Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong những quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao trên thế giới với các hệ sinh thái phong phú, bao gồm khoảng 11.458 loài động vật, hơn 21.000 loài thực vật và 3.000 loài vi sinh vật. Trong lớp Côn trùng (Insecta), bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) là một trong những bộ có mức độ phân hóa loài lớn nhất. Nhóm bướm hoạt động ban ngày (Rhopalocera) giữ vai trò sinh thái quan trọng thông qua việc tham gia thụ phấn cho thực vật, góp phần duy trì cân bằng hệ sinh thái và làm gia tăng giá trị cảnh quan tự nhiên. Do đặc tính nhạy cảm cao với sự thay đổi của thảm thực vật, cấu trúc rừng, vi khí hậu và thời tiết, bướm ngày thường được sử dụng làm sinh vật chỉ thị sinh thái phục vụ đánh giá chất lượng rừng và giám sát hiệu quả bảo tồn.

Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Phu Canh thuộc địa bàn huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình là khu rừng đặc dụng có hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới phong phú, đóng vai trò phòng hộ đầu nguồn sông Đà và bảo tồn nguồn gen. Mặc dù vậy, sự biến đổi trạng thái rừng do tác động dân sinh và thời gian dài chưa có các khảo sát cập nhật đã đặt ra yêu cầu phải đánh giá lại khu hệ côn trùng tại đây. Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu khu hệ bướm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình và đề xuất các biện pháp quản lý" của sinh viên Nguyễn Tiến Dũng (ngành Quản lý tài nguyên rừng, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, năm 2019) được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn trên.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản:

  1. Mục tiêu tổng quát: Góp phần bảo tồn các loài bướm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình và đề xuất các biện pháp quản lý.
  2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể: Xác định thành phần các loài bướm ngày hiện diện tại khu vực nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp bảo tồn, quản lý các loài bướm ngày tại KBTTN Phu Canh.

Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:

  • Không gian: Địa bàn KBTTN Phu Canh, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình (thuộc địa giới hành chính 4 xã: Đoàn Kết, Tân Pheo, Đồng Chum và Đồng Ruộng).
  • Thời gian: Nghiên cứu thực địa và xử lý mẫu vật được thực hiện từ tháng 02/2019 đến tháng 05/2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và tài liệu giám định

Đề tài dựa trên cơ sở phân loại học côn trùng thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera), phân bộ bướm ngày (Rhopalocera), kết hợp sinh thái học côn trùng rừng và sinh thái học cảnh quan. Tác giả sử dụng các tài liệu chuyên ngành để đối chiếu đặc điểm hình thái, sinh thái và phân loại, bao gồm:

  • Giáo trình "Côn trùng rừng" (Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã, 1997);
  • Danh lục và tài liệu bướm Việt Nam của Monastyrskii và Devyatkin (2001, 2003a, 2003b, 2003c);
  • Các khóa định loại quốc tế và khu vực như: Sổ tay quan sát bướm ngày Trung Quốc (2008, NXB Công nghiệp hóa học), Bảo tàng côn trùng (Lý Tương Tào, 2006, NXB Thời sự), Bộ mẫu ảnh sinh thái 600 loài côn trùng Trung Quốc (Triệu Mai Quân, 2004, NXB Khoa học Thượng Hải);
  • Đánh giá cấp độ quý hiếm dựa trên Sách đỏ Việt Nam (các phiên bản 1992, 2000, 2007) và Danh lục Đỏ của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 2002).

Phương pháp nghiên cứu thực địa

Nghiên cứu áp dụng phương pháp điều tra theo tuyến kết hợp lập điểm điều tra cố định:

  • Thiết lập tuyến và điểm: Bố trí 4 tuyến điều tra tại 4 khu vực đại diện cho các dạng sinh cảnh và đai độ cao khác nhau trong KBTTN Phu Canh, tổng chiều dài tuyến khảo sát là 54,57 km với 25 điểm điều tra.
Tuyến điều tra Địa bàn xã Chiều dài tuyến (km) Số điểm điều tra Đặc điểm sinh cảnh chính
Tuyến 01 Nhạp (Đồng Ruộng) 14,02 6 Rừng tự nhiên, rừng thứ sinh, ven suối, trảng cỏ, cây bụi, bãi chăn thả, đồng ruộng
Tuyến 02 Đồng Chum 17,12 6 Rừng tự nhiên, ven suối, trảng cỏ, cây bụi, bãi chăn thả, đồng ruộng
Tuyến 03 Tân Pheo 10,40 7 Rừng tự nhiên, rừng thứ sinh, ven suối, trảng cỏ, cây bụi, bãi chăn thả, đồng ruộng
Tuyến 04 Đoàn Kết 13,03 6 Rừng thường xanh ưa ẩm á nhiệt đới, rừng tự nhiên, ven suối
Tổng cộng 4 khu vực 54,57 25 Đa dạng các sinh cảnh rừng, ven suối và trảng cây bụi
  • Thu thập mẫu vật: Sử dụng vợt bắt bướm chuyên dụng (vải màn, đường kính miệng vợt 30 cm, cán gỗ dài 1,5–3,0 m). Tại mỗi điểm điều tra, thời gian thu bắt là 30 phút. Bướm sau khi bắt được xử lý gây ngất bằng cách bóp nhẹ vào phần ngực, xếp cánh và bảo quản tạm thời trong bao giấy tam giác tráng paraffin có ghi rõ ký hiệu, ngày tháng, vị trí thu bắt, sau đó đưa vào hộp bảo quản.
  • Xử lý và tạo mẫu: Mẫu vật được làm mềm, trải cánh trên miếng xốp chuyên dụng có rãnh đặt thân, cố định cánh và râu bằng kim cắm và băng giấy, phơi khô từ 4 đến 5 ngày nhằm chống mốc. Mẫu khô được cắm kim côn trùng xuyên qua ngực giữa (1/3 kim nhô lên phía lưng, 2/3 ở phía bụng) và lưu trữ phục vụ giám định tại phòng thí nghiệm Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Trường Đại học Lâm nghiệp.

Phương pháp xử lý số liệu

  1. Tỷ lệ bắt gặp ($P%$): Được tính theo công thức: $$P% = \frac{n}{N} \times 100$$ Trong đó $n$ là số điểm ghi nhận sự xuất hiện của loài $i$; $N$ là tổng số điểm điều tra ($N = 25$). Phân loại tần suất:
    • $P% < 25%$: Loài rất ít hoặc ngẫu nhiên gặp (ký hiệu: x);
    • $25% \le P% \le 50%$: Loài ít gặp (ký hiệu: xx);
    • $P% > 50%$: Loài thường gặp (ký hiệu: xxx).
  2. Chỉ số phong phú Margalef ($d$): Dùng để đánh giá mức độ đa dạng loài theo sinh cảnh, độ cao và hướng phơi: $$d = \frac{S - 1}{\ln(N)}$$ Trong đó $S$ là tổng số loài ghi nhận và $N$ là tổng số cá thể thu được trong khu vực khảo sát tương ứng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu về bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) và nhóm bướm ngày (Rhopalocera) trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam:

  • Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Nêu bật các công trình phân loại học từ đầu thế kỷ XX như công trình của J. de Joannis (1930) nghiên cứu bướm ở Bắc Kỳ ghi nhận 1.798 loài thuộc 746 giống và 45 họ. Các ước tính quốc tế cho thấy bộ Lepidoptera có khoảng 180.000 loài đã được định danh, trong đó bướm ngày chiếm khoảng 17.500–19.445 loài (chiếm khoảng 11% tổng số loài của bộ). Tác giả tổng thuật các nghiên cứu khu hệ tại Ấn Độ (Wynter-Blyth, 1957), Thái Lan (Pinratana, 1981–1988), Malaysia (Corbet & Pendlebury, 1992), Trung Quốc (Chou, 1998) và Philippines (Finn & Colin, 2003). Đồng thời trích dẫn các quy luật sinh thái học: tính đa dạng của bướm tăng theo cấu trúc phức tạp của thảm thực vật (Price, 1975), đạt cao nhất ở giai đoạn rừng bị tác động vừa phải và giảm mạnh ở các khu vực đô thị hóa (Blair & Launer, 1997; Bobo, 2006).
  • Tình hình nghiên cứu trong nước: Điểm lại các mốc lịch sử từ danh sách 454 loài của Metaye (1957), các chương trình điều tra của Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga tại các Vườn quốc gia Ba Bể, Ba Vì, Tam Đảo, Cúc Phương, Phong Nha - Kẻ Bàng. Các nghiên cứu chuyên sâu của Devyatkin, Monastyrskii (2001, 2003) xây dựng danh lục bướm Việt Nam với 994 loài; các khảo sát định lượng làm sinh vật chỉ thị của Spitzer et al. (1993, 1997), Vũ Văn Liên (2002, 2005). Các nghiên cứu tại các khu bảo tồn lân cận như Lạng Sơn (Hoàng Văn Cường, 2016 với 62 loài), Thanh Hóa (Lê Cường, 2017 với 29 loài).
  • Tình hình nghiên cứu tại KBTTN Phu Canh: Nhận định rằng mặc dù trạng thái rừng tại Phu Canh có nhiều biến đổi qua thời gian, khu vực này vẫn thiếu vắng các nghiên cứu chuyên đề chuyên sâu và có hệ thống về khu hệ bướm ngày, khẳng định tính cần thiết của đề tài.

Chương 2: Mục tiêu, giới hạn, nội dung, phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết cơ sở phương pháp luận của khóa luận:

  • Thiết lập hệ thống mục tiêu nghiên cứu tổng quát và mục tiêu cụ thể;
  • Xác định giới hạn không gian (5.647 ha của KBTTN Phu Canh) và thời gian thực hiện (tháng 2–5/2019);
  • Quy định các nội dung nghiên cứu: xây dựng danh lục, phân tích đặc điểm hình thái và sinh thái học, phân tích phân bố theo đai cao và hướng phơi, nhận diện loài quý hiếm và đề xuất giải pháp quản lý;
  • Chuẩn hóa quy trình thực địa, phương pháp lập 4 tuyến khảo sát dài 54,57 km với 25 điểm điều tra, kỹ thuật bắt mẫu bằng vợt, quy trình gấp bao paraffin, kỹ thuật căng mẫu khô cắm kim, cùng các công thức tính tỷ lệ bắt gặp ($P%$) và chỉ số đa dạng Margalef ($d$).

Chương 3: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu

Chương 3 cung cấp bức tranh toàn diện về môi trường tự nhiên và hoàn cảnh dân sinh - kinh tế tại KBTTN Phu Canh:

  • Điều kiện tự nhiên:
    • Vị trí và diện tích: Nằm trên địa bàn 4 xã Tân Pheo, Đồng Chum, Đồng Ruộng, Đoàn Kết thuộc huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình. Tổng diện tích tự nhiên là 5.647 ha (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 2.434,6 ha; phân khu phục hồi sinh thái: 3.212,4 ha).
    • Địa hình: Địa hình núi cao hiểm trở gồm 3 dông núi chính; đỉnh cao nhất là đỉnh Phu Canh (1.349 m), độ cao trung bình 900 m, thấp nhất 300 m; độ dốc bình quân trên 30°. Mạng lưới thủy văn gồm lưu vực suối Nhạp và suối Chum đổ ra hồ sông Đà.
    • Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa; lượng mưa trung bình 1.824,4 mm/năm (mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm 93,6% lượng mưa; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau chiếm 6,4%); độ ẩm không khí trung bình 83%; nhiệt độ không khí trung bình 21,7°C (dao động từ 14,6°C đến 29°C, cực tiểu 5°C vào tháng 1).
    • Địa chất và thổ nhưỡng: Đá mẹ gồm đá vôi, đá macma axit và sa thạch. Nhóm đất chính là đất Feralitic mùn đỏ vàng và vàng nhạt trên núi có rừng (chiếm 67,3% diện tích, tương đương 3.800 ha) và đất Feralitic vùng đồi trọc, cây bụi (1.847 ha).
    • Tài nguyên rừng: Diện tích đất có rừng là 4.213,9 ha (chiếm 74,6% diện tích tự nhiên), trong đó rừng tự nhiên là 4.106,5 ha (trữ lượng gỗ 363.343 m³), rừng nứa và hỗn giao nứa gỗ 345 ha.
  • Điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội:
    • Dân tộc và dân số: Dân số 4 xã gồm 2.207 hộ (11.207 nhân khẩu), trong đó dân tộc Tày chiếm ưu thế tuyệt đối (85,34%), tiếp theo là dân tộc Dao (9,47%), Mường (4,16%) và Kinh (0,83%). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,3%/năm; nhân khẩu nông nghiệp chiếm 97,5%.
    • Kinh tế và sinh kế: Nông nghiệp chủ yếu trồng lúa nước với diện tích hạn chế (277,24 ha), năng suất 31 tạ/ha, bình quân lương thực chỉ đạt 60,4 kg/người/năm (đáp ứng 25% nhu cầu lương thực tại chỗ). Chăn nuôi gia súc (trâu 1.652 con, bò, lợn) thả rông trong rừng. Thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp, khoảng 3 triệu đồng/người/năm (tương đương 160 USD). Áp lực thiếu đất sản xuất dẫn đến tình trạng phát rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ, thu hái lâm sản ngoài gỗ (măng tre, cây thuốc, song mây) và săn bắt động vật hoang dã.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 là phần nội dung trọng tâm của luận văn, trình bày chi tiết các phát hiện thực nghiệm và điều tra thực địa:

  • Thành phần loài bướm ngày: Sau 3 đợt điều tra thực địa, tác giả đã thu thập được 98 cá thể và định danh được danh lục các loài bướm ngày thuộc các họ khác nhau. Trong cấu trúc khu hệ, họ Bướm giáp (Nymphalidae) chiếm số lượng loài nhiều nhất (chiếm 26–31%), theo sau là họ Bướm phượng (Papilionidae, chiếm khoảng 26%), họ Bướm phấn (Pieridae, chiếm 18%), họ Bướm đốm (Danaidae, chiếm 16%), và các họ có tỷ lệ thấp gồm Bướm rừng (Amathusiidae, 3%), Bướm xanh (Lycaenidae, 3%), Bướm mắt rắn (Satyridae, 3%).
  • Độ bắt gặp của các loài ($P%$): Đa số các loài có tần suất xuất hiện ngẫu nhiên ($P% < 25%$) với 37 loài (chiếm 92% tổng số loài), chỉ có 3 loài thuộc nhóm ít gặp ($25% \le P% \le 50%$, chiếm 8%) gồm Papilio polytes, Parantica agleoides và Stichophthalma howqua. Không ghi nhận loài nào thuộc nhóm thường gặp ($P% > 50%$).
  • Phân bố theo đai độ cao: Mức độ phong phú và số lượng loài giảm dần theo chiều cao địa hình:
    • Độ cao dưới 200 m: Ghi nhận 30 loài, chỉ số phong phú Margalef $d = 20,74$ (đa dạng nhất do thảm thực vật cây bụi, nguồn mật hoa dồi dào và nhiệt độ ấm áp 20–30°C).
    • Độ cao từ 200 m đến 500 m: Ghi nhận 21 loài, chỉ số phong phú $d = 14,31$.
    • Độ cao trên 500 m: Số lượng giảm mạnh chỉ còn 7 loài, chỉ số phong phú $d = 4,29$.
  • Phân bố theo hướng phơi:
    • Hướng Đông Bắc: Có tính đa dạng cao nhất với 35 loài, chỉ số phong phú Margalef $d = 24,32$ (hoặc 24,43) nhờ đón nhận ánh sáng mặt trời buổi sớm, biên độ nhiệt điều hòa, thuận lợi cho hoạt động kiếm ăn.
    • Hướng Đông Nam: Ghi nhận mức độ phong phú trung bình với $d = 11,00$.
    • Hướng Tây Bắc và Tây Nam: Số lượng loài bắt gặp thấp nhất (chỉ số $d$ chỉ đạt 6,43) do chịu bức xạ mặt trời gay gắt vào buổi chiều, gây bất lợi cho cân bằng nhiệt của côn trùng.
  • Đặc điểm hình thái và thích nghi sinh thái:
    • Phân tích sự phân hóa kích thước giữa con đực và con cái ở các loài thuộc họ Papilionidae (như Troides helena, Papilio memnon, con đực thường nhỏ hơn con cái nhưng màu sắc tương phản sắc nét).
    • Màu sắc cánh phản ánh tầng sinh thái: loài sống ở tầng tán cao (Papilionidae, Nymphalidae) có màu sặc sỡ và đốm mắt lớn; loài bay ở tầng thấp ven bờ bụi (Pieridae) có màu vàng, trắng; loài bay sát mặt đất ẩm (Satyridae) có màu nâu xám ngụy trang; loài họ Danaidae mang các đốm trắng tương phản trên nền cánh đen (Euploea) hoặc cam (Danaus).
    • Phân loại hình dạng cánh trước: dạng hình quạt mép ngoài lượn sóng (Troides aeacus), hình quạt gợn sóng mép ngoài hơi tù (Papilio protenor), hình quạt có vân (Cyrestis themire), mép ngoài gợn sóng (Tirumala septentrionis).
  • Các loài có ý nghĩa bảo tồn và du lịch: Phát hiện các loài bướm quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007) như bướm phượng cánh chim liền (Troides aeacus), bướm phượng cánh chim đuôi đen (Troides helena), bướm phượng đuôi nheo (Lamproptera curius), bướm phượng sao (Papilio arcturus), cùng các loài có kích thước lớn, màu sắc đẹp có giá trị phục vụ tham quan du lịch sinh thái.
  • Nguyên nhân suy giảm và giải pháp quản lý: Phân tích các nguyên nhân suy giảm quần thể bướm xuất phát từ việc phá rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ, chăn thả gia súc trong rừng tự nhiên và thu hái lâm sản quá mức. Đề xuất hệ thống giải pháp quản lý chung (tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, tuần tra bảo vệ rừng) và giải pháp kỹ thuật cụ thể (bảo vệ sinh cảnh ven suối, duy trì cây thức ăn cho sâu non và cây mật hoa cho bướm trưởng thành).

Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng và phát hiện chính

Khóa luận đã thiết lập bộ dữ liệu thực nghiệm có giá trị về khu hệ bướm ngày tại KBTTN Phu Canh:

  • Xây dựng danh lục thành phần loài gồm 40–43 loài bướm ngày thuộc 6–7 họ phân loại, ghi nhận tổng số 98 cá thể ngoài thực địa.
  • Họ Nymphalidae và Papilionidae chiếm ưu thế lớn nhất về thành phần loài (lần lượt chiếm 31% và 26%), các họ chiếm tỷ lệ nhỏ nhất là Amathusiidae, Lycaenidae và Satyridae (mỗi họ chiếm khoảng 2,63–3%).
  • Xác định 3 loài côn trùng quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007) gồm các loài thuộc giống Troides (Troides aeacus, Troides helena).
  • Lượng hóa sự phân bố của bướm ngày theo các yếu tố sinh cảnh:
    • Phân bố theo đai cao tập trung tối đa ở đai $<200$ m ($S = 30$ loài, $d = 20,74$), giảm dần ở đai $200–500$ m ($S = 21$, $d = 14,31$) và thấp nhất ở đai $>500$ m ($S = 7$, $d = 4,29$).
    • Phân bố theo hướng phơi ưu tiên hướng Đông Bắc ($S = 35$, $d = 24,32$), kế tiếp là Đông Nam ($d = 11,00$), thấp nhất tại hướng Tây Bắc và Tây Nam ($d = 6,43$).
    • 92% số loài có tần suất bắt gặp ngẫu nhiên ($P% < 25%$), 8% số loài ít gặp ($25% \le P% \le 50%$) và không có loài nào đạt mức thường gặp ($P% > 50%$).

Giải pháp và kiến nghị quản lý do tác giả đề xuất

  1. Nhóm biện pháp quản lý chung: Tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát rừng đặc dụng; đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học cho các cộng đồng dân cư địa phương (đặc biệt là đồng bào dân tộc Tày, Dao, Mường tại 4 xã vùng đệm và vùng lõi); phối hợp liên ngành giữa Ban quản lý khu bảo tồn và chính quyền địa phương nhằm giảm thiểu áp lực xâm lấn đất rừng.
  2. Nhóm giải pháp kỹ thuật và bảo tồn sinh thái cụ thể:
    • Bảo vệ nghiêm ngặt các sinh cảnh trọng yếu như sinh cảnh ven suối Nhạp, suối Chum và các vạt rừng thường xanh á nhiệt đới – nơi ghi nhận mật độ bướm tập trung cao.
    • Khoanh nuôi phục hồi thảm thực vật cây bụi có hoa bản địa nhằm duy trì nguồn thức ăn hút mật cho pha bướm trưởng thành và bảo tồn cây chủ đặc hữu cho pha sâu non.
    • Kết hợp bảo tồn đa dạng sinh học bướm với quy hoạch các tuyến tham quan du lịch sinh thái có hướng dẫn, tận dụng các loài bướm phượng cánh đẹp (Troides, Papilio) làm điểm nhấn giáo dục môi trường.

Đóng góp mới của khóa luận

Khóa luận đã bổ sung dẫn liệu khoa học thực địa cập nhật về thành phần loài, cấu trúc phân loại và đặc điểm phân bố không gian (đai cao, hướng phơi, sinh cảnh) của khu hệ bướm ngày tại KBTTN Phu Canh – một địa bàn vùng cao Tây Bắc trước đó còn thiếu hụt dữ liệu nghiên cứu chuyên sâu về côn trùng học.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thời gian nghiên cứu thực địa của khóa luận chỉ diễn ra trong thời gian ngắn (từ tháng 2/2019 đến tháng 5/2019), trùng vào giai đoạn chuyển tiếp từ cuối mùa khô sang đầu mùa mưa, do đó chưa bao quát được toàn bộ biến động mùa của khu hệ bướm trong trọn vẹn chu kỳ một năm (đặc biệt là giai đoạn cao điểm mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 10). Tổng số cá thể điều tra được còn khiêm tốn (98 cá thể) dẫn đến tỷ lệ loài bắt gặp ngẫu nhiên chiếm tỷ trọng lớn (92%).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng điều tra định kỳ theo tất cả các tháng trong năm để đánh giá chính xác động thái quần thể và nhịp điệu sinh học theo mùa của bướm ngày; thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa các loài bướm quý hiếm (Troides helena, Troides aeacus) với cây thức ăn của sâu non và cây hút mật của bướm trưởng thành nhằm xây dựng mô hình nhân nuôi bảo tồn gắn với phát triển du lịch sinh thái.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Bảo vệ thực vật, Sinh thái học và Đa dạng sinh học.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Quy trình thiết lập tuyến và điểm điều tra côn trùng ngoài thực địa, phương pháp chế tác và bảo quản mẫu bướm khô bằng kỹ thuật cắm kim và bao paraffin (Chương 2).
    • Phương pháp ứng dụng chỉ số đa dạng Margalef ($d$) và tần suất bắt gặp ($P%$) để lượng hóa phân bố côn trùng theo đai độ cao và sườn phơi đón sáng (Chương 2 và Chương 4).
    • Danh lục kiểm kê thành phần loài bướm ngày và các đặc điểm thích nghi hình thái cánh của bộ Cánh vẩy tại khu vực miền núi phía Bắc (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đã ghi nhận được bao nhiêu loài bướm ngày tại KBTTN Phu Canh và có bao nhiêu loài thuộc danh mục quý hiếm?
Khóa luận đã xác định được 40–43 loài bướm ngày thuộc 6–7 họ khác nhau (với 98 cá thể được ghi nhận). Trong đó có 3 loài quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (2007), tiêu biểu là các loài bướm phượng cánh chim (Troides aeacus, Troides helena).

2. Họ bướm nào chiếm ưu thế lớn nhất về số lượng loài tại khu vực nghiên cứu?
Họ Bướm giáp (Nymphalidae) và họ Bướm phượng (Papilionidae) là hai họ chiếm ưu thế lớn nhất, lần lượt chiếm khoảng 26–31% và 26% tổng số loài được ghi nhận trong khu hệ.

3. Phân bố của bướm ngày tại KBTTN Phu Canh biến đổi như thế nào theo đai độ cao và hướng phơi của sườn núi?
Bướm ngày tập trung phong phú nhất ở đai độ cao thấp dưới 200 m (30 loài, chỉ số phong phú Margalef $d = 20,74$) và giảm dần khi lên cao (trên 500 m chỉ còn 7 loài, $d = 4,29$). Theo hướng phơi, sườn Đông Bắc có tính đa dạng cao nhất (35 loài, $d = 24,32$), trong khi các sườn Tây Bắc và Tây Nam có số lượng loài thấp nhất ($d = 6,43$) do chịu bức xạ nhiệt mặt trời quá lớn vào buổi chiều.

4. Vì sao tỷ lệ loài bướm ngẫu nhiên gặp ($P% < 25%$) trong nghiên cứu lại chiếm tỷ lệ rất cao (92%)?
Do sự xuất hiện của bướm ngày phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện thời tiết, nguồn thức ăn thực vật, chu kỳ phát triển sinh học riêng của từng loài và mức độ gắn liền với sinh cảnh hẹp, trong khi thời gian khảo sát thực địa của đề tài diễn ra trong một giai đoạn nhất định (tháng 2 đến tháng 5/2019).

5. Những nguyên nhân chính nào từ hoạt động dân sinh đang đe dọa khu hệ bướm tại KBTTN Phu Canh?
Đời sống của người dân địa phương (chủ yếu là dân tộc Tày, Dao, Mường) còn gặp nhiều khó khăn, thu nhập bình quân thấp (3 triệu đồng/người/năm), đất trồng lúa thiếu hụt (bình quân 60,4 kg lương thực/người/năm), dẫn đến các hoạt động phát nương làm rẫy, khai thác lâm sản phụ, chăn thả gia súc tự do trong rừng và săn bắt trái phép, làm suy thoái sinh cảnh sống của bướm.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Tiến Dũng đã hoàn thành mục tiêu điều tra, đánh giá thành phần loài và đặc điểm phân bố sinh thái của khu hệ bướm ngày tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, tỉnh Hòa Bình. Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận sự hiện diện của 40–43 loài bướm ngày thuộc 6–7 họ, trong đó phát hiện 3 loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007), đồng thời chứng minh quy luật suy giảm độ phong phú loài theo độ cao tăng dần và sự ưu tiên phân bố ở sườn phơi hướng Đông Bắc. Công trình cung cấp nguồn dẫn liệu khoa học thực địa quan trọng và đề xuất hệ thống giải pháp quản lý lâm nghiệp, bảo tồn sinh cảnh thiết thực cho Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh.