CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH HÌNH THÀNH QUỐC SÁCH ẤP CHIẾN LƯỢC CỦA CHÍNH QUYỀN MỸ - DIỆM 1. Bối cảnh lịch sử Lịch sử Việt Nam, từ năm 1954 đến năm 1975 là giai đoạn đánh dấu một bước ngoặt lịch sử đặc biệt, kể từ sau chiến thắng chiến dịch Điện Biên Phủ, đế quốc Mỹ từng bước tiến hành thay thế quyền kiểm soát của người Pháp ở Việt Nam và toàn Đông Dương, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, căn cứ quân sự quan trọng của Mỹ, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam. Ngoài những mục đích đó, Mỹ còn muốn lấy miền Nam Việt Nam làm phòng tuyến ngăn chặn sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa xã hội có thể lan xuống Đông Nam Á bất cứ lúc nào, đồng thời làm bàn đạp để tấn công miền Bắc, phá hoại công cuộc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội mà Đảng và toàn thể nhân dân Việt Nam đã bỏ biết bao trí lực thậm chí là xương máu để có được, nhằm răn đe uy hiếp các nước đã và đang đi theo Chủ nghĩa Xã hội. Chủ trương của Mỹ là tiến hành cuộc chiến tranh đơn phương đối với Việt Nam với hình thức cai trị gián tiếp thông qua chính quyền Ngô Đình Diệm, là chính quyền tay sai đắc lực mà Mỹ đã cố bỏ tâm sức, tiền của để thiết lập.
Với chủ trương này, Mỹ không ngừng tăng cường viện trợ, cố vấn Mỹ nhằm xây dựng và củng cố chế độ Ngô Đình Diệm trở thành lực lượng đủ mạnh để đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân và lật đổ Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc Việt Nam. Để thực hiện được điều đó, Tổng thống Mỹ Eisenhower đề xuất tướng J.Collins, nguyên Tổng tham mưu Trưởng lục quân Mỹ, sang miền Nam làm Đại sứ để xem xét tình hình và giúp đỡ chế độ mới được ra đời ở miền Nam Việt Nam. Trước khi đến Sài Gòn, ông đã đề ra kế hoạch 6 điểm, như sau: “1. Ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm.
Viện trợ trực tiếp cho chính quyền Sài Gòn, không qua Pháp. Xây dựng lại quân đội quốc gia cho Ngô Đình Diệm gồm 15 vạn quân do Mỹ huấn luyện và cung cấp vũ khí. Tổ chức bầu cử Quốc hội miền Nam, thực hiện độc lập giả hiệu. Thực hiện việc định cư cho số người Bắc di cư và vạch kế hoạch cải cách điền địa.
Thay đổi chế độ thuế khóa, giành ưu tiên cho hàng hóa Mỹ xâm nhập miền Nam Việt Nam. Đào tạo cán bộ hành chính cho chính quyền Ngô Đình Diệm”1. Sau hiệp định Giơnevơ (21.1954), Ngô Đình Diệm dưới sự hậu thuẫn của Mỹ đã vội vã tiến hành cuộc trưng cầu dân ý ở miền Nam Việt Nam không ngoài phế truất Bảo Đại và chính thức lên làm Tổng thống dựng lên cái gọi là chính thể “Việt Nam Cộng Hòa” (23. Cùng với đó là sự ra đời của bộ máy hành chính mạnh mẽ từ Trung ương đến tận làng xã cụ thể như sau: Ở Trung ương, ngoài Quốc hội là cơ quan Lập pháp mang nặng tính chất dân chủ, là Tổng thống là người đứng đầu quốc gia, dường như có mọi quyền lực tuyệt đối trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao,…Dưới Tổng thống là Phó Tổng thống và Phủ Tổng thống, trên thực tế rằng Phó Tổng thống của Ngô Đình Diệm chỉ là nhân vật “hữu danh vô thực” không có quyền hành gì cụ thể, Phủ Tổng thống là cơ quan hỗ trợ đắc lực cho Tổng thống, trong đó có nhiều bộ trưởng làm việc.
Sau khi lên làm Tổng thống, Ngô Đình Diệm tiến hành cải tổ bộ máy hành chính địa phương cho phù hợp, nhằm phục vụ sự thống trị của mình, bộ máy hành chính của chính quyền Ngô Đình Diệm bao gồm các cấp như sau: Phần, Tỉnh, Đô thành và Thành Phố, Quận, Tổng, Xã. Tất cả những việc làm trên không ngoài mục đích dễ bề quản lý và đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân ta. Từ năm 1955 - 1960, cùng với viện trợ quân sự, viện trợ kinh tế được xem là đòn bẩy là công cụ chi phối trên các lĩnh vực chính trị - xã hội miền Nam, bên cạnh đó còn tạo nên những cơ sở vật chất vững chắc phục vụ cho quá trình xâm nhập miền Nam Việt Nam của Mỹ. Đối với chính sách kinh tế ở miền Nam, chính quyền Mỹ đẩy mạnh thực hiện hai hình thức hoạt động kinh tế chính là “viện trợ thương mại hóa và tạo điều kiện dễ dàng cho tư bản Mỹ đầu tư trực tiếp vào miền Nam” 2.Với dã tâm nhằm biến kinh tế miền Nam lệ thuộc vào nền kinh tế phát triển của Mỹ, tạo nên cảnh phồn vinh giả tạo, hướng nền kinh tế miền Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Đầu năm 1955, chính quyền Mỹ - Diệm thực hiện chương trình “cải cách điền địa” hầu khắp miền Nam, chính sách cải cách điền địa này đã đi ngược lại với lợi ích của dân tộc, đi ngược lại chính sách cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam. Trong khi chính sách cải cách ruộng đất ở miền Bắc là tịch thu toàn bộ ruộng đất của địa chủ 1 Trần Đức Cường (2014), Lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1965, Tập 12, Nxb. Khoa học Xã hội Hà Nội, Tr. 2 Trần Đức Cường (2014), Lịch sử Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1965, Tập 12, Nxb.
Khoa học Xã hội Hà Nội, Tr. phong kiến mại bản, sau đó dùng số đất ấy ban phát cho nông dân đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, làm tiền đề để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam chống Mỹ cứu nước. Đối với miền Nam, chính quyền Mỹ - Diệm tịch thu hầu hết ruộng đất của người nông dân mà chính quyền cách mạng đã mang lại cho họ trong cuộc kháng chiến chống Pháp. 3 Cùng thời điểm đó, với sự ra đời của chính sách “tố cộng, diệt cộng” được áp dụng trên toàn miền Nam và coi đây là những quốc sách chiến lược nhằm đàn áp phong trào cách mạng miền Nam đồng thời tiêu diệt tận gốc những phần tử Cộng sản, những tổ chức Cộng sản, thậm chí là hệ tư tưởng Cộng sản, nghĩa là tiêu diệt cả thể xác lẫn lý tưởng của họ.
Năm 1957, chính sách “tố cộng, diệt cộng” ngày một lâm vào tình trạng bế tắc trước ý chí nghị lực phi thường của dân tộc, tinh thần yêu nước, đoàn kết, bất khuất của dân tộc Việt Nam được khuôn đúc từ hàng nghìn năm lịch sử trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Các phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam có sức lan tỏa khắp nơi, từng bước làm thất bại chính sách “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ, trước nguy cơ đó chính quyền Mỹ - Diệm đề ra chính sách thiết lập các khu “dinh điền” tại miền Nam Việt Nam. Phần lớn các “khu dinh điền” thường được xây dựng ở những nơi hẻo lánh, xung quanh được bao bọc bởi hệ thống hàng rào công sự kiên cố. Mục đích chính không ngoài biến các khu dinh điền trở thành “vị trí chiến lược kiểm soát khu vắng người, những pháo đài tiểu cộng, những cứ điểm bao vây bọn Việt cộng”4, trong các khu dinh điền đời sống của người dân vô cùng cực khổ họ phải lao động hết sức nặng nhọc dưới sự kìm kẹp gắt gao của chính quyền Mỹ - Diệm.
Chính sách “bình định” miền Nam của chính quyền Mỹ - Diệm vừa mới ban hành đã gặp phải sự kháng cự kịch liệt của mọi tầng lớp nhân dân, chính vì vậy đã tác động không nhỏ đến quá trình thiết lập các khu “dinh điền” tại miền Nam, đến giữa năm 1958 việc thành lập các khu “dinh điền” chỉ có thể được thực hiện 1/15 kế hoạch đã đề ra. Chính sách khu trù mật ra đời là hệ quả của sự thất bại từ chính sách “dinh điền” và phong trào đấu tranh chống dồn dân cướp đất. Mục đích ra đời chính sách “khu trù mật” nhằm “tách quần chúng ra khỏi những phần tử cảm tình với cộng sản lùa cộng sản vào rừng rồi bị diệt trừ”. Việc dồn dân vào sinh sống tại các khu trù mật 3 Trần Bá Đệ, Giáo trình Lịch sử Việt Nam (1945 – 1975), NXB.
Đại học Sư phạm, Tr. 4 Trần Thị Thu Hương (2003), Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống phá “Quốc sách” ấp chiến lược của Mỹ - Ngụy ở miền Nam Việt Nam (1961 – 1965), Nxb. Chính trị Quốc gia, Tr. đã gây nên một làn sóng phản đối mãnh liệt của nhân dân miền Nam đối với chính quyền Mỹ Diệm, mặc dù đã đầu tư rất nhiều tiền của, tốn biết bao tâm trí, nhưng kết quả đem lại vẫn thất bại, có thể thấy cuối năm 1960 chính quyền Mỹ - Diệm đã thành lập 20 khu trong số hơn 100 khu trù mật như dự định ban đầu của kế hoạch, thậm chí trong 20 khu nói trên cũng bị nhân dân phá đi phá lại nhiều lần đến nỗi những khu trù mật trở thành những khu điêu tàn.5 Từ các chính sách mà chính quyền Ngô Đình Diệm thiết lập trong giai đoạn này thường nối tiếp nhau, chính sách sau quy mô và nham hiểm hơn chính sách đầu, ngay từ khi mới được ra đời các chính sách này đã đi ngược lại với lợi ích, tâm tư nguyện vọng của nhân dân nên đã gặp phải sự chống đối kịch liệt của quần chúng như phong trào bảo vệ hòa bình Sài Gòn – Chợ lớn, phong trào đòi Hiệp thương Tổng tuyển cử thống nhất đất nước, phong trào đấu tranh chống chính sách tố cộng diệt cộng,… Cuối năm 1958 đầu năm 1959, tình hình miền Nam ngày càng bước lên những nấc thang nguy hiểm, phức tạp khôn lường trước sự ra đời của “luật 10/59”.
Theo điều 7, Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa năm 1956 quy định “tất cả những chiến sĩ và du kích Việt Minh trước năm 1954, dù họ có phải là đảng viên hay không, tất cả các cán bộ hành chính của các vùng Việt Minh, những người làm nghề tự do đã tham gia ít nhiều vào cuộc kháng chiến”6 đều được gọi là Cộng sản.1959, Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh “đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật”,“nhà nào chứa cộng sản thì nhà đó bị chặt đầu hết cả nhà”7, với chiêu bài chống cộng, Ngô Đình Diệm đã thẳng tay đàn áp những người yêu nước, những người đã từng tham gia kháng chiến chống Pháp, những người dân chủ và tiến bộ ở miền Nam Việt Nam một cách vô cùng tàn nhẫn.