ĐẠI HỌC QUOC GIA HÀ NỘI BAO CÁO CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM XỬ LÝ NỢ XÁU THÔNG QUA CHỨNG KHOÁN HÓA TẠI CÁC QUOC GIA TREN THE GIỚI Tên đề tài : Chứng khoán nợ xấu ngân hàng: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam Mã số đề tài :QG.25 Chi nhiệm đề tài : TS. Trần Thị Vân Anh HÀ NỘI - 2019 1. KỸ THUẬT CHUNG KHOÁN HÓA. Khái niệm và phân loại chứng khoán hóa.
Lợi ích của chứng khoán hóa 2. Rủi ro của chứng khoán hóa 13 3. TRIEN KHAI CHUNG KHOÁN HOA TẠI CÁC NƯỚC PHAT TRIEN. _ Trién khai chứng khoán hóa tại Mỹ „14 3.
Bối cảnh triển khai xử lý nợ xấu tại Hoa Kỳ. Thực trạng hình thành và phát triên của thị trường chứng khoán hóa Hoa Kỳ. Một số bài học kinh nghiệm 3. Triển khai chứng khoán hóa tại Hàn Quốc.
Bồi cảnh triển khai xử lý nợ xấu tại Hàn Quốc 3. Thực trạng hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán hóa Hàn Quốc 4. | TRIEN KHAI CHUNG KHOÁN HÓA TẠI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIEN. Triển khai chứng khoán hóa tại Trung Quốc 21 4.
Bối cảnh triển khai xử lý nợ xấu tại Trung Qué 61 4. Thực trạng hình thành va phát trién của thị trường chứng khoán hóa Trung Quốc. Bài học kinh nghiệm 4. Triển khai chứng khoán hóa tại Malaysia.
Bối cảnh triển khai xử lý nợ xấu tại Malaysia. Thực trạng hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán hóa Malaysia95 4. Một số bài học kinh nghiệm 4. Triển khai chứng khoán hóa tại Thai Lan.
Thực trạng hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán hóa Thái Lan 4. Một sô bài học kinh nghiệm 5. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. LỜINÓI ĐẦU Theo Báo cáo Tông quan thị trường tài chính của Uy ban Giám sát Tài chính quốc gia thì tỷ lệ nợ xấu của hệ thống tài chính Việt Nam khoảng 2,4% trong năm 2018.
Trong đó tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng là 2,4%, tỷ lệ nợ quá hạn của các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ là 4,7%, tỷ lệ các khoản phải thu khó đòi của các doanh nghiệp bảo hiểm là 6,4%. Giá trị xử lý nợ xấu năm 2018 tăng khoảng 30% so với năm 2017 không bao gồm nợ bán cho VAMC. Trong đó, sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng chiếm 59,8%, thu nợ từ khách hàng chiếm 33,2%, bán phát mại tài sản chiếm 3%, còn lại là bằng các hình thức khác. Mặc dù sử dụng quỹ dự phòng rủi ro là biện pháp xử lý nợ xấu đang được các tô chức có liên quan vận dụng nhiều nhất nhưng bản chất của giải pháp này vẫn là sử dụng nguồn lực nội tại của các tổ chức tín dụng.
Điều này làm gia tăng áp lực lên thanh khoản cũng như khả năng tập trung nguồn lực của các tổ chức tín dụng vào kinh doanh các sản phâm hoặc dịch vụ chính. Bởi vậy việc cân nhắc triển khai những giải pháp xử lý nợ xấu mang tính thị trường hơn mà cụ thé là giải pháp chứng khoán hóa có thé hỗ trợ giải quyết một cách triệt để vấn đề nợ xấu của nền kinh tế Việt Nam. Chứng khoán hóa (Securitization) xuất hiện đầu tiên ở Hoa Kỳ vào năm 1970 với sự tham gia tích cực của Fannie Mae và Freddie Mac là các công ty chuyên kinh doanh mua bán các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư. Cụ thể là hai định chế tài chính này mua các khoản nợ cho vay thế chấp nhà ở, bất động sản của các ngân hàng thương mại sau đó chứng khoán hoá và bán lại cho nhà đầu tư.
Quá trình này đây nhanh tốc độ chu chuyền vốn cho các ngân hàng thương mai và thị trường tài chính qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong toàn bộ nền kinh tế Hoa Kỳ. Xuất phát từ những ưu điểm này nên từ những năm 1980, kỹ thuật chứng khoán hóa đã nhanh chóng được nhiều cơ quan của Chính phủ cũng như các tổ chức khác tại Hoa Kỳ áp dung và phát triển sang các khoản cho vay thé chấp ngoài bat động sản như các khoản cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, các khoản phải thu của thẻ tín dụng. Năm 1987 chứng khoán hoá được thực hiện và phát triển ở Anh, sau đó là ở một loạt các nước châu Âu khác như Pháp, Đức, Italia. Mặc dù kỹ thuật chứng khoán hóa được áp dụng muộn hơn tại châu Á nhưng nhanh chóng được coi là một trong những giải pháp hữu hiệu dé xử lý nợ xấu tại các quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia.
Sự cần thiết ứng dụng chứng khoán hóa ở Việt Nam đã được Chính phủ chính thức ghi nhận cụ thể trong Kế hoạch hành động Hà Nội vào năm 2000 trong đó các nước thành viên ASEAN đã đưa ra phương án hợp tác về phát triển thị trường vốn bao gồm 11 điểm, trong đó có cam kết về thúc day sự phát triển giải pháp chứng khoán hóa. Trong khuôn khô hợp tác, các nước cần có những biện pháp dé thúc đây và phat triển chứng khoán hóa tại nước mình. Riêng đối với các thành viên mới như Việt Nam thì thời hạn này có thé kéo đài hơn. Đây có thé coi như là một cam kết quốc tế chính thức của Chính phủ về phát triển chứng khoán hóa ở Việt Nam là một trong những căn cứ khẳng định tính khả thi của việc ứng dụng chứng khoán hóa xử lý nợ xấu, vốn là một trong số những giải pháp xử lý nợ xấu được nói tới trong thời gian gần đây.
Xuất phát từ thực tế chứng khoán hóa là một kỹ thuật mới đối với thị trường tài chính Việt Nam do vậy việc nghiên cứu bài học kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới nhằm cung cấp một cách hiểu đầy đủ về chứng khoán hóa với tư cách là một giải pháp xử lý nợ xâu cho hệ thống ngân hang là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn. Như đúng tên gọi « Báo cáo co sở lý luận và kinh nghiệm xứ lý nợ xấu sử dụng chứng khoán hóa tại các quốc gia trên thế g ”, báo cáo này sẽ trình bày những nội dung lý luận về chứng khoán hóa và kinh nghiệm triển khai chứng khoán hóa tại các quốc gia trên thế Cụ thể là kinh nghiệm phát triển thị trường chứng khoán hóa tại Hoa Kỳ và Hàn Quốc là các quốc gia có thị trường tài chính phát triển cao. Thông qua việc xem xét kinh nghiệm của Hoa Kỳ là một trong những quốc gia có thị trường chứng khoán hóa phát triển lâu đời và hoàn thiện nhất, nhóm nghiên cứu tập trung phân tích những vấn đề thường sẽ phát sinh giữa các thành viên chính tham gia vào quá trình chứng khoán hóa có thé tạo ra những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế thậm chí góp phần tạo thành khủng hoảng kinh tế. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu tìm hiểu kinh nghiệm áp dụng chứng khoán hóa dé xử lý nợ xấu tại một số quốc gia trong khu vực có hệ thống tài chính phát triển ở mức tương đồng với Việt Nam hơn là Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia.
KỸ THUẬT CHUNG KHOÁN HOA 2. Khái niệm và phân loại chứng khoán hóa Chứng khoán hóa (Securitization) xuất hiện đầu tiên ở Hoa Kỳ vào năm 1970 với sự tham gia tích cực của hai công ty đầu tiên và cho đến nay vẫn luôn là những công ty tích cực nhất trong hoạt động chứng khoán hóa là Fannie Mae (FNMA - Federal National Mortage Association) va Freddie Mac (Federal Home Loan Mortgage Corporation). Day là các công ty trung gian chuyên kinh doanh mua ban các khoản cho vay của các NHTM hoặc các ngân hàng đầu tư!. Cụ thé là hai định chế tài chính trung gian này mua các khoản nợ cho vay thế chấp nhà ở, bất động sản của các NHTM, và thực hiện chứng khoán hoá các khoản nợ này thành các chứng khoán nợ (phát hành chứng khoán trên cơ sở các khoản tín dụng thế chấp, có bảo đảm bằng nhà ở; bất động sản) và bán cho nhà đầu tư (thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán).
Qua trình này không chỉ day nhanh tốc độ chu chuyển vốn cho các NHTM và cho thị trường tài chính mà còn làm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong toàn bộ nền kinh tế Mỹ thời kỳ đó. Với những ưu điểm như vậy nên kể từ những năm 1980, kỹ thuật chứng khoán hóa đã nhanh chóng được nhiều cơ quan khác của Chính phủ và cũng như các tổ chức khác áp dụng và phát triển sang các khoản cho vay thế chấp ngoài bat động sản, các khoản cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, các khoản phải thu của thẻ tín dụng (Kendall, L. Năm 1987 chứng khoán hoá được thực hiện và phát triển ở Anh, sau đó là ở một loạt các nước Châu Âu khác như Pháp, Đức, Italia. Tại Australia, giá trị các chứng khoán phát hành dựa trên các khoản vay thế chấp bất động sản chiếm vị trí chủ đạo trong ngành công nghiệp chứng khoán hoá (Comptroller of the Currency, 1997).
Theo định nghĩa của các nước thuộc khối Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra năm 1995, chứng khoán hóa (CKH) là việc phát hành các chứng khoán có tính khả mại được đảm bảo không phải bằng khả năng thanh toán của chủ thé phát hành, mà bằng các nguồn thu dự kiến có được từ các tài sản đặc biệt. Nhân tố quyết định chất lượng của chứng khoán phát hành là khả năng sinh lời của các tài sản dùng làm tài sản đảm bảo, chứ không phải là nhà phát hành. Kết quả của quá trình CKH là ' Ngân hang đầu tư tại Mỹ có thé lấy vốn từ các nguồn huy động thời hạn khác nhau đề đầu tư vào các khoản dai han hơn nhằm tìm mức lợi nhuận bằng chênh lệch lãi suất 3 các tài sản có tính thanh khoản kém thành tài sản có tính thanh khoản cao (chứng khoán - một loại hàng hóa được giao dịch trên thị trường vốn). Ủy ban chứng khoán của Mỹ (SEC) cho rằng: Chứng khoán hóa là việc tạo ra các chứng khoán dựa trên các dòng tiền cố định hoặc mang tính chất tuần hoàn của một tập hợp cố định tách biệt các khoản phải thu hoặc các tài sản chính.
Các chứng khoán này tùy theo cấu trúc thời hạn của chúng sẽ được chuyển đổi thành tiền trong một khoảng thời gian nhất định kèm theo những quyền hưởng lợi khác và quyền đối với tài sản được sử dụng nhằm đảm bảo việc trả nợ hoặc phân phối định kỳ các khoản thu được cho người sở hữu chứng khoán (Securities and Exchange Commission, 1933, 1934).