Luận văn nghiên cứu khẩu phần ăn của ngựa bạch để xác định diện tích trồng cỏ va06 tại chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địacông ty cổ phần khai khoáng miền núi

Luận văn nghiên cứu khẩu phần ăn của ngựa bạch nhằm xác định diện tích trồng cỏ va06 tại chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Nông lâm kết hợp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2020

74
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.1.1. Mục tiêu của đề tài

1.1.2. Yêu cầu của đề tài

1.2. Ý nghĩa của đề tài

1.2.1. Ý nghĩa trong thực tập và nghiên cứu khoa học

1.2.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở khoa học và lý luận của vấn đề nghiên cứu

2.1.1. Cơ sở khoa học

2.1.1.1. Đặc tính thực vật của cỏ hoà thảo
2.1.1.2. Đặc tính sinh thái
2.1.1.3. Đặc tính sinh vật
2.1.1.4. Đặc tính sinh lý
2.1.1.5. Đặc tính sinh trưởng
2.1.1.6. Sức sống của cỏ hoà thảo

2.1.2. Giá trị kinh tế của cỏ hoà thảo trong nông nghiệp

2.1.3. Cơ sở lý luận của việc trồng và đánh giá các giống cỏ hoà thảo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khẩu phần ăn ngựa bạch

Nghiên cứu tập trung vào việc xác định khẩu phần ăn phù hợp cho ngựa bạch tại Chi nhánh nghiên cứu động thực vật bản địa. Khẩu phần ăn được tính toán dựa trên nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày và hàng năm của ngựa, đảm bảo sự phát triển ổn định và khỏe mạnh của đàn ngựa. Kết quả cho thấy, mỗi con ngựa bạch cần trung bình 10-12 kg cỏ tươi mỗi ngày, tương đương khoảng 3.650-4.380 kg/năm. Điều này giúp cân đối nguồn thức ăn và đảm bảo sự bền vững trong chăn nuôi.

1.1. Nhu cầu dinh dưỡng

Nghiên cứu chỉ ra rằng ngựa bạch cần một lượng lớn chất xơ, đạm và khoáng chất để duy trì sức khỏe. Cỏ VA06 được chọn làm thức ăn chính do hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt là protein và chất xơ, phù hợp với nhu cầu của ngựa.

1.2. Cân đối khẩu phần

Việc cân đối khẩu phần ăn giúp tối ưu hóa nguồn thức ăn và giảm thiểu lãng phí. Nghiên cứu đề xuất sử dụng cỏ VA06 làm thức ăn chính, kết hợp với các loại cỏ khác để đa dạng hóa nguồn dinh dưỡng.

II. Diện tích trồng cỏ VA06

Nghiên cứu xác định diện tích trồng cỏ VA06 cần thiết để đáp ứng nhu cầu thức ăn cho đàn ngựa bạch. Kết quả cho thấy, với năng suất trung bình 480 tấn/ha/năm, cần khoảng 7,6-9,1 ha cỏ VA06 để cung cấp đủ thức ăn cho 80 con ngựa. Điều này giúp chủ động nguồn thức ăn và giảm phụ thuộc vào cỏ tự nhiên.

2.1. Năng suất cỏ VA06

Cỏ VA06 được đánh giá cao về năng suất và khả năng chống chịu với điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Nghiên cứu chỉ ra rằng cỏ VA06 có thể thu hoạch liên tục trong 6-7 năm mà không cần trồng lại, giúp tiết kiệm chi phí và công sức.

2.2. Quản lý diện tích trồng

Việc quản lý diện tích trồng cỏ VA06 cần được thực hiện khoa học, bao gồm việc luân canh và bảo vệ đất trồng để duy trì năng suất lâu dài.

III. Chi nhánh nghiên cứu động thực vật bản địa

Chi nhánh nghiên cứu động thực vật bản địa đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển các loài động thực vật bản địa, bao gồm ngựa bạchcỏ VA06. Nghiên cứu tại chi nhánh này không chỉ giúp cải thiện chất lượng chăn nuôi mà còn góp phần bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học.

3.1. Bảo tồn động thực vật

Chi nhánh tập trung vào việc bảo tồn các loài động thực vật bản địa, trong đó có ngựa bạchcỏ VA06, nhằm duy trì sự đa dạng sinh học và phát triển bền vững.

3.2. Phát triển chăn nuôi

Nghiên cứu tại chi nhánh giúp cải thiện phương pháp chăn nuôi, đặc biệt là việc sử dụng cỏ VA06 làm thức ăn chính, giúp nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận văn nghiên cứu khẩu phần ăn của ngựa bạch để xác định diện tích trồng cỏ va06 tại chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địacông ty cổ phần khai khoáng miền núi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Những năm gần đây, ngành chăn nuôi đại gia súc đang được chú trọng phát triển. Số lượng đàn gia súc tăng lên một cách nhanh chóng. Trái ngược với tình hình đó là sự giảm đi về diện tích đất trồng cỏ và diện tích bãi chăn. Người nông dân phải mất nhiều thời gian và công sức hơn để tìm kiếm thức ăn cho đàn gia súc của mình.

Nguồn cỏ tự nhiên và nguồn phụ phẩm nông nghiệp không còn đủ đáp ứng nhu cầu chăn nuôi nữa, đặc biệt là những hộ chăn nuôi lớn (chăn nuôi ngựa, bò sữa, chăn nuôi bò thịt, chăn nuôi bò vỗ béo). Đối với những hộ này, thức ăn là khâu vô cùng quan trọng quyết định trong chăn nuôi. Chính vì vậy họ đã chọn giải pháp trồng cỏ để chủ động nguồn thức ăn thường xuyên và có chất lượng cho đàn gia súc của mình. Cỏ VA06 là một giống cỏ lai được lai tạo giữa giống cỏ voi và cỏ đuôi sói của Nam Mỹ.

Hiện nước ta đã có rất nhiều giống cỏ có năng suất hiệu quả kinh tế cao, trong đó giống cỏ Varisme số 06 ( viết tắt là VA06) là cho năng suất và chất lượng cao hơn rất nhiều, có thể đạt năng suất trên 480 tấn/ha/năm (năng suất chất xanh trung bình của cỏ voi chỉ từ 100 tấn đến 200 tấn/ha/năm, cỏ Ghine cho năng suất từ 80-150 tấn/ha/năm). So với các giống cỏ khác cỏ VA06 ít tốn công chăm sóc và có hàm lượng dinh dưỡng cao, đây là loại thức ăn tốt nhất cho các loại gia súc ăn cỏ, gia cầm và cá trắm cỏ. Cỏ VA06 vừa có thể làm thức ăn tươi, làm thức ăn ủ chua, thức ăn hong khô hoặc làm bột cỏ khô để nuôi bò thịt, bò sữa, dê, cá… mà không cần hoặc về cơ bản không cần cho ăn thêm thức ăn tinh vẫn đảm bảo vật nuôi phát triển bình thường. Hơn nữa, cỏ VA06 còn có khả năng chống chịu với nhiều điều kiện thời tiết bất lợi của môi trường như chịu hạn, chịu rét.khả năng lưu gốc rất tốt trồng 1 năm có thể thu liên tục 6-7 năm (cỏ voi chỉ từ 3-4 năm là phải trồng lại) chính vì vậy giống cỏ này được xem là " m 2 Vua của các loại cỏ".

Hiện nay, giống cỏ này đã được trồng rộng ở một số trang trại cũng như nhiều hộ nông dân chăn nuôi đại gia súc nhưng năng suất của cỏ qua các thời vụ, qua các tháng trong năm cũng có sự khác biệt lớn khiến người nông dân và các trang trại chăn nuôi vẫn chưa nắm bắt được để điều chỉnh số đầu gia súc hợp lý vì vậy dẫn đến tình trạng thiếu cỏ ở một số tháng trong năm. Tại trung tâm nghiên cứu bảo tồn động vật hoang dã tại Phú Lương - Thái Nguyên. Trung tâm chăn nuôi Ngựa bạch với số lượng lớn (80 con), do vậy việc cung câp thức ăn cho ngựa hết sức được chú trọng, Trung tâm đã trồng một sô giống cỏ nhằm đáp ứng nhu cầu thức ăn xanh cho ngựa. Giống cỏ được trồng nhiều nhất ở đây là cỏ VA06.

Trước tình hình đó chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Nghiên cứu khẩu phần ăn của Ngựa Bạch để xác định diện tích trồng cỏ VA06 tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài - Xác định được khẩu phần ăn của Ngựa bạch trung bình/ngày và trung bình/năm (Kg/con/năm). - Xác định sản lượng trung bình cỏ/ha/năm có thể cung cấp thức ăn cho động vật.

- Cân đối lượng thức ăn (cỏ) với số lượng động vật (Ngựa bạch) để phát triển chăn nuôi Ngựa và hươu giải pháp phát triển mô hình. Yêu cầu của đề tài Đề tài thu thập số liệu về: Khẩu phần thức ăn cỏ VA06 cho 01 Ngựa bạch trung bình một ngày (hoặc 01 năm); Xác định sản lượng trung bình kg/ha/năm tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên. m 3 Cân đối sản lượng cỏ cho 01 ha/số lượng Ngựa bạch và đề xuất một số giải pháp phát triển tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1.

Ý nghĩa trong thực tập và nghiên cứu khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị về : Khẩu phần thức ăn cỏ VA06 cho 01 Ngựa bạch trung bình một ngày (hoặc 01 năm); Xác định sản lượng trung bình kg/ha/năm tại tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên. Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo tốt cho công tác nghiên cứu, phát triển tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Kết quả nghiên cứu của đề tài là những giải pháp thiết thực nhằm phát triển ngành chăn nuôi và trồng cỏ VA06 tại tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa – Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên. m 4 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.

Cơ sở khoa học và lý luận của vấn đề nghiên cứu 2. Cơ sở khoa học 2.1 Đặc tính thực vật của cỏ hoà thảo Cỏ hoà thảo chỉ có một họ duy nhất là họ hoà thảo (Graminea) và có 28 họ phụ, 563 giống, 6802 loài. Cỏ hoà thảo chiếm vị trí quan trọng vì nó chiếm 95 - 98% trong thảm cỏ (Từ Quang Hiển và cộng sự, 2002) [4] * Đặc tính sinh thái Cỏ hoà thảo chiếm vị trí quan trọng trong thảm cỏ do tính thích ứng rộng và chúng có mặt ở tất cả các vùng khí hậu cũng như các vùng đất đai khác nhau. Một số loài có thể sinh trưởng được ở các vùng đất khô hạn, độ ẩm trung bình 20 - 30%, mùa đông nhiệt độ thấp nhưng chúng vẫn sinh trưởng và phát dục tốt như: cỏ xương cá, cỏ lông đồi (Eulalia), cỏ B.

Một số loài sinh trưởng được ở những vùng đất ẩm, độ ẩm lớn từ 60 - 80%, mùa khô độ ẩm thấp hơn nhưng chúng vẫn sinh trưởng và phát dục bình thường như: cỏ Paspalum atratum, cỏ đuôi bò (festucarubra), cỏ đuôi mèo (pleuin pratense). Có loài sống cả ở những nơi đất nhập nước, đất thụt lầy như: Cỏ môi (leersia hexandra), cỏ bấc (juncus effusus), cỏ lồng vực (echilochloa crus - galli). Dựa trên cơ sở những hiểu biết về đặc tính sinh thái của từng loại cỏ mà ta có thể chọn giống cỏ phù hợp để trồng trên các địa hình đất đai khác nhau, có độ ẩm, độ cao khác nhau. * Đặc tính sinh vật.

Cỏ hoà thảo là cây có một lá mầm (đơn tử diệp) thân tròn hoặc bầu dục (tuỳ theo giống), lá mọc thành hai dãy, phần lớn không có cuống nhưng bẹ to, có thìa lìa, phiến lá dài, vân lá song song. Thân cỏ thuộc loại thân rạ, rỗng (trừ mấu đốt). Cũng có loài thân đặc như cỏ voi, goatemala, rễ thuộc loại rễ chùm, m 5 hoa phần lớn là lưỡng tính thích ứng với lối thụ phấn nhờ gió (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến,1976) [2] Căn cứ vào hình dáng của thân và đặc điểm sinh trưởng người ta chia cỏ hoà thảo thành các loại sau: * Loại thân rễ: Loại thân này nằm dưới mặt đất, chia nhánh dưới mặt đất, đại diện là cỏ tranh (imperata cylindrica) loài này yêu cầu đất tơi xốp, mật độ cỏ thưa, độ che phủ thưa có thể trồng làm đồng cỏ chăn thả. * Loại thân bụi: Loại này từ gốc đẻ ra nhiều nhánh tạo thành bụi như khóm lúa, bộ rễ phát triển mạnh, nhánh có thể đẻ từ dưới mặt đất hoặc lên trên mặt đất.

Cỏ này cho năng suất cao ở những nơi đất tốt, tơi xốp và thoáng khí. Đại diện loại cỏ này là cỏ ghinê (Panicum maximum), cỏ mộc châu (Paspalum wirvilei). Loại cỏ này có thể trồng để thu cắt hoặc chăn thả. * Loại thân bò: Cỏ loại này thân nhỏ và mềm chính vì vậy thường nằm ngả trên mặt đất một số giống như dây lang, từ các đốt có thể đâm rễ xuống mặt đất.

Do thân bò lan và nằm ngả trên mặt đất nên nó có khả năng tạo nhanh thành một thảm cỏ dầy đặc, che phủ kín mặt đất. Đại diện là cỏ pangola (Digitaria decumbens), Lông para (Brachiaria mutica). Cỏ thân bò cho năng suất thấp, thường dùng để chăn thả hoặc cắt làm cỏ phơi khô, dự trữ cho gia súc vào mùa đông. * Loại thân đứng: Loại này mọc mầm từ phần gốc ở dưới mặt đất hoặc hom trồng.

Mầm vươn thẳng lên giống như cây mía, cây ngô. Thân cao, to, cho năng suất cao. Đại diện cỏ này là cỏ VA06 (Varisme số 6). * Đặc tính sinh lý.

- Nhu cầu về nước: Cỏ hoà thảo yêu cầu nước cao do bộ lá lớn, hệ số toả hơi nước lớn hơn họ đậu. Hệ số toả hơi nước vào khoảng 400 - 500 gram, trong khi cỏ họ đậu 214- 216 gram Độ ẩm đất yêu cầu theo từng giai đoạn. Từ nảy mầm đến lúc chia nhánh: 25 - 30%. Giai đoạn phát triển cành: 75% m 6 Cuối thời kỳ sinh trưởng nhu cầu nước giảm dần (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1974) ) [13].

- Nhu cầu về dinh dưỡng: Cỏ hoà thảo đòi hỏi đất tốt, giầu mùn và đạm, lân, kali. Nhu cầu dinh dưỡng cũng chia theo từng giai đoạn. Giai đoạn 1 (nảy mầm - phân nhánh) cần nhiều đạm, lân, kali. Giai đoạn 2 (phân nhánh) cần nhiều đạm, lân.

Giai đoạn 3 (ra hoa, hình thành hạt) cần nhiều lân và kali. Cỏ càng cho năng suất cao thì yêu cầu lượng phân bón càng lớn. - Nhu cầu về không khí: + Loại thân rễ, thân bụi, thân đứng chia nhánh dưới mặt đất thì đòi hỏi đất phải tơi xốp, thoáng khí. + Loại thân bụi chia nhánh trên mặt đất và thân bò thì có thể chịu được đất kém thoáng khí hơn.

* Đặc tính sinh trưởng. Cỏ hoà thảo sinh trưởng và tái sinh trải qua 3 giai đoạn. + Giai đoạn 1: Cỏ mới gieo trồng hoặc sau khi cắt lúc này tốc độ sinh trưởng chậm. + Giai đoạn 2: Sau khi gieo trồng hoặc thu cắt 15 - 20 ngày cỏ sinh trưởng và phát triển nhanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu khẩu phần ăn ngựa bạch & diện tích trồng cỏ VA06 tại chi nhánh nghiên cứu động thực vật bản địa là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc tối ưu hóa chế độ dinh dưỡng cho ngựa bạch thông qua khẩu phần ăn được thiết kế khoa học, đồng thời đánh giá hiệu quả của việc trồng cỏ VA06 trong việc đáp ứng nhu cầu thức ăn cho loài vật này. Nghiên cứu này không chỉ mang lại lợi ích cho việc chăm sóc ngựa bạch mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản lý và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chăn nuôi và trồng trọt.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến chăn nuôi và sinh trưởng động vật, bạn có thể tham khảo Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của trâu chiêm hóa tuyên quang, Luận văn thạc sĩ chăn nuôi khả năng sinh trưởng sản xuất thịt của bò lai F1 ♂Blanc Bleu Belge x ♀ lai Sind nuôi tại trại bò Minh Anh tỉnh Phú Thọ, và Luận văn theo dõi khả năng sinh trưởng của thỏ New Zealand từ sơ sinh đến 15 tuần tuổi. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực chăn nuôi.