), Taylor (1962), Yang et al. (1980), Inger et al. (1999), Ohler et al. (2000), Bain et al. (2003, 2005, 2009), Stuart et al. (2001, 2006), Tran et al. (2010), Hecht et al. (2013), Smith (1943), Campden-Main (1984), Nguyễn Văn Sáng (2007), Hendrie và cs (2011), Hoàng Xuân Quang và cs (2012).
- Xử lý thống kê: Phân tích ma trận tương đồng trên phần mềm PAST (Hammer et al.). Mức độ tương đồng thành phần loài được tính theo chỉ số Sørensen - Dice:
$$d_{jk} = \frac{2M}{2M + N}$$
(Trong đó: $M$ là số loài xuất hiện ở cả hai vùng so sánh; $N$ là tổng số loài chỉ xuất hiện ở một trong hai vùng).
- Đánh giá tình trạng bảo tồn: Phân hạng theo Sách Đỏ Việt Nam (2007), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, Nghị định số 160/2013/NĐ-CP, Danh lục Đỏ IUCN (2015) và Công ước CITES (2013).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Khái quát tình hình nghiên cứu lưỡng cư, bò sát và điều kiện tự nhiên, xã hội của vùng nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các chặng đường nghiên cứu LCBS trên thế giới, tại Việt Nam và khu vực nghiên cứu, đồng thời phân tích chi tiết điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định.
- Đặc điểm tự nhiên: Tỉnh Bình Định có diện tích 6.025,6 km², trải dài 110 km theo chiều Bắc - Nam, chiều ngang trung bình 55 km. Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông với 4 vùng đặc trưng:
- Vùng núi: Chiếm 2.498,66 km² ở phía Tây và Tây Bắc (thuộc An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh, Tây Sơn, Hoài Ân), địa hình phân cắt mạnh, có 11 đỉnh cao trên 1.000 m và 13 đỉnh cao từ 700 - 1.000 m.
- Vùng đồi: Diện tích 1.592,76 km², độ cao dưới 100 m, độ dốc 10° - 15°.
- Vùng đồng bằng lòng chảo: Độ cao 25 - 50 m nằm ở hạ lưu các sông.
- Vùng ven biển: Bờ biển dài 134 km với dải cồn cát rộng 2 km, hệ thống đầm nước lớn (Trà Ổ, Thị Nại, Đề Gi) và các cửa biển (Tam Quan, Đề Gi, Quy Nhơn...).
- Hệ thống thủy văn và khí hậu: 4 hệ thống sông chính gồm sông Kôn, Lại Giang, La Tinh, Hà Thanh. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa; nhiệt độ trung bình vùng núi 20,1°C - 26,1°C, vùng duyên hải 27,0°C; mùa mưa chính từ tháng 9 đến tháng 12 (miền núi có thêm mùa mưa phụ tháng 5 - 8 do ảnh hưởng Tây Nguyên).
- Sinh cảnh và kinh tế - xã hội: Xác định 7 dạng sinh cảnh: Rừng tự nhiên (chủ yếu ở độ cao >300 m); Rừng trồng keo, bạch đàn (<300 m); Trảng cỏ, cây bụi; Khu dân cư và nương rẫy; Sông suối và ven sông suối; Ruộng canh tác ngập nước; Bãi cát có cây bụi, cỏ ven biển. Dân số năm 2012 là 1.502.371 người; gồm nhiều dân tộc cùng sinh sống (Kinh, Bana, Hrê, Chăm...). Rừng tự nhiên sản xuất có 142.860 ha nhưng rừng giàu chỉ còn 3.944 ha (chiếm tỷ lệ nhỏ), cho thấy mức độ thoái hóa sinh cảnh rừng ở mức nghiêm trọng.
Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết tiêu chí chọn tuyến khảo sát thực địa, kỹ thuật thu bắt, quy trình xử lý bảo quản 264 mẫu vật, hệ thống 27 chỉ tiêu đo đạc hình thái lưỡng cư, 26 chỉ tiêu thằn lằn, 18 chỉ tiêu rắn và 5 chỉ tiêu rùa. Chương này cũng chuẩn hóa phương pháp phân loại tần suất bắt gặp (thường gặp +++: 75-100% số điểm; ít gặp ++: 50-74%; hiếm gặp +: <50%), phương pháp điều tra xã hội học và giải thuật tính chỉ số Sørensen - Dice bằng phần mềm PAST.
Chương 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày toàn bộ kết quả phân tích định danh, cấu trúc phân loại, hình thái, phân bố và bảo tồn khu hệ:
- Thành phần loài: Xác định tại vùng phía Bắc Đèo Cù Mông có 111 loài LCBS thuộc 66 giống, 27 họ, 3 bộ.
- Lớp Lưỡng cư (Amphibia): 30 loài thuộc 14 giống, 6 họ, 1 bộ (Bộ Không đuôi - Anura).
- Lớp Bò sát (Reptilia): 81 loài thuộc 52 giống, 21 họ, 2 bộ (Bộ Có vảy - Squamata có 62 loài gồm 22 loài thằn lằn và 40 loài rắn; Bộ Rùa - Testudines có 19 loài).
- Căn cứ nguồn dẫn liệu: 91 loài có mẫu vật thu thập trực tiếp, 8 loài xác định qua ảnh chụp và 12 loài kế thừa tài liệu đã công bố.
| Bậc phân loại |
Lớp Lưỡng cư |
Lớp Bò sát |
Tổng số khu hệ |
| Bộ |
1 |
2 |
3 |
| Họ |
6 |
21 |
27 |
| Giống |
14 |
52 |
66 |
| Loài |
30 |
81 |
111 |
- Cấu trúc phân loại: Bộ Squamata chiếm ưu thế với 16 họ (59,25% tổng số họ) và 38 giống (57,57% tổng số giống toàn khu hệ). Trong lớp Lưỡng cư, họ Dicroglossidae có số giống nhiều nhất (4 giống, chiếm 28,57% số giống lưỡng cư), tiếp đến là Ranidae (3 giống, chiếm 21,43%), các họ Bufonidae, Microhylidae, Rhacophoridae (mỗi họ 2 giống, chiếm 14,29%) và Megophryidae (1 giống, chiếm 7,14%).
- Ghi nhận mới: Bổ sung 79 loài LCBS cho danh lục tỉnh Bình Định (27 loài lưỡng cư, 18 loài thằn lằn, 25 loài rắn, 9 loài rùa).
- Ghi nhận 4 loài rùa phân bố tại phân khu Trung Trung Bộ: Cuora amboinensis, Siebenrockiella crassicollis, Heosemys grandis, Malayemys subtrijuga.
- Ghi nhận loài Rùa bốn mắt (Sacalia quadriocellata) vượt qua ranh giới Đèo Hải Vân vào đến Bình Định.
- Lần đầu tiên xác nhận sự hiện diện của loài Rùa hộp ba vạch (Cuora cyclornata) tại địa bàn nghiên cứu.
- Loại khỏi danh lục tự nhiên loài Rùa tai đỏ (Trachemys scripta elegans) do là loài ngoại lai xâm hại và Cá sấu nuôi thương mại tại Bồng Sơn do không phải loài bản địa.
- Mô tả hình thái: Hoàn thiện bản mô tả đặc điểm hình thái định loại, bảng số đo kích thước chi tiết của 74 loài thu được mẫu vật thực địa.
- Phân bố sinh thái và tần suất bắt gặp:
- Phân tích tần suất bắt gặp: Đa số các loài ở mức hiếm gặp (
+), một số ít loài phân bố rộng và thường gặp (+++) như Microhyla fissipes, Hylarana guentheri, Polypedates megacephalus, Gekko gecko, Hemidactylus frenatus, Eutropis multifasciatus, Bungarus fasciatus, Trimeresurus albolabris...
- Phân bố theo nơi ở và 7 dạng sinh cảnh: Số lượng loài phong phú nhất ở sinh cảnh rừng tự nhiên trên núi cao và ven khe suối; thấp nhất ở các trảng cát ven biển và ruộng canh tác.
- Phân bố theo độ cao: Phân định rõ hai đai độ cao chính là dưới 300 m và trên 300 m, sự khác biệt về thành phần loài giữa hai đai được kiểm chứng thông qua chỉ số tương đồng Dice.
- Đánh giá địa lý động vật học: Phân tích chỉ số Sørensen - Dice giữa Bình Định với các tỉnh lân cận và hai phân khu CAN (Vùng núi Trung Trường Sơn) và CSL (Vùng đất thấp Trung - Nam Việt Nam), chỉ ra mối giao thoa khu hệ phức tạp tại khu vực đèo Cù Mông.
- Hiện trạng đe dọa và bảo tồn: Nhận diện các áp lực chính gồm suy thoái diện tích rừng tự nhiên giàu trữ lượng, biến đổi sinh cảnh do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, và hoạt động săn bắt, buôn bán thương phẩm/ngâm rượu/làm cảnh đối với các loài bò sát quý hiếm (kỳ đà, rắn hổ, rùa hộp). Đề xuất giải pháp bảo tồn nguyên vị tại các khu đề xuất bảo tồn (Núi Bà, An Toàn, Ghềnh Ráng).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Lập danh mục kiểm kê đầy đủ, cập nhật thành phần loài khu hệ LCBS vùng phía Bắc Đèo Cù Mông (tỉnh Bình Định) gồm 111 loài thuộc 66 giống, 27 họ, 3 bộ.
- Ghi nhận mới cho khu hệ tỉnh Bình Định 79 loài (27 loài lưỡng cư, 25 loài rắn, 18 loài thằn lằn, 9 loài rùa), lấp đầy khoảng trống dữ liệu phân bố tại khu vực duyên hải Nam Trung Bộ.
- Bổ sung dẫn liệu kích thước hình thái và sinh thái học của 74 loài thu được mẫu vật thực địa.
- Mở rộng vùng phân bố địa lý động vật đã biết: ghi nhận lần đầu 4 loài rùa (Cuora amboinensis, Siebenrockiella crassicollis, Heosemys grandis, Malayemys subtrijuga) tại phân khu Trung Trung Bộ; xác nhận loài Rùa bốn mắt (Sacalia quadriocellata) phân bố mở rộng về phía Nam vượt qua đèo Hải Vân; xác nhận sự hiện diện của loài rùa quý hiếm Cuora cyclornata tại Bình Định.
- Cung cấp dữ liệu định lượng về chỉ số tương đồng Sørensen - Dice, phục vụ nghiên cứu ranh giới địa lý động vật học giữa phân khu CAN và CSL tại miền Trung.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học tin cậy cho Chi cục Kiểm lâm, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định trong công tác quy hoạch, thành lập và quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên (An Toàn, Núi Bà, Ghềnh Ráng).
- Xây dựng bộ sưu tập mẫu vật chuẩn gồm 264 mẫu lưu giữ tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Huế và Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành Động vật học.
- Nhận diện các loài có giá trị kinh tế và đề xuất hướng gây nuôi sinh sản thương mại bền vững, tạo sinh kế thay thế nhằm giảm áp lực khai thác tài nguyên hoang dã.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào các loài LCBS trên đất liền; đối với các loài bò sát biển (như các loài đẻn biển họ Elapidae, rùa biển họ Cheloniidae) chỉ dừng lại ở việc kế thừa tài liệu mà chưa thể tổ chức khảo sát chuyên sâu trên biển. Một số loài quý hiếm như Giải (Pelochelys cantorii) chưa thể thu thập được mẫu thực địa xác nhận chắc chắn trong giai đoạn điều tra.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng điều tra thực địa chuyên đề đối với các loài bò sát biển và rùa nước ngọt tại các hệ thống sông đầm lớn (đầm Thị Nại, Trà Ổ).
- Ứng dụng sâu hơn các kỹ thuật sinh học phân tử (giải trình tự gen ty thể/nhân) kết hợp âm sinh học (bioacoustics) để giải quyết triệt để các phức hợp loài lưỡng cư còn tranh chấp phân loại.
- Nghiên cứu sâu về đặc điểm sinh học cá thể, tập tính sinh sản và hoàn thiện quy trình kỹ thuật gây nuôi nhân tạo một số loài có giá trị kinh tế cao.
Giá trị tham khảo
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Động vật học, Sinh học, Sinh thái học, Quản lý tài nguyên rừng tại các trường đại học và viện nghiên cứu. Các bản mô tả hình thái và bảng số đo chi tiết của 74 loài là tài liệu chuẩn trong giám định mẫu vật.
- Đối với công tác quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp tài liệu tra cứu trực tiếp cho cán bộ kiểm lâm, ban quản lý rừng đặc dụng, chuyên viên bảo tồn đa dạng sinh học trong việc xác định loài ưu tiên bảo vệ theo Sách Đỏ Việt Nam, Nghị định 160/2013/NĐ-CP và Công ước CITES.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã ghi nhận tổng cộng bao