ĐẶT VẤN ĐỀ Hệ động vật nói chung và chim nói riêng có vai trò to lớn không chỉ đối với tự nhiên mà còn đối với cuộc sống của con ngƣời. Chim chiếm một số lƣợng lớn trong giới động vật. Các loài chim là một thực thể nằm trong chuỗi thức ăn của tự nhiên, do vậy chúng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì tính đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái. Tính đa dạng về các loài chim đã giúp cho hệ sinh thái luôn đƣợc cân bằng.
Bên cạnh đó, cùng với côn trùng chim còn góp phần không nhỏ trong việc thụ phấn cho hoa phát tán hạt giống, tạo điều kiện cho nhiều loài thực vật tồn tại, phát triển và mở rộng vùng sống, góp phần vào sự phát triển hệ thực vật trên trái đất. Tuy nhiên, cũng giống nhƣ các loài sinh vật trên trái đất, các loài chim đang phải đối mặt với nhiều thách thức cho sự tồn tại và phát triển. Khu hệ chim tại nhiều khu vực đang bị suy giảm một cách nghiêm trọng, nhiều loài đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng, đặc biệt là các loài quý hiếm. Đây không chỉ là nguy cơ của một quốc gia mà mang tính toàn cầu.
Nguyên nhân chủ yếu là giá trị to lớn mà các loài chim mang lại cho con ngƣời. Hơn nữa, các loài chim rất nhạy cảm với những tác động của con ngƣời và biến đổi của môi trƣờng. Đây thực sự là một thách thức rất lớn trong việc bảo tồn các loài chim nói riêng và tính đa dạng sinh học nói chung tai Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới. Vƣờn quốc gia (VQG) Ba Vì là đơn vị trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cách thủ đô Hà Nội 60 km về phía Tây.
VQG Ba Vì đƣợc Chính phủ phê duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật theo quyết định số 407/CT ngày 18/12/1991 của Thủ tƣớng Chính phủ với diện tích ban đầu là 6.168,6 ha đến năm 2003 VQG Ba Vì đƣợc mở rộng 4.646 ha, hiện nay với tổng diện tích là 10. VQG Ba Vì từ xƣa đã nổi tiếng là vùng có Khu hệ động, thực vật rừng phong phú và đa dạng. Trong đó có nhiều loài động thực vật quý hiếm cần đƣợc bảo vệ, bảo tồn và phát triển nguồn gen. Đặc biệt là sự đa dạng của Khu hệ chim.
1 Nhìn chung, các nghiên cứu về chim tại VQG Ba Vì còn chƣa đầy đủ. Đặc biệt thông tin về các loài chim quý hiếm còn thiếu, phân bố các loài theo đai cao và sinh cảnh, điều này sẽ gây ra nhiều khó khăn trong công tác quản lý cũng nhƣ công tác bảo tồn. Chính vì vậy, điều tra Khu hệ chim tại VQG Ba Vì, là rất cần thiết. Xuất phát từ lí do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu Khu hệ chim và đề xuất giải pháp bảo tồn tại Vườn quốc gia Ba Vì”.
2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lƣợc sử nghiên cứu trong nƣớc Trƣớc năm 1945, hầu hết các tài liệu nghiên cứu về các loài chim là của các nhà khoa học nƣớc ngoài. Từ năm 1945 đến 1954, mọi nghiên cứu về chim đều bị gián đoạn do chiến tranh. Sau năm 1954, các công trình nghiên cứu về chim mới đƣợc thực hiện trở lại.
Đáng chú ý là công trình nghiên cứu của tác giả Võ Quý (1962 - 1966). Năm 1971, Võ Quý đã công bố công trình “Sinh học các loài chim thƣờng gặp ở Việt Nam”[11], đó là kết quả tổng hợp nghiên cứu hơn 7 năm về đời sống của các loài chim phổ biến ở miền Bắc Việt Nam. Trong sách tác giả đã trình bày đầy đủ các đặc điểm về nơi ở, thức ăn, sinh sản và một số tập tính khác của gần 200 loài chim miền Bắc Việt Nam, đa số là các loài chim có giá trị kinh tế. Đây là công trình nghiên cứu về chim đầy đủ và sát thực tế nhất cho đến thời kỳ đó.
Sau khi đất nƣớc hoàn toàn thống nhất Võ Quý tập hợp các kết quả nghiên cứu và cho ra đời cuốn “Chim Việt Nam hình thái và phân loại”[12] tập I xuất bản năm 1975, tập II xuất bản năm 1981. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về chim trên toàn lãnh thổ Việt Nam về mặt hình thái và phân loại. Sau năm 1975, là thời kỳ xây dựng đất nƣớc sau chiến tranh, nền kinh tế Việt Nam còn nghèo nàn lạc hậu, cùng với sự gia tăng dân số mạnh mẽ, nhu cầu về gỗ, về thực phẩm là ngày càng cao. Năm 1999, Võ Quý và Nguyễn Cử công bố cuốn “Danh lục chim Việt Nam”[13], gồm 19 bộ, 81 họ, 828 loài chim đã tìm thấy ở Việt Nam, cuốn sách góp phần giải quyết một phần những khó khăn trong công tác bảo tồn chim Việt Nam.
Năm 2000, cuốn “ Chim Việt nam”[3] của tập thể các tác giả Nguyễn Cử, Lê Trọng Khải, Karren Phillips đƣợc biên soạn trên cơ sở “Chim Hồng Kông và Nam Trung Quốc” (1994) của các tác giả Clive Viney, Lam chin Ying và Karren 3 Phillips. Trong sách các tác giả đã giới thiệu khoảng 500 loài chim trong tổng số khoảng 850 loài chim hiện ghi nhận ở Việt Nam. Đây là một trong những cuốn sách đƣợc sử dụng phổ biến để nhận dạng các loài chim ngoài thực địa hiện nay. Năm 2007, Lê Đình Thủy đã công bố 164 loài chim trong 5 bộ của 19 bộ chim Việt Nam, bao gồm: Bồ nông Pelecaniformes, Hạc Ciconiiformes, Ngỗng Anserifomes, Sếu Gruiformes, Rẽ Charadriiformes.
Công trình này đƣợc xuất bản trong bộ sách Động vật chí Việt Nam: “ Chim Việt Nam - Aves” (Nxb khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2007). Trong đó có nhiều loài chim phân bố ở miền Bắc Việt Nam. Năm 2011, Nguyễn Lân Hùng Sơn, Nguyễn Thanh Vân đã công bố cuốn “Danh lục chim Việt Nam” gồm 887 loài thuộc 88 họ và 20 bộ. Nhƣng năm gần đây, nhiều dự án bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam đƣợc tài trợ từ quỹ hỗ trợ của chính phủ các nƣớc nhƣ: Hà lan, Úc, Đức,…từ các tổ chức phi chính phủ: Tổ chức bảo tồn chim Quốc tế (Birdlife international), tổ chức bảo vệ động thực vật Quốc tế (IUCN), quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), Ngân hàng Thế giới (WB)…Do vậy mà công tác nghiên cứu, bảo tồn đa dạng sinh học ở nƣớc ta ngày càng đƣợc quan tâm.
Cho đến nay tại hầu hết các Vƣờn quốc gia (VQG), Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) của Việt Nam, công tác điều tra cơ bản tài nguyên sinh vật, trong đó có tài nguyên chim đã đƣợc tiến hành. Lƣợc sử nghiên cứu chim tại Vƣờn quốc gia Ba Vì Tài nguyên thiên nhiên ở VQG Ba Vì rất phong phú và đa dạng, khí hậu trong lành, mát mẻ. Hệ thực vật, hệ động vật, hệ sinh thái rừng đặc trƣng của khí hậu vùng mƣa nhiệt đới và á nhiệt đới núi thấp. Theo dự án đầu tƣ (Anon, 1991) và theo tài liệu “Thực vật chí Đông Dƣơng” thời pháp thuộc và các tài liệu điều tra năm 1999 đã ghi nhận ở Ba Vì có 44 loài thú, 114 loài chim, 15 loài Bò sát và 9 loài Ếch.
Trong đó có 24 loài quý hiếm đƣợc ghi vào sách đỏ Việt Nam, (Nguồn: Luận chứng kinh tế kỹ thuật VQG Ba Vì, 1991). 4 Đỗ Quang Huy (2008), Báo cáo kết quả điều tra khu hệ chim VQG Ba Vì đã thống kê đƣợc 342 loài của 91 họ, 28 bộ. Trong đó, lớp thú có 63 loài, 24 họ, 8 bộ; lớp chim có 191 loài, 48 họ, 17 bộ; lớp Bò sát có 61 loài, 15 họ, 2 bộ và lớp lƣỡng cƣ có 27 loài, 4 họ, 1 bộ. Trong số này có có 3 loài đặc hữu và 66 loài động vật rừng (ĐVR) quý hiếm.
Trong 342 loài đƣợc ghi nhận có 23 loài có mẫu đƣợc sƣu tập hoặc đang đƣợc lƣu trữ ở địa phƣơng, 141 loài đƣợc quan sát ngoài thực địa và 183 loài theo phỏng vấn thợ săn hoặc tập hợp qua tài liệu đã có. Tuy nhiên, thời gian gần đây sự khai thác quá mức của con ngƣời đối với tài nguyên rừng Ba Vì, nhất là những dự án du lịch đang đƣợc mở rộng, sự đa dạng và phong phú của các loài chim tại đây cũng bị ảnh hƣởng rất nhiều. Một số loài đang có nguy cơ tuyệt chủng cục bộ. 5 CHƢƠNG II ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 2.
Đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý - Vị trí: Vƣờn quốc gia Ba Vì đƣợc thành lập năm 1991 nay thuộc sự quản lý trực tiếp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT). Vƣờn quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn 16 xã thuộc 5 huyện: (Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai thuộc thành phố Hà Nội và Lƣơng Sơn, Kỳ Sơn thuộc tỉnh Hòa Bình), cách thủ đô Hà Nội 50 km về phía Tây theo trục đƣờng Láng - Hòa Lạc, qua thị xã Sơn Tây. Hệ thống giao thông đi lại khá thuận tiện.
- Tọa độ địa lý: Từ 20055’ - 21007’ Vĩ độ Bắc; 105018’ - 105030’ Kinh Đông. - Ranh giới Vườn Quốc gia: + Phía Bắc giáp các xã Ba Trại, Ba Vì, Tản Lĩnh huyện Ba Vì, Hà Nội. + Phía Nam giáp các xã Phúc Tiến, Dân Hòa thuộc huyện Kỳ Sơn, xã Lâm Sơn thuộc huyện Lƣơng Sơn tỉnh Hòa Bình. + Phía Đông giáp các xã Vân Hòa, Yên Bài thuộc huyện Ba Vì; Yên Bình, Yên Trung, Tiến Xuân thuộc huyện Thạch Thất; Xã Đồng Xuân thuộc huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội và xã Yên Quang huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình.
+ Phía Tây giáp các xã Khánh Thƣợng, Minh Quang huyện Ba Vì, Hà Nội và xã Phú Minh huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình. - Tổng diện tích tự nhiên của VQG Ba Vì là: 10.000 Nguồn: VQG Ba Vì, năm 2014 Hình 2. Bản đồ hành chính VQG Ba Vì 7 2. Địa hình, địa thế Ba Vì là một vùng núi trung bình, núi thấp và đồi trung du tiếp giáp với vùng bán sơn địa.
Vùng núi gồm các dãy núi liên tiếp, nổi lên rõ nét là các đỉnh nhƣ đỉnh Vua cao 1291,5 m, đỉnh Tản Viên cao 1227 m, đỉnh Ngọc Hoa cao 1131 m. Địa hình chia cắt bởi những khe và thung lũng, suối hẹp. Ba Vì là một vùng núi có độ dốc khá lớn, sƣờn phía Tây đổ cuống sông Đà, dốc hơn so với sƣờn Tây Bắc và Đông Nam, độ dốc trung bình khu vực là 250, càng lên cao độ dốc càng tăng, từ độ cao 400 m trở lên, độ dốc trung bình là 350, và có vách đá lộ nên việc đi lại trong Vƣờn là không thuận lợi. Khí hậu thủy văn Khu vực VQG Ba Vì có khí hậu phong phú và đa dạng, chịu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố sinh khí hậu đặc thù.