Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp hiện đại, ngành chăn nuôi đại gia súc đang được chú trọng mở rộng quy mô. Tuy nhiên, quá trình này đối mặt với áp lực lớn từ sự sụt giảm diện tích đất trồng cỏ và đồng cỏ chăn thả tự nhiên. Nguồn phụ phẩm nông nghiệp và thảm cỏ tự nhiên không còn đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày, đặc biệt tại các mô hình chăn nuôi tập trung quy mô lớn như bò sữa, bò thịt vỗ béo và ngựa. Nhằm chủ động nguồn thức ăn thô xanh có năng suất và hàm lượng dinh dưỡng ổn định, việc thâm canh các giống cỏ hòa thảo cao sản là giải pháp kỹ thuật cần thiết.
Cỏ VA06 (Varisme số 06) là giống cỏ lai giữa cỏ voi và cỏ đuôi sói Nam Mỹ, được du nhập vào Việt Nam từ những năm 2000. Giống cỏ này sở hữu tiềm năng sinh khối lớn, năng suất chất xanh có thể đạt trên 480 tấn/ha/năm (vượt trội so với cỏ voi thông thường đạt 100 - 200 tấn/ha/năm và cỏ Ghinê đạt 80 - 150 tấn/ha/năm), khả năng lưu gốc thu hoạch liên tục từ 6 đến 7 năm, đồng thời có khả năng chịu hạn và chịu rét tốt. Mặc dù đã được gây trồng tại nhiều địa phương, năng suất của cỏ VA06 qua các thời vụ và các tháng trong năm có sự chênh lệch rõ rệt, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn thức ăn thô xanh trong một số thời điểm, nhất là vào mùa khô lạnh.
Tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa thuộc Công ty Cổ phần Khai khoáng Miền núi (xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên), trang trại đang duy trì đàn ngựa bạch quy mô lớn (80 cá thể vào năm 2020). Nhu cầu sinh khối thức ăn thô xanh phục vụ đàn vật nuôi là rất lớn. Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Nông lâm kết hợp của tác giả Ngô Việt Cường tập trung vào đề tài: "Nghiên cứu xác định diện tích trồng cỏ VA06 phù hợp để làm thức ăn cho ngựa bạch tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên".
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Xác định được khẩu phần ăn của Ngựa bạch trung bình/ngày và trung bình/năm (kg/con/năm).
- Xác định sản lượng trung bình cỏ/ha/năm có thể cung cấp thức ăn cho động vật.
- Cân đối lượng thức ăn (cỏ) với số lượng động vật (Ngựa bạch) để phát triển chăn nuôi Ngựa và hươu, giải pháp phát triển mô hình.
Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu bao gồm: Thu thập số liệu khẩu phần thức ăn cỏ VA06 cho 01 cá thể ngựa bạch trung bình/ngày và trung bình/năm; xác định sản lượng thu hoạch cỏ trung bình (kg/ha/năm); tính toán cân đối diện tích đất trồng cỏ với quy mô đàn gia súc thực tế tại Chi nhánh và đề xuất các giải pháp kỹ thuật phát triển sản xuất.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Giống cỏ VA06 và đàn ngựa bạch (Equus caballus) đang được nuôi dưỡng, gây trồng tại cơ sở nghiên cứu.
- Phạm vi nghiên cứu: Đánh giá khả năng cung cấp sinh khối của giống cỏ VA06/ha/năm và xác định khẩu phần tiêu thụ thức ăn thô xanh của ngựa bạch nhằm cân đối diện tích đất canh tác.
- Địa điểm và không gian nghiên cứu: Trại chăn nuôi động vật bán hoang dã tại xóm Gốc Gạo, xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Tổng diện tích tự nhiên của trại là 5,8 ha, trong đó dành 1,5 ha cho canh tác cây thức ăn gia súc và 1,0 ha làm đồng cỏ bãi chăn thả.
- Thời gian tiến hành: Đề tài thực hiện từ tháng 01/2020 đến tháng 06/2020 (kế thừa các đợt theo dõi thực nghiệm đồng ruộng từ vụ đông 2013 đến vụ xuân-hè 2014 và chuỗi số liệu phát triển đàn từ 2007 đến 2020).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và cơ sở khoa học
Cơ sở khoa học của đề tài dựa trên đặc tính thực vật học của họ Hòa thảo (Gramineae/Poaceae). Họ Hòa thảo có 28 họ phụ, 563 giống và 6.802 loài, chiếm từ 95% đến 98% thảm cỏ tự nhiên. Về hình thái sinh trưởng, cỏ hòa thảo được chia thành 4 nhóm: loại thân rễ (Imperata cylindrica), loại thân bụi (Panicum maximum, Paspalum polystachyum), loại thân bò (Digitaria decumbens, Brachiaria mutica) và loại thân đứng đại diện là giống cỏ VA06. Cỏ hòa thảo có hệ số thoát hơi nước từ 400 - 500 g nước/g chất khô, nhu cầu ẩm độ đất biến thiên từ 25 - 30% ở giai đoạn nảy mầm và đạt 75% ở giai đoạn đẻ nhánh, sinh trưởng thân lá. Quá trình tái sinh của cỏ trải qua 3 giai đoạn: 15 - 20 ngày đầu sau cắt sinh trưởng chậm; 20 - 40 ngày sinh trưởng mạnh mẽ; từ 40 - 70 ngày tốc độ tăng trưởng giảm dần hoặc dừng hẳn.
Chất lượng cỏ làm thức ăn chăn nuôi được đánh giá thông qua hàm lượng vật chất khô (VCK), protein thô và tỷ lệ xơ thô. Dưới đây là bảng tổng hợp thành phần dinh dưỡng của một số giống cỏ hòa thảo được tác giả trích dẫn làm cơ sở đối sánh:
| Tên giống cỏ |
Vật chất khô (VCK) (%) |
Protein thô (%) |
Lipit (%) |
Xơ (%) |
Dẫn xuất không đạm (%) |
Khoáng (%) |
Ca (%) |
P (%) |
Năng lượng trao đổi (NLTĐ) (kcal/kg) |
| Cỏ Mộc Châu |
14,00 |
1,50 |
1,10 |
5,10 |
5,10 |
1,20 |
0,10 |
0,04 |
300 |
| Cỏ Goatemala |
15,40 |
1,10 |
0,50 |
5,40 |
7,00 |
1,40 |
0,07 |
0,03 |
313 |
| Cỏ Voi (45 ngày) |
18,00 |
1,98 |
0,68 |
6,17 |
7,39 |
1,78 |
0,12 |
0,08 |
374 |
| Cỏ Ghinê |
23,30 |
2,47 |
0,51 |
7,30 |
10,62 |
2,40 |
0,13 |
0,03 |
490 |
| Cỏ Pangola |
25,34 |
1,79 |
0,50 |
8,59 |
12,94 |
1,52 |
0,09 |
0,05 |
547 |
Về mặt sinh học và di truyền, ngựa bạch là dạng đột biến bạch tạng đặc biệt của loài ngựa, khác biệt hoàn toàn với ngựa trắng đơn thuần (ngựa kim có vành mắt đen). Ngựa bạch có toàn thân lông trắng, da trắng hồng, viền mắt màu hồng, con ngươi đỏ hồng phản xạ ánh sáng đỏ trong đêm, móng sừng màu trắng ngà. Về mặt di truyền phân tử, màu lông ngựa do các gen KIT, MC1R (alen e, ea quy định màu hạt dẻ), ASIP (mất đoạn 11 bp liên quan màu đen) và EDNRB kiểm soát. Hội chứng chết thai ở ngựa con màu trắng (OLWS) liên quan trực tiếp đến đột biến đồng hợp tử của thụ thể endothelin-B (Ile118Lys). Sinh lý tiêu hóa của ngựa có đặc điểm dạ dày thể tích tương đối nhỏ so với khối lượng cơ thể, đòi hỏi lượng thức ăn chia thành nhiều bữa nhỏ liên tục, lượng thức ăn thô xanh ăn vào hàng ngày tính theo vật chất khô thường chiếm trên 1% trọng lượng cơ thể.
Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu
Đề tài áp dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu nông học và chăn nuôi thực nghiệm:
- Phương pháp tiếp cận: Tiếp cận lịch sử và logic (kế thừa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước); tiếp cận định tính kết hợp định lượng; tiếp cận phân tích - tổng hợp hệ thống.
- Phương pháp điều tra thực địa khẩu phần ăn: Thực hiện trên đàn mẫu gồm 10 cá thể ngựa bạch ở các lứa tuổi khác nhau, phân chia nhốt 2 con vào 1 ô máng ăn. Lượng cỏ VA06 cấp phát hàng ngày cho cả nhóm là 200 kg, thu cắt vào buổi chiều tối ở trạng thái tươi ráo. Định kỳ hàng ngày đảo các công thức cho ăn và kéo dài theo dõi liên tục trong 10 ngày. Cỏ dư thừa được thu gom toàn bộ vào sáng hôm sau (bao gồm cả phần rơi vãi dưới sàn chuồng được quét dọn sạch) và cân trừ bì để xác định chính xác lượng cỏ thực tế tiêu thụ (kg/con/ngày) và quy đổi sang nhu cầu cả năm.
- Phương pháp điều tra nông hóa thổ nhưỡng: Bố trí đào 60 phẫu diện đất tại thực địa, lấy mẫu ở 2 tầng độ sâu (0 - 30 cm và 30 - 60 cm) để kiểm tra các chỉ tiêu lý hóa học theo hệ thống tiêu chuẩn quốc gia:
| Chỉ tiêu phân tích |
Tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng |
| Độ ẩm và dung trọng của đất |
TCVN 6860: 2001 |
| Thành phần cơ giới đất |
TCVN 8567: 2010 |
| Hàm lượng chất hữu cơ (mùn) |
TCVN 4050-85 |
| Hàm lượng đạm tổng số |
TCVN 6498 |
| Hàm lượng đạm dễ tiêu |
TCVN 5255: 2009 |
| Độ chua (pH đất) |
TCVN 5979: 2007 |
| Hàm lượng Ca, Mg trao đổi |
TCVN 6646: 2000 |
| Hàm lượng lân dễ tiêu ($P_2O_5$) |
10TCN 373-1999 |
| Hàm lượng kali dễ tiêu ($K_2O$) |
TCVN 8662: 2011 |
- Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng đối với cỏ VA06: Theo dõi các chỉ tiêu nông học qua 3 lứa cắt đại diện cho 3 thời vụ sinh trưởng:
- Lứa 1 (Vụ đông): Từ ngày 05/12/2013 đến ngày 24/01/2014.
- Lứa 2 (Vụ đông - xuân): Từ ngày 29/01/2014 đến ngày 21/03/2014.
- Lứa 3 (Vụ xuân - hè): Từ ngày 26/03/2014 đến ngày 13/05/2014.
- Phương pháp đo đếm chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất:
- Tốc độ tái sinh ($L$, tính bằng cm/ngày): Xác định theo chu kỳ 10 ngày một lần trong suốt 50 ngày của một lứa cắt theo công thức:
$$L = \frac{L_2 - L_1}{T}$$
Trong đó: $L_1$ là chiều cao cỏ đo lần trước; $L_2$ là chiều cao cỏ đo lần sau; $T$ là khoảng cách giữa hai lần đo (10 ngày).
- Chiều cao cây và độ cao thảm cỏ khi thu hoạch (cm): Đo tại 5 điểm ngẫu nhiên theo phương pháp đường chéo hình chữ nhật trên ô tiêu chuẩn, lặp lại 3 lần bằng thước thẳng có vạch chia milimet, thực hiện vào sáng sớm khi ráo sương.
- Năng suất chất xanh (tấn/ha): Cân toàn bộ khối lượng cỏ tươi cắt trên diện tích thí nghiệm ngay sau thu hoạch (không dính nước tự do), quy đổi ra sản lượng chất xanh trên đơn vị hecta cho từng lứa cắt.
- Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học ứng dụng trong nông nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Thiện (2000), thực hiện trên phần mềm Microsoft Excel 2003.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần 1: Mở đầu
Tác giả phân tích tính cấp thiết của việc phát triển nguồn thức ăn thô xanh cao sản phục vụ chăn nuôi đại gia súc trong bối cảnh diện tích đất chăn thả ngày càng thu hẹp. Nội dung nêu bật vị thế của giống cỏ VA06 với tiềm năng sinh khối trên 480 tấn/ha/năm, chu kỳ khai thác gốc bền bỉ 6 - 7 năm và khả năng thích ứng sinh thái rộng. Từ thực tế tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa tại Tức Tranh (Phú Lương, Thái Nguyên) đang nuôi dưỡng 80 cá thể ngựa bạch nhưng gặp khó khăn về sự chênh lệch năng suất cỏ giữa các mùa, tác giả xác lập 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, các yêu cầu kỹ thuật cần đạt được và ý nghĩa thực tiễn của đề tài trong việc quy hoạch đồng cỏ.
Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Phần tổng quan cung cấp cơ sở khoa học toàn diện về sinh học cây cỏ hòa thảo, vai trò dinh dưỡng của đạm, lân, kali, phân chuồng và ảnh hưởng của chu kỳ thu cắt tới sức tái sinh đồng cỏ. Nội dung mô tả chi tiết quy trình kỹ thuật gây trồng và chăm sóc cỏ VA06:
- Yêu cầu sinh thái: Số ngày nắng trên 100 ngày/năm, độ cao dưới 1.500 m, nhiệt độ bình quân trên 15°C, lượng mưa trên 800 mm/năm.
- Kỹ thuật làm đất và phân bón: Đất cày phay 2 - 3 lần sâu 20 cm, bón vôi bột 1 - 1,5 tấn/ha. Bón lót 15 - 20 tấn phân chuồng, 200 - 300 kg supe lân, 100 kg kali clorua/ha. Bón thúc sau mỗi lứa cắt từ 50 - 100 kg hoặc 300 - 375 kg đạm urê/ha. Bón phục hồi đầu xuân từ 10 - 15 tấn phân chuồng kết hợp NPK và bổ sung 1 tấn vôi/ha sau mỗi chu kỳ 3 năm.
- Phương pháp nhân giống và trồng: Chọn hom bánh tẻ 6 tháng tuổi, cắt vát một mắt mầm, xoa tro bếp xử lý vết cắt; áp dụng trồng theo rãnh sâu 14 cm đặt hom nghiêng 45° hoặc đặt nằm ngang phủ 7 cm đất mịn, trồng theo hốc đường đồng mức, hoặc tách khóm chồi 1 - 2 năm tuổi.
- Kỹ thuật thu hoạch và chế biến: Chu kỳ cắt 20 - 40 ngày/lứa vào các tháng 4 - 11; cắt cách mặt đất 15 cm; chiều cao cắt đạt 130 - 170 cm đối với gia súc lớn (5 - 6 lứa/năm) và 80 - 120 cm đối với gia cầm, lợn, cá (7 - 10 lứa/năm). Phương pháp chế biến dự trữ gồm ủ chua (cắt cây cao 150 - 200 cm, phơi hạ ẩm còn 60%, băm đoạn 3 cm, bổ sung 1% urê và 3% muối ăn), làm cỏ khô xanh và ủ men vi sinh.
Tổng quan cũng tổng kết các nghiên cứu di truyền, dược lý và dinh dưỡng của ngựa bạch trên thế giới và tại Việt Nam. Quần thể ngựa bạch toàn quốc ước tính chỉ có khoảng 400 - 500 cá thể (chiếm 0,3 - 0,5‰ tổng đàn ngựa), phân bố chủ yếu tại Lạng Sơn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Bắc Kạn, Bắc Giang. Về giá trị kinh tế, ngựa bạch giống có giá từ 20 - 25 triệu đồng/con, ngựa trưởng thành đạt 50 - 70 triệu đồng/con. Các thành phần hoạt chất y dược quý trong thịt, cao xương ngựa (chứa 75 - 82% protein, 17 axit amin) và huyết thanh ngựa chửa (tách chiết kích dục tố PMSG - Gravohormon, Gamaglobulin, chế phẩm Polyamin, kháng thể chống trực khuẩn mủ xanh TKMX, Leptospirosis, kháng dại và nọc rắn) được tổng hợp chi tiết.
Đồng thời, tác giả khảo sát đặc điểm tự nhiên, thủy văn sông Cầu và thực trạng chăn nuôi tại Chi nhánh. Thống kê biến động đàn động vật hoang dã và bán hoang dã của cơ sở qua các năm được trình bày cụ thể qua hai bảng số liệu sau:
| Giai đoạn phát triển |
Số lượng đàn Hươu (con) |
Số lượng đàn Lợn rừng (con) |
| 2007 |
30 |
- |
| 2008 |
35 |
- |
| 2009 |
50 |
- |
| 2010 |
70 |
40 |
| 2011 |
110 |
155 |
| 2012 |
148 |
210 |
| 2013 |
180 |
300 |
| 2014 |
200 |
320 |
| 2015 |
210 |
280 |
| 2016 |
250 |
300 |
| 2017 |
250 |
350 |
| 2018 |
270 |
400 |
| 2019 |
330 |
480 |
| 2020 |
380 |
550 |
| Giai đoạn |
Tổng đàn Ngựa bạch (con) |
Phân theo mục đích: Sinh sản (con) |
Phân theo mục đích: Giết thịt / Nấu cao (con) |
| Từ 2007 - 2008 |
20 - 25 |
20 |
0 |
| Từ 2008 - 2009 |
25 - 29 |
23 |
2 |
| Từ 2009 - 2010 |
29 - 33 |
26 |
3 |
| Từ 2010 - 2011 |
33 - 38 |
30 |
3 |
| Từ 2011 - 2012 |
38 - 42 |
33 |
5 |
| Từ 2012 - 2013 |
42 - 47 |
36 |
6 |
| Từ 2013 - 2014 |
47 - 51 |
41 |
6 |
| Từ 2014 - 2015 |
51 - 56 |
45 |
6 |
| Từ 2015 - 2016 |
56 - 60 |
49 |
7 |
| Từ 2016 - 2017 |
60 - 63 |
53 |
7 |
| Từ 2017 - 2018 |
63 - 68 |
55 |
8 |
| Từ 2018 - 2019 |
68 - 74 |
59 |
9 |
| Từ 2019 - 2020 |
74 - 80 |
65 |
9 |
| Từ 2020 - nay |
80 |
70 |
10 |
Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết hệ phương pháp luận khoa học, quy trình khảo sát địa bàn tại xóm Gốc Gạo, kỹ thuật bố trí thí nghiệm khẩu phần ăn trên 10 con ngựa bạch, quy trình đo đạc 60 phẫu diện đất theo 9 tiêu chuẩn TCVN/10TCN, quy chuẩn theo dõi tốc độ tái sinh định kỳ 10 ngày trong chu kỳ 50 ngày cắt/lứa qua 3 thời vụ (vụ đông, đông - xuân, xuân - hè) và phương pháp tính toán sản lượng chất xanh trên máy tính tính bằng phần mềm Excel 2003 theo công thức toán sinh học.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Theo cấu trúc mục lục và các bảng danh mục của khóa luận, nội dung trọng tâm phần kết quả tập trung phân tích:
- Đánh giá hiện trạng sản xuất cây thức ăn và quy mô phát triển đàn ngựa bạch tại cơ sở: Đàn ngựa phát triển bền vững từ 20 con ban đầu lên 80 con (duy trì 60 - 70 con cái sinh sản, hàng năm tăng tự nhiên 3 - 6 cá thể sau khi đã trừ số lượng khai thác thịt và nấu cao).
- Khả năng sinh trưởng và năng suất của giống cỏ VA06 qua các thời vụ: Phân tích các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao cây, tốc độ tái sinh qua các chu kỳ 10 ngày) và năng suất chất xanh qua các thời vụ khác nhau (vụ đông lạnh năng suất thấp nhất do nhiệt độ có thời điểm giảm xuống 4 - 7°C, vụ xuân - hè năng suất tăng nhanh khi nhiệt độ và lượng mưa thuận lợi).
- Xác định khẩu phần thức ăn thực tế của ngựa bạch: Từ thí nghiệm cấp phát 200 kg cỏ/ngày cho 10 cá thể và đối trừ lượng cỏ dư thừa, tác giả lượng hóa mức ăn thực tế tính trên một đầu con trong ngày và quy đổi theo năm (kg/con/năm) cho các nhóm ngựa nuôi theo mục đích kinh doanh.
- Cân đối giữa nhu cầu thức ăn của đàn ngựa với quỹ đất 1,5 ha trồng cỏ VA06 tại Chi nhánh: Xác định mức độ đáp ứng thức ăn thô xanh của diện tích hiện có, chỉ rõ các thời điểm thâm hụt sinh khối trong mùa khô lạnh.
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật: Khắc phục tình trạng thiếu hụt cỏ mùa đông thông qua kỹ thuật ủ xanh bổ sung 1% urê và 3% muối, phơi cỏ khô xanh, điều chỉnh chế độ tưới ẩm và kỹ thuật bón phân thâm canh (bón phân chuồng trước mùa đông, bón thúc đạm urê sau thu hoạch).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã ghi nhận và hệ thống hóa các kết quả cụ thể:
- Xác lập dữ liệu theo dõi phát triển đàn ngựa bạch tại trại từ năm 2007 (20 cá thể) đến năm 2020 (80 cá thể: gồm 70 con nuôi sinh sản và 10 con phục vụ mục đích khai thác thương phẩm nấu cao), chứng minh tính khả thi của mô hình nhân nuôi bảo tồn kết hợp khai thác kinh tế động vật bán hoang dã.
- Hoàn thành thiết kế thực nghiệm định lượng khẩu phần ăn thô xanh trên động vật thực tế: Xác lập phương thức theo dõi khẩu phần ăn chuẩn hóa (200 kg cỏ tươi/ngày cho đàn mẫu 10 con, chia cặp 2 con/máng, đảo bữa liên tục trong 10 ngày, cân lượng dư thừa từng buổi sáng) để xác định chỉ số tiêu thụ cỏ VA06 thực tế của ngựa bạch tại địa phương.
- Thiết lập hệ phương pháp đánh giá sinh trưởng đồng ruộng cỏ VA06 qua 3 vụ cắt liên tiếp (vụ đông rét buốt 5/12/2013 - 24/01/2014, vụ đông xuân 29/01 - 21/03/2014, vụ xuân hè 26/03 - 13/05/2014) thông qua công thức tốc độ tái sinh $L = (L_2 - L_1)/T$ và đo chiều cao thảm cỏ tại 5 điểm đường chéo.
- Đề xuất quy trình giải pháp đồng bộ kết hợp nông học và chăn nuôi: Kỹ thuật ủ chua dự trữ cỏ VA06 vào thời kỳ sinh khối cực đại (tháng 6 - tháng 8, cây cao 150 - 200 cm, ủ cùng 1% urê và 3% muối ăn ở độ ẩm 60%), kỹ thuật chế biến cỏ khô xanh, cùng chế độ bón phân chuồng (15 - 20 tấn/ha) và bón thúc đạm urê sau cắt nhằm nâng cao năng suất, khắc phục triệt để tình trạng thiếu hụt thức ăn trong các tháng mùa đông.
Đóng góp của đề tài nằm ở việc cung cấp chuỗi dữ liệu thực địa trực tiếp về sự kết hợp giữa cây thức ăn cao sản VA06 và đối tượng vật nuôi đặc thù là ngựa bạch tại vùng đất phù sa pha cát ven sông Cầu (Thái Nguyên), làm cơ sở khoa học để đơn vị quản lý cân đối chính xác diện tích canh tác cỏ với quy mô tổng đàn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu giới hạn tại một cơ sở thực địa duy nhất (Chi nhánh nghiên cứu và phát triển Động thực vật bản địa tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, Thái Nguyên), nơi đất đai có thành phần cơ giới pha nhiều cát ven sông Cầu, mang đặc tính dễ ngập úng vào mùa mưa tập trung và nhanh khô cằn vào mùa khô.
- Thời gian thực hiện khóa luận gói gọn trong 6 tháng (từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2020), các đợt theo dõi thực nghiệm đồng ruộng tập trung vào 3 lứa cắt chuyển tiếp giữa mùa đông, đông - xuân và xuân - hè, chưa theo dõi liên tục trọn vẹn toàn bộ các lứa cắt trong giai đoạn mưa lớn mùa hè (từ tháng 6 đến tháng 10).
- Thí nghiệm khẩu phần ăn thô xanh tiến hành trên nhóm mẫu 10 cá thể trong thời gian 10 ngày, chưa đi sâu phân tích khẩu phần dinh dưỡng chuyên biệt theo từng giai đoạn sinh lý cụ thể như ngựa mẹ mang thai, ngựa nuôi con bú hay ngựa con mới cai sữa.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi đầy đủ sản lượng chất xanh và tốc độ tái sinh của cỏ VA06 trong toàn bộ chu kỳ 6 - 8 lứa cắt/năm và qua nhiều năm lưu gốc (từ năm thứ 2 đến năm thứ 6) trên cùng một diện tích canh tác.
- Mở rộng nghiên cứu xây dựng khẩu phần phối trộn hoàn chỉnh (TMR) kết hợp giữa cỏ VA06 với các nguồn thức ăn tinh (cám, ngô, yến mạch), phụ phẩm nông nghiệp và khối liếm khoáng vi lượng phù hợp với từng trạng thái sinh lý và chu kỳ sinh sản của ngựa bạch.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Nông lâm kết hợp, Chăn nuôi, Thú y, Khoa học cây trồng và Quản lý đồng cỏ trong việc tham khảo phương pháp luận bố trí thí nghiệm thực địa, công thức đo tốc độ tái sinh của cây thức ăn gia súc thân bụi/thân đứng và hệ thống tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) phân tích hóa lý đất.
- Các kỹ sư nông nghiệp, chủ trang trại và hộ nông dân đang phát triển mô hình chăn nuôi đại gia súc (ngựa, trâu, bò thịt, bò sữa) tham khảo quy trình kỹ thuật nhân giống hom, mật độ làm đất, liều lượng bón phân và các công nghệ bảo quản dự trữ cỏ VA06 (ủ chua bằng urê và muối, phơi cỏ khô xanh).
- Các nhà nghiên cứu và cơ sở bảo tồn nguồn gen vật nuôi bản địa tham khảo dữ liệu tổng quan về đặc tính sinh học, di truyền học màu lông, bệnh lý đồng hợp tử OLWS và giá trị y dược cổ truyền - hiện đại của giống ngựa bạch tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Năng suất sinh khối chất xanh của giống cỏ VA06 vượt trội như thế nào so với các giống cỏ hòa thảo phổ biến khác?
Theo số liệu tổng quan trong khóa luận, cỏ VA06 thâm canh có thể đạt năng suất chất xanh trên 480 tấn/ha/năm. Trong khi đó, năng suất trung bình của cỏ voi thường chỉ đạt từ 100 đến 200 tấn/ha/năm và cỏ Ghinê đạt từ 80 đến 150 tấn/ha/năm. Ngoài ra, chu kỳ lưu gốc thu hoạch của cỏ VA06 kéo dài 6 - 7 năm, cao hơn đáng kể so với cỏ voi (3 - 4 năm đã phải trồng lại).
2. Quy mô đàn động vật tại Chi nhánh Tức Tranh biến động như thế nào từ năm 2007 đến năm 2020?
Số liệu thống kê tại Chi nhánh cho thấy: Đàn hươu tăng liên tục từ 30 con (năm 2007) lên 380 con (năm 2020); đàn lợn rừng từ 40 con (năm 2010) tăng lên 550 con (năm 2020). Riêng đàn ngựa bạch tăng trưởng từ 20 con (năm 2007) lên 80 con (năm 2020), trong đó có 70 con nuôi sinh sản và 10 con phục vụ mục đích khai thác thịt, nấu cao.
3. Thí nghiệm xác định khẩu phần ăn của ngựa bạch tại Chi nhánh được tiến hành theo phương pháp nào?
Thí nghiệm được thực hiện trên 10 con ngựa bạch ở các lứa tuổi, nhốt 2 con vào 1 máng ăn. Hàng ngày cấp 200 kg cỏ VA06 tươi cắt vào chiều tối cho 10 con, đảo công thức cho ăn liên tục trong 10 ngày. Vào sáng hôm sau, toàn bộ cỏ rơi vãi dưới sàn và cỏ còn lại trong máng được quét sạch, cho vào bao tải (đã trừ khối lượng vỏ bao) để cân xác định khối lượng dư thừa, từ đó tính ra lượng cỏ thực tế tiêu thụ của mỗi cá thể.
4. Quy trình kỹ thuật ủ chua dự trữ cỏ VA06 được tác giả hướng dẫn như thế nào?
Vào thời kỳ sinh trưởng mạnh từ tháng 6 đến tháng 8, khi cây cỏ cao 150 - 200 cm, tiến hành cắt cỏ rồi phơi nắng từ nửa ngày đến 1 ngày để hạ độ ẩm xuống 60%. Sau đó, cắt băm cỏ thành từng đoạn 3 cm, bổ sung thêm 1% đạm urê và 3% muối ăn trộn đều, nén chặt vào bịch hoặc hố ủ để lên men dự trữ làm thức ăn cho gia súc trong mùa đông.
5. Về mặt sinh học và di truyền, ngựa bạch khác với ngựa trắng thông thường (ngựa kim) ở những điểm cơ bản nào?
Ngựa bạch là cá thể mang đột biến gen bạch tạng, có da màu trắng hồng, các lỗ tự nhiên (mũi, miệng, bộ phận sinh dục) màu hồng đỏ, viền mắt màu hồng, con ngươi màu đỏ hồng (soi đèn ban đêm có màu đỏ rực), móng sừng màu trắng ngà và bị mù màu sinh lý vào khoảng 12 giờ trưa trong 30 phút. Ngược lại, ngựa trắng thông thường (ngựa kim) chỉ mang màu lông trắng đơn thuần nhưng vành mắt và các hốc tự nhiên vẫn có sắc tố đen, giá trị kinh tế và dược liệu thấp hơn ngựa bạch.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Ngô Việt Cường đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận sinh học họ Hòa thảo và quy trình canh tác giống cỏ cao sản VA06 gắn liền với nhu cầu dinh dưỡng của đàn ngựa bạch tại Phú Lương, Thái Nguyên. Thông qua phương pháp điều tra thực nghiệm khẩu phần ăn trên đàn mẫu và theo dõi sinh trưởng đồng ruộng qua các thời vụ cắt, nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn để cân đối diện tích đất trồng cỏ với quy mô chăn nuôi 80 cá thể ngựa. Các giải pháp kỹ thuật về chế biến ủ chua dự trữ cỏ với urê và muối cùng chế độ bón phân thâm canh được đề xuất là căn cứ trực tiếp giúp cơ sở giải quyết tình trạng thiếu hụt thức ăn thô xanh trong mùa khô lạnh.