CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 11. Lịch sử vấn để nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Van dé nhận thức không gian của người mù đã trở thành chủ dé nghiên cứu vào cuối thế kỉ 17, khi nhà triết học người Anh Locke cố tìm ra câu trả lời cho vấn để do bác sĩ Molyneux đặt ra: Một người bị mù bẩm sinh do đục thuỷ tinh thé sử dụng xúc giác để phân biệt hình tròn và hình vuông. Vậy thì, sau khi được phẩu thuật liệu họ có khả năng dùng mắt để phân biệt được hình vuông, hình tròn hay không? Tại sao bệnh nhân của Molyneux sau khi phẫu thuật không thể tri giác bằng mắt vì họ thấy có vẻ như mọi thứ đều rất hỗn độn và chạm vào mắt họ? Câu trả lời của Locke là “họ sẽ không thể nhận ra đâu là hình tròn, đâu là hình vuông khi lần đầu tiên tri giác bằng mắt”.
Là một người theo chủ nghĩa kinh nghiệm, Locke cho rằng, đâu óc của ta khởi nguồn là một tấm bảng trống không. Tất cả những khái niệm chúng ta có được có nguồn gốc từ các trải nghiệm cảm giác. Tự nhiên đóng góp ít hơn kinh nghiệm trong việc tạo nên sự tri giác rõ ràng. Hơn nữa, kinh nghiệm của phương thức cảm giác này không thể rèn luyện phương thức cảm giác khác.
Không có mối liên hệ tự nhiên giữa xúc giác và thị giác, kinh nghiệm của cơ quan cảm giác này không thể chuyển thành kinh nghiệm của cơ quan cảm giác khác. {33 | Quan điểm này về sau cũng được Berkeley (1709), Condillac (1749), Donald Hebb (1949) và triết gia: Merleau - Ponty (1962) thừa nhận. Theo quan điểm này thì: 10 Sự phát triển của tri giác phụ thuộc vào kinh nghiệm. Ban đầu, trí giác hon độn và người ta phải học trì giác.
Các phương thức cảm giác không có mối liên hệ tự nhiên. không dong nhất với nhau, chúng có những đặc điểm cấu trúc và những đặc điểm không gian riêng. không có sự tương tác chức năng giữa các phương thức cảm giác. chúng phải học cách liên kết với phương thức khác khi đã có được kinh nghiệm.
Kinh nghiệm của phương thức cảm giác này không rèn luyện phương thức cảm giác khác. Kinh nghiệm theo phương thức xúc giác không thể sử dụng cho việc wi giác bằng phương thức thị giác. theo quan điểm này, sự nhận thức không gian bằng xúc giác khác với nhận thức bằng thị giác và như vậy những biểu tượng không gian người mù có được từ việc dùng xúc giác sẽ khác với những biểu tượng của người xáng mắt được hình thành nhờ vào việc dùng thị giác. Kết luận này là hoàn toàn sai lầm.{ 33 ] Seden (1932) cho rằng: người mù bẩm sinh không có khả năng không gian.
Ong cho rằng, những kinh nghiệm thị giác lúc còn bé là điều kiện cần cho những hiểu biết về không gian. Ong đã dựa trên kết luận cho rằng thị giác là cơ quan hình thành nên tất cả các biểu tượng không gian. Do đó, những người ngay từ khi sinh ra đã bị mù sẽ không có khả năng không gian. |27| Revesz (1950) cũng tỏ ra rất bi quan về khả năng của xúc giác trong tri giác không gian 2, 3 chiều.
Ong cho rằng xúc giác chỉ có thể cung cấp những thông tín cấu trúc của sự vật. Theo quan điểm này. người mù bị coi là rất kém trong việc hiểu những mối quan hệ không gian và sẽ không có khá năng phản tích các bức tranh có thé sờ mó được. Revexz cùng cho rằng, xúc giác không có khả năng cung cấp những thông tin tỉ mỉ.
chỉ tiết về hình dang. Những quan điểm này đưa đến những dự đoán tiêu cực vé khả nang không gian của người mù. [ 22 ] Năm 1955, Viện người mù quốc gia Hoàng gia Anh và Viện giáo dục Cumbridge thuộc trường đại học Cambridge đã tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm về sự phát triển tri giác của trẻ mù. Trong nghiên cứu này.
các tác gid đã tiến hành nhiều tiểu nghiệm nhằm tìm hiểu khả nang sử dụng xúc giác. thính giác của trẻ mù trong việc tri giác các sư vật, định vị âm thanh va định hướng trong không gian. Nghiên cứu được thực hiện trong nhiều năm nhằm tim hiểu sự phát triển wi giác của trẻ mù. Thực nghiệm đã thu được những kết quả khả quan, cho thấy trẻ mù vẫn có những khả năng tri giác không gian mặc dù gặp nhiều khó khăn hơn so với người sáng mắt, sự phát triển tri giác của trẻ phụ thuộc vào sự rèn luyện và khả năng này ngày càng được cải thiện theo độ tuổi.
[ 26 | Huyes (1935) đã nghiên cứu khả năng định vị âm thanh trên trẻ mù ở độ tuổi di học và người trưởng thành. Ong cho rằng không có sự khác biệt rõ rệt trong việc định vị âm thanh dựa trên mức độ khiếm khuyết thị giác và trí thông minh. Cũng vấn để này, Spiegelman (1976) nhận thấy, những trẻ có lịch sử trải nghiệm thị giác ngay từ bé sẽ có khả năng định vị âm thanh tốt hơn so với những trẻ mất đi thị giác ngay từ tuổi sơ sinh. Định vị âm thanh không chỉ liên quan đến việc phân biệt âm thanh mà còn liên quan đến khung không gian.
Có rất nhiều nghiên cứu cho thấy thuận lợi của những cá nhân trải nghiệm thị giác ban đầu trong thực hiện các test vé không gian (McLinden, 1988; Warren, Anooshian & Bollinger, 1973) | 27 | Daniel H.D (1989) cũng đã thực hiện nhiều nghiên cứu về khả năng định vị âm thanh của trẻ khiếm thị. Trong một nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng củu những trải nghiệm thị giác đối với sự phát triển tri giác âm thunh I2 trong không gian, Ashmead đã đi đến kết luận: khả năng định vị âm thanh trong không gian không phụ thuộc vào lịch sử trải nghiệm thị giác. Điều này khẳng định người khiếm thị nói chung và người mù nói riêng vẫn có khả năng định vị âm thanh rất tốt dù rằng họ không nhìn thấy được bằng mắt. I25I Bên cạnh đó cũng có rất nhiều nghiên cứu yếu tố xúc giác trong việc đọc chữ Braille: Weiner (1963), Hammill & Crandell (1969), Hermelin & O’Connor (1971).
Các nghiên cứu này đều đi đến kết luận rằng ki nang đọc chữ braille phụ thuộc vào tính nhạy cảm của các ngón tay và phụ thuộc vào sự phối hợp giữa chúng. Khả năng này sẽ ngày càng tốt hơn trong quá trình tập luyện của cá nhân. Những người đọc tốt chữ braille có khả năng phân biệt bằng xúc giác tốt hơn những người đọc kém. [ 27 ] s* Nhà tâm lý học người Dan Mach Lilli Nielsen là người có rất nhiều những nghiên cứu trên trẻ khiếm thị.
Bà đã rất thành công trong việc nghiên cứu khả năng hình thành các mối liên hệ không gian của trẻ mầm non bằng thực nghiệm “Cin phòng nhỏ " (Little Room) (1991). “Can phòng nhỏ ” là phương pháp tác động nhằm mục đích: © Tìm hiểu xem một môi trường được thiết kế đặc biệt có tạo điều kiện để giúp trẻ phát trển khả năng xác định được các mối tương quan trong không gian hay không © Quan sát để tìm hiểu những tính chất nào của môi trường được thiết kế đặc biệt này sẽ cải thiện sự phát triển các mối tương quan trong không gian rất sém trong cuộc đời trẻ mù bẩm sinh Nghiên cứu này cho phép Lilli Nielsen đi đến kết luận tật mù không làm cản trở sự phát triển về việc nhận thức các mối tương quan không gian nếu trẻ được cung cấp môi trường thuận lợi cho phép chúng có được những hiểu biết. 13 Theo Lilli Nielsen, “các mối tương quan trong không gian” (spatial relations) dé cập đến những mối quan hệ giữa trẻ mù với thế giới bên ngoài mà trẻ có khả năng nhận biết thông qua cơ giác vận động, thính giác, xúc giác và kể cả vị trí của đổ vật trong mối tương quan với nhau, với tré và với môi trường xung quanh trẻ. Theo đó, trẻ cần phải được cung cấp những điều kiện thuận lợi để khám phá thế giới từ những giai đoạn đầu của cuộc đời để giúp trẻ phát triển.
| 31 | Như vậy, có thể nhận thấy, các nhà nghiên cứu trên thường có hai khuynh hướng chính khi đưa ra kết luận về các khả năng tri giác không gian của người mù. Khuynh hướng thứ nhất thường thấy ở những nghiên cứu của các nhà tâm lý học trước thế ki XVII - XVIII. Khuynh hướng này thường đánh giá quá cao vai trò của thị giác trong việc tri giác các đặc tính không gian của sự vật dẫn đến đánh giá quá thấp vai trò của các giác quan còn lại cũng như khả năng của người mù. Khuynh hướng thứ hai thường thấy ở các nhà tâm lý học cận và hiện đại.
Đây là cách tiếp cận cho phép chúng ta hoàn toàn lạc quan và tin tưởng vào khả năng không gian của người mù. Nó cho phép ta đánh giá một cách đúng mức khả năng của họ khi mất đi thị giác nhờ vào việc sử dụng phối hợp các giác quan khác.2, Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam: O Việt Nam, các nghiên cứu về trẻ khiếm thi, đặc biệt là những nghiên cứu về khả năng tri giác không gian là rất ít. Do đó, người nghiên rất khó khăn trong việc tiếp cận với các để tài này để bổ sung cho quá trình nghiên cứu. Một số khái niệm cơ bản 1.
Tri giác > Định nghĩa Theo P.Rudich (1986): Tri giác là sự phản ánh trong ý thức con người những vật thể và hiện tượng của hiện thực khi chúng tác động trực tiếp lên cúc cơ quan cảm giác. Khác với cảm giác, trí giác là cái phản ánh những tính chất và những đặc tính của vật thể. tri giác phan ánh vật thể nói chung. trong tổng thể các đặc tính của vật thể đó và trong sự liên hệ lẫn nhau của các đặc tính đó.
[13] Theo Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ (1988): Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của ta.