Đặt vấn đề Công nghiệp điện lạnh đóng vai trò cơ sở trong sự phát triển bền vững vì sự đa dạng ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống hàng ngày như công nghiệp hoá chất, công nghiệp thực phẩm, y tế,. Tủ lạnh và điều hoà không khí dân dụng được sử dụng rộng rãi để phục vụ đời sống của con người. Theo một số thống kê ghi nhận được, việc sử dụng hệ thống nén hơi lạnh chiếm khoảng 30% tổng tiêu thụ năng lượng trên thế giới [1]. Từ khi ra đời, tác nhân lạnh đã trãi qua các giai đoạn khác nhau từ việc đưa vào thử nghiệm và sử dụng bao gồm các hợp chất thuộc nhóm CFCs, HCFCs và HFCs.
Các tác nhân lạnh được sử dụng vì các đặc tính nhiệt động lực học, hóa học phù hợp cũng như độ bền và tính ổn định. Tuy nhiên, trong các tác nhân lạnh thuộc nhóm CFCs và HCFCs có thành phần nguyên tố Clo. Đây là tác nhân chính phản ứng với Ô-zôn và gây thủng tầng Ô-zôn trong khí quyển. Thế hệ tác nhân lạnh tiếp theo được kể đến là HFCs, loại khí gây hiệu ứng nhà kính.
Để giải quyết vấn đề môi trường do các tác nhân lạnh này gây ra, những nghiên cứu gần đây đã không ngừng nổ lực tìm kiếm loại tác nhân lạnh không những đáp ứng về chỉ số suy giảm tầng Ô-zôn (ODP) và chỉ số gây nóng lên toàn cầu (GWP) mà còn là tác nhân lạnh phải có những đặc tính nhiệt động lực học tương tự tác nhân lạnh bị thay thế. R22 được biết là tác nhân lạnh được sử dụng phổ biến trong điều hoà không khí dân dụng trên toàn thế giới cho đến ngày nay. Mỗi năm, nhu cầu về việc sử dụng điều hoà không khí tăng kéo việc tăng sản lượng tiêu thụ tác nhân lạnh R22. Theo nghị định thư Montreal, R22 sẽ được loại bỏ dần trước năm 2030 ở các nước đang phát triển [2]….
Điều này đã làm đứt nguồn cung R22 cho các thiết bị điều hoà đang sử dụng hiện tại – thiết bị có nhu cầu bảo trì. Ở các nước phát triển, việc tìm và sử dụng gas thay thế đã triển khai từ rất nhiều năm. Ngược lại, Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu sâu sắc và đưa ra một giải pháp gas thay thế để đáp ứng yếu tố môi trường cũng như kinh tế và hiệu quả sử dụng. Việc đẩy nhanh tiến độ loại bỏ R22 đặt ra một thách thức lớn.
1 Hiện nay, trên thị trường đã xuất hiện các loại tác nhân lạnh thay thế R22, chẳng hạn như: R410A, R407C,. Tuy nhiên, những loại tác nhân lạnh này vẫn còn chỉ số nóng lên toàn cầu (GWP) cao và đôi khi cần thiết phải thay đổi một số kết cấu của hệ thống. Hydrocacbon được biết đến là tác nhân lạnh thân thiện với môi trường, có ODP = 0 và GWP rất thấp. Vì thế, chúng khắc phục được những hạn chế mà các loại tác nhân lạnh trước đây gặp phải.
R290 (Propan) và R1270 (Propylene) được đánh giá là hai hydrocacbon có tính chất nhiệt động lực học tương tự R22, phù hợp với các thiết bị điều hoà dân dụng cũ đang sử dụng R22 và không cần phải thay thế bất kì chi tiết nào của hệ thống điều hoà dân dụng. Việc khảo sát R290 và R1270 ở các tỉ lệ khác nhau và đánh giá hiệu quả sử dụng của nó so với R422D có thể mở ra hướng phát triển mới của ngành tác nhân lạnh thế giới. Đồng thời, việc tìm ra một loại tác nhân lạnh phù hợp cho hệ thống R22 ở dạng “drop – in” (không thay đổi kết cấu hệ thống) sẽ tiết kiệm một lượng lớn thiết bị điều hoà đang sử dụng R22 khi đứng trước nguy cơ giới hạn lượng tiêu thụ R22 trong những năm sắp tới. Mục tiêu - Tính toán thông số của chu trình lạnh thông qua phần mềm REFPROP 9.0; - Thiết lập và xây dựng mô hình thực nghiệm chạy thử nghiệm tác nhân lạnh R22 và các tác nhân lạnh thay thế; - Xác định khối lượng nạp tối ưu đối với các loại gas R22, R290, R1270 và R422D; - Đánh giá hiệu năng sử dụng và khả năng thay thế “drop – in” của tác nhân lạnh hydrocacbon R290, R1270, từ đó, có sự lựa chọn tỉ lệ hỗn hợp hydrocacbon tối ưu và so sánh với tác nhân lạnh R422D khi đưa vào thử nghiệm hệ thống điều hoà sử dụng tác nhân lạnh R22; - Tác nhân lạnh hydrocacbon thuộc nhóm dễ cháy nên cần có những biện pháp đánh giá, phòng ngừa và an toàn trong khi sử dụng tác nhân lạnh thay thế.
Phạm vi R22 là tác nhân lạnh có ứng dụng rộng rãi, sử dụng ở một số thiết bị phổ biến như điều hoà không khí dân dụng, điều hoà không khí trung tâm, bơm nhiệt,….Tuy nhiên, bài nghiên cứu này chỉ tập trung vào việc thay thế tác nhân lạnh R22 trong hệ thống điều hoà không khí dân dụng. Sự phát triển hỗn hợp tác nhân lạnh thay thế R22 cho điều hoà không khí dân dụng là tiền đề cho các nghiên cứu thay thế R22 ở các thiết bị có qui mô, công suất khác đang sử dụng R22. Kết quả tính toán dựa trên phần mềm REPROP 9.0 trong khoảng nhiệt độ bay hơi từ -20 oC đến 10 oC và nhiệt độ ngưng tụ từ 40 đến 50 oC. Ý nghĩa Về mặt thực tế: Tác nhân lạnh hydrocacbon có ý nghĩa đối với môi trường trong việc giảm lượng khí phát thải gây thủng tầng Ô-zôn và chỉ số gây nóng toàn cầu.
Việc tìm ra một tác nhân lạnh mới có khả năng ứng dụng góp phần đa dạng các loại tác nhân lạnh trong ngành HVAC, thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp điện lạnh cũng như nền kinh tế ở các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang trên đà phát triển. Đồng thời, một lượng lớn hệ thống điều hoà sử dụng gas R22 được duy trì sử dụng mà không bị thải bỏ lãng phí khi nguồn tác nhân lạnh R22 bị cấm sử dụng. Đây có thể được xem là một giải pháp đáp ứng về môi trường, kỹ thuật và kinh tế do nguồn tác nhân lạnh hydrocacbon khá phổ biến và rẻ tiền so với các tác nhân lạnh khác hiện đang bán rộng rãi trên thị trường. Về mặt lý thuyết: Chứng minh việc sử dụng phần mềm REPROP 9.0 hoàn toàn có thể sử dụng tính toán cho hydrocacbon.
Dựa trên REPROP 9.0, nghiên cứu đúc kết được giản đồ enthalpy – áp suất làm tài liệu kỹ thuật phục vụ cho các ứng dụng trong thực tế. Một số công trình nghiên cứu trước đây [3] Năm Tác giả Đề tài Tác nhân lạnh Thông số Kết luận Đánh giá thử nghiệm một số giải pháp thay thế R22 được đề xuất Sự suy giảm về công suất và chỉ 1997 Bensafiet al R407C Hiệu suất và công suất trong thiết bị làm lạnh số EER so với R22. và thiết bị điều hoà không khí Trong giai đoạn đầu của quá trình nạp chất làm lạnh, giá trị COP Mô hình dựa trên cơ sở tăng mạnh, COP đạt đến giá trị tối hợp lý để đánh giá khối COP, năng suất lạnh, 2001 Wang et al R410A ưu đối với một lượng chất làm lượng chất làm lạnh tối công của máy nén lạnh được chỉ định và cho thấy sự ưu trong máy lạnh giảm nhẹ của COP khi chất làm lạnh tăng thêm. R417A và hỗn hợp 79 R417A đã được chứng minh là Roberts và Hỗn hợp chất làm lạnh Hiệu quả năng lượng, 2004 (R125/R134a/R600a) phù hợp với toàn bộ phạm vi nhiệt Chambers tiết kiệm năng lượng GWP (85,1%/11,5%/3,4%) độ của các ứng dụng từ điều hòa 4 bao gồm R125, R134a, không khí đến hệ thống làm lạnh R600 hoặc R600a ở siêu thị nhiệt độ thấp mà không gặp phải vấn đề nào do thiếu công suất nhưng trong mọi trường hợp đều tiết kiệm năng lượng.
Hỗn hợp 79 đã được chứng minh là phù hợp để sử dụng thay thế cho R502 dựa trên HCFC mà không cần thay thế hệ thống hoặc thay dầu và thay thế R22 với những thay đổi tối thiểu đối với van tiết lưu. Đánh giá hiệu suất của Khả năng làm lạnh của HC- 290 HC-290 là chất thay thế COP, áp suất đầu đẩy, thấp hơn trong khoảng 6,6-9,7%. 2005 Devotta et al cho HCFC-22 trong Propan công suất làm lạnh, Tiêu thụ năng lượng khi sử dụng một máy điều hòa tiêu thụ năng lượng HC-290 thấp hơn trong khoảng không khí. Áp suất đầu đẩy của 5 HC-290 thấp hơn trong khoảng 13,7-18,2%.
Công suất làm lạnh của R-407C Đánh giá hiệu suất của thấp hơn trong khoảng 2,1-7,9%. máy điều hòa không khí Công suất làm lạnh, Mức tiêu thụ điện năng với R- 2005 Devotta et al dùng HCFC-22 được Hỗn hợp R32/R134a COP, công suất tiêu 407C cao hơn trong khoảng 6-7%. cải tiến thêm để sử dụng thụ, áp suất đầu đẩy Áp suất đầu đẩy của R-407C cao R- 407C hơn trong khoảng 11–13%. Trong chu trình làm lạnh thông thường (CRC), hỗn hợp R32 / Hiệu suất của chu trình R134a có hiệu suất gần với hiệu làm lạnh mới sử dụng suất đạt được với chất làm lạnh hỗn hợp chất làm lạnh COP, năng suất lạnh tinh khiết R22.
Tuy nhiên, hỗn 2008 Chen and Yu Hỗn hợp R32/R134a R32/R134a cho các ứng riêng thể tích hợp R32 / R134a trong NRC (chu dụng điều hòa không trình làm lạnh mới) sẽ mang lại khí dân dụng. hiệu suất tốt hơn. COP tối đa có thể được cải thiện trong khoảng 8- 9% so với CRC và năng suất lạnh 6 thể tích có thể tăng lên khoảng 9,5%. Tác nhân lạnh thân Sự lựa chọn thay thế cho R22 thiện môi trường thay trong các ứng dụng điều hòa 2009 Mohanraj R407C và R410A GWP, ODP thế cho halogen – Tổng không khí là R407C và R410A có quan sẵn trên thị trường Ấn Độ.
Nhiệt độ đầu đẩy trung bình thu được khi sử dụng R507 và R404A cao hơn R22 lần lượt 4,2% và Khảo sát hiệu suất của 15,3%. Công suất máy nén và tiêu tác nhân lạnh R404A và Tỉ số nén, nhiệt độ đầu thụ năng lượng thấp nhất có được R507 thân thiện với đẩy, công suất máy từ hệ thống trang bị thêm R507. 2011 Bolaji tầng Ô – zôn như những R404A và R507 nén, năng lượng tiêu Năng suất lạnh trung bình của chất thay thế cho R22 thụ, năng suất lạnh, R507 và R404A cao hơn lần lượt trong máy điều hoà COP 4,7% và 8,4% so với R22. COP không khí trung bình của R507 tăng lên 10,6% và R404A giảm 16% so với R22.
7 Ảnh hưởng của van tiết Van tiết lưu cho thấy hiệu suất so lưu đến hiệu suất máy với hệ thống ống mao dẫn. COP 2011 Chinnaraj et al R407C và R290 Độ quá nhiệt, COP điều hoà không khí của R290 là lớn nhất trong ba loại dụng R407C và R290 tác nhân lạnh.