Đặt vấn đề Bình Định là một trong những tỉnh thuộc vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, có đường bờ biển kéo dài tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, trong những năm gần đây tình hình nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm thẻ chân trắng đã gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh phát sinh thường xuyên. Để giảm thiểu dịch bệnh nhằm tăng tính bền vững trong nuôi trồng thủy sản thì việc đa dạng hóa đối tượng nuôi là cần thiết. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã dẫn đến nhiều diện tích đất sản xuất ở các cánh đồng của các huyện Tuy Phước, Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Nhơn bị nhiễm phèn, nhiễm mặn nghiêm trọng, không sản xuất được lúa hoặc sản xuất không có hiệu quả kinh tế.
Vì vậy, người dân muốn chuyển sang nuôi trồng thủy sản. Vì lý do đó, tìm kiếm những đối tượng nuôi thích hợp để tận dụng các diện tích đất nhiễm mặn là nhiệm vụ cấp bách của địa phương. Cá rô đầu vuông (Anabas testudineus Bloch, 1792) là loài cá biến dị từ cá rô đồng, có tốc độ sinh trưởng nhanh gấp 2 – 3 lần so với cá rô đồng, khả năng thích nghi với môi trường sống rất tốt, hiệu quả kinh tế cao. Một vài nghiên cứu gần đây cho thấy rằng, cá rô đầu vuông ở giai đoạn cá giống (2,28±0,04g) có thể thích ứng với các độ mặn khác nhau (Nguyễn Văn Khanh, 2013).
Vì thế, đối tượng này có thể được lựa chọn để thử nghiệm nuôi trong các ao nước lợ tại một số địa phương của Bình Định. Tuy nhiên, khả năng thích ứng độ mặn của loài cá này ở giai đoạn cá hương đến cá giống vẫn chưa được nghiên cứu. Thêm vào đó, nếu cá giống đã được ương nuôi thành công trong môi trường nước lợ thì chúng có thể cải thiện được sức sống và sinh trưởng khi 2 nuôi thương phẩm hay không vẫn còn là mối nghi vấn. Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu khả năng thích ứng độ mặn của cá rô đầu vuông (Anabas testudineus Bloch, 1792) từ giai đoạn ƣơng cá hƣơng đến cá giống và nuôi thƣơng phẩm”.
Mục tiêu nghiên cứu Xác định ảnh hưởng của các độ mặn khác nhau đến tỷ lệ sống, sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá rô đầu vuông ở giai đoạn cá hương đến cá giống, và giai đoạn nuôi thương phẩm, từ đó góp phần đưa loài cá này trở thành đối tượng nuôi nước lợ, làm đa dạng hóa đối tượng nuôi ở các vùng bị nhiễm mặn của tỉnh Bình Định. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn - Ý nghĩa khoa học: Kết quả thí nghiệm sẽ làm cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo, góp phần xây dựng quy trình nuôi cá rô đầu vuông ở vùng nước mặn, nước lợ. - Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần phát triển và đa dạng hóa đối tượng nuôi vùng đất ngập mặn, đầm phá tỉnh Bình Định và giới thiệu đối tượng nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Đặc điểm sinh học và sinh thái của cá rô đầu vuông 1. Vị trí phân loại Cá Rô đầu vuông có hệ thống phân loại như sau: [21] Ngành: Chordata Ngành phụ: Động vật có xương sống – Vertebrata Lớp cá xương: Osteichthyes Bộ cá vượt: Perciformes Bộ phụ: Anabantoidei Họ: Anabantidae Giống: Anabas Loài: Anabas testudineus Bloch, 1792 Tên địa phương: Cá Rô đầu vuông Tên tiếng Anh: Square-head climbing perch Hình 1. Cá rô đầu vuông 4 1. Đặc điểm phân bố, môi trường sống Cá rô đồng là loài cá nước ngọt, phân bố khá rộng trên thế giới, từ Nam Trung Quốc, Đông Nam Á đến Ấn Độ và các quần đảo giữa Ấn Độ và châu Úc (Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương, 1993).
Vùng phân bố của cá rô đồng trên thế giới. [6] Ở Đông Nam Á cá rô đồng chúng phân bố ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia, Myanma. Cá rô thường thích sống ở những nơi có mực nước tương đối nông và tĩnh (0,5-1,5m), nhiều cây cỏ thủy sinh và chất đáy giàu mùn bã hữu cơ. [6] Ở Việt Nam, cá rô đồng phân bố ở khắp nơi và khắp các địa hình thủy vực.
Ở ĐBSCL cá rô phân bố nhiều ở những khu vực trũng, nước ngập quanh năm như nông trường Phương Ninh (CầnThơ), rừng U Minh Hạ (Cà Mau), U Minh Thuợng (Kiên Giang) hoặc vùng Tứ Giác Long Xuyên, cũng thường gặp chúng ở kênh mương thuỷ lợi, ao, hồ. Một số đặc điểm sinh học cá rô đầu vuông Hình thái, cấu tạo Theo Dương Thúy Yên (2014) thì cá rô đầu vuông có thân hình bầu dục, dẹp bên, cứng chắc, đầu lớn, mõm ngắn, miệng hơi trên, rộng vừa, rạch miệng xiên kéo dài đến đường thẳng đứng kẻ qua giữa mắt, răng nhỏ nhọn. Mỗi bên đầu có hai lỗ mũi, lỗ phía trước mở ra bằng một ống ngắn. Mắt to, tròn nằm lệch về nửa trên của đầu và gần chót mõm hơn gần điểm cuối nắp mang.
[23] Cá rô đầu vuông có một số đặc điểm hình dạng bên ngoài khác cá rô đồng: Theo Trần Kiều Lan Phương (2011), cá rô đầu vuông có thân dài, dẹp bên, cứng chắc và thân hình hơi cong, còn cá rô đồng thường thì thân mình bầu dục. Cá rô đầu vuông có phần đầu to và vuông, mõm ngắn và nhọn còn cá rô đồng thường thì mõm ngắn và hơi bầu. Lúc nhỏ hình dáng cá rô đầu vuông giống như cá rô đồng nhưng khi cá có kích thước lớn, đầu cá có hình hơi vuông, môi trề, bụng sệ, đuôi dài, vây dưới dày. Thân cá dài và hơi cong, có 2 chấm đen ở phần đuôi và mang cá, đuôi xòe và có màu hơi đỏ.
Cá rô đầu vuông (trên) và cá rô đồng (dƣới) (nguồn: Tƣ liệu hình ảnh của đề tài). Cá rô đầu vuông có cơ quan hô hấp phụ cho phép chúng có thể hấp thụ được oxy trong không khí khi chúng ở trên cạn. Chính vì vậy, cá rô đầu 6 vuông có thể tồn tại được trong những điều kiện khắc nghiệt. Mặt khác, cá rô đầu vuông có ngưỡng oxy hòa tan thấp (từ 2 - 3 ppm) cho nên chúng có thể sống trong điều kiện nước giàu vật chất hữu cơ, diện tích nhỏ, thiếu oxy, pH thấp do đó cá có thể nuôi trong bể xi măng, ao nhỏ… và nuôi với mật độ cao.
Nhiệt độ thích hợp cho cá phát triển tốt từ 23 - 350C, pH thích hợp trong khoảng 6,5 - 8,5 và cá có thể sống ở những vùng nước phèn pH 3,5. [4] [23] Đặc điểm dinh dưỡng Theo Dương Thúy Yên (2014), cá rô đầu vuông ăn tạp, thức ăn thiên về động vật. Sau khi cá nở, cá dinh dưỡng bằng khối noãn hoàng. Khi hết noãn hoàng cá sử dụng thức ăn bên ngoài, chủ yếu là động vật phù du cỡ nhỏ (rotifer), ấu trùng của động vật phù du và một ít thực vật… Khi cá lớn, cá có thể ăn các loại tôm, tép, cá con, côn trùng… và các loại thực vật như: lúa, gạo, hạt cỏ… kể cả phân động vật và mùn bã hữu cơ.
Tính ăn động vật của cá thể hiện ở 7 – 10 ngày tuổi trở đi, chủ yếu moina và trùn chỉ…[23]. Theo Nguyễn Thúc Bảo, (2012); Dương Thúy Yên và Trương Ngọc Trinh (2013), cá rô đầu vuông có đường ruột dài hơn cá rô đồng. [1] [22] Đặc điểm sinh trưởng Theo Dương Thúy Yên (2014), cá rô đầu vuông sinh trưởng mạnh từ 3 – 5 tháng tuổi. Tuy nhiên, từ tháng tuổi thứ 6 trở đi thì cá cái và cá đực có tốc độ tăng trưởng khác nhau, tốc độ tăng trưởng của cá cái nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của cá đực [23].
Cá rô đầu vuông có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn cá rô đồng. Theo Dương Thúy Yên, trong cùng điều kiện nuôi, cá rô đầu vuông tăng trưởng nhanh hơn cá rô đồng và tốc độ tăng trưởng nhanh thể hiện rõ từ giai đoạn cá giống trở đi. Tốc độ tăng trưởng bình quân của cá rô đầu vuông là 1,221 g/ngày trong giai đoạn nuôi thương phẩm với thời gian nuôi 120 ngày. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng trung bình của cá rô đồng là 0,721 g/ngày.
[22] 7 Sau 4 tháng nuôi (cỡ cá giống 5 g/con), cá rô đầu vuông có thể đạt khối lượng 100 - 200 g/con và nếu kéo dài 7 tháng khối lượng cá có thể đạt từ 500 - 800 g/con. Thời gian nuôi càng kéo dài cá càng lớn chứ không giảm tốc độ sinh trưởng như cá rô đồng. [23] Đặc điểm sinh sản Dương Thúy Yên và Phạm Thanh Liêm (2014) cho rằng, có mối quan hệ giữa kích cỡ cá và sức sinh sản của cá. Khi cá cái càng lớn thì sức sinh sản tuyệt đối càng tăng nhưng sức sinh sản tương đối càng giảm và đường kính trứng (0,71 - 0,78 mm) thay đổi không đáng kể.
[24] Tuổi thành thục của cá rô đầu vuông là 12 tháng tuổi, kích cỡ cá đực trung bình 12,2 cm, cá cái có kích thước 15,5 cm và khối lượng dao động từ 100 - 150g. Kích cỡ cá bố mẹ tham gia sinh sản tốt nhất lớn hơn 200 g đối với cá đực và 250 g đối với cá cái. [22] Theo Dương Thúy Yên (2014), trứng cá rô đầu vuông cũng giống như trứng cá rô đồng, thường có màu trắng ngà nhưng hơi ngả vàng hơn so với trứng cá rô đồng. Đường kính trứng cá rô đầu vuông sau khi trương nước dao động từ 1,1 - 1,2 mm.
Trứng cá rô đầu vuông thuộc loại trứng nổi. Sức sinh sản thực tế của cá rô đầu vuông đạt khoảng 200. [24] Theo nghiên cứu của các tác giả như Dương Thúy Yên (2014), Nguyễn Đức Trường (2013), Trần Nguyên Ngọc (2012) thì các giai đoạn của tế bào trứng trong noãn sào cá rô đầu vuông ở các thời điểm nghiên cứu khác nhau không hoàn toàn đồng nhất. Đặc điểm này cho thấy cá rô đầu vuông đẻ quanh năm.
[10] [18] [24] Cá rô đầu vuông đẻ quanh năm nhưng tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 7 dương lịch, vào thời điểm xuất hiện những cơn mưa rào. Khi đẻ cá thường tìm tới những nơi có dòng nước mát, chảy chậm, chính dòng nước là 8 yếu tố kích thích quá trình hưng phấn và đẻ trứng của cá rô đầu vuông. Mực nước thích hợp cho quá trình sinh sản của cá rô đầu vuông khoảng 0,3 - 0,4 m. Không giống với những loài cá cùng họ Anabantidae, cá rô đầu vuông không có tập tính làm tổ hoặc chăm sóc trứng.
[10] [25] Có thể phân biệt cá đực và cá cái dựa vào các đặc điểm sau: Cá đực có ngực thon, bụng lép, thân dài; khi thành thục vuốt có sẹ màu trắng chảy ra.