Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cây ăn quả có múi, đặc biệt là các giống cam, quýt, giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Việt Nam, đóng vai trò chủ lực trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xóa đói giảm nghèo và gia tăng thu nhập cho các hộ nông dân tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, sản xuất cam quýt tại khu vực này vẫn còn đối mặt với nhiều rào cản: các giống địa phương phổ biến có phẩm chất chưa đồng đều, vị còn chua, mẫu mã chưa hấp dẫn và đặc biệt là nhược điểm nhiều hạt. Bên cạnh đó, các giống quýt truyền thống chủ yếu chín tập trung vào một thời điểm, gây áp lực tiêu thụ và giảm hiệu quả kinh tế.
Xu hướng chọn tạo và phát triển giống cây có múi trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay tập trung vào các giống chín sớm, năng suất ổn định, chống chịu sâu bệnh và có đặc tính ít hạt hoặc không hạt nhằm phục vụ thị trường ăn tươi và chế biến. Giống quýt ngọt không hạt (Citrus unshiu Marc) có nguồn gốc từ Nhật Bản là giống quýt thương mại cao cấp, có khả năng thích nghi rộng và chín sớm, nhưng chưa được phát triển phổ biến tại vùng miền núi phía Bắc. Nhằm đánh giá sự phù hợp của giống cây trồng mới này trên các điều kiện lập địa khác nhau, tác giả Lường Thị Nương đã thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp: "Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển giống quýt ngọt không hạt (Citrus unshiu Marc) tại 2 vùng sinh thái khu vực trung du miền núi phía Bắc" dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Minh Tuấn tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (chuyên ngành Khoa học cây trồng, niên khóa 2015 – 2019).
Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá được khả năng sinh trưởng, phát triển của giống quýt ngọt không hạt (Citrus unshiu Marc) tại 2 vùng sinh thái khu vực trung du miền núi phía Bắc.
- Yêu cầu của đề tài (nhiệm vụ nghiên cứu):
- Nghiên cứu thời gian sinh trưởng các đợt lộc, chất lượng lộc và đặc điểm hình thái cây giống quýt ngọt không hạt.
- Nghiên cứu đặc điểm và chất lượng quả của giống quýt ngọt không hạt.
- Nghiên cứu tình hình sâu bệnh hại trên giống quýt ngọt không hạt.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Giống quýt ngọt không hạt (Citrus unshiu Marc) ở giai đoạn kiến thiết cơ bản (cây 2 năm tuổi), đối chứng với giống quýt địa phương tại các điểm nghiên cứu.
- Phạm vi không gian: Thực hiện tại 2 điểm sinh thái đại diện gồm thị trấn Quân Chu (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên) và xã Quang Thuận (thuộc địa bàn huyện Bạch Thông / huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn).
- Phạm vi thời gian: Quá trình theo dõi và thu thập số liệu thực nghiệm diễn ra từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở khoa học và tổng quan lý thuyết
Cơ sở khoa học về hiện tượng tạo quả không hạt trên cây có múi được tác giả tổng hợp từ các công trình kinh điển (Jackson và Futch, 1997; Ollitrault và ctv., 2017; Varoquaux và ctv., 2000). Hiện tượng không hạt hoặc ít hạt thường xuất phát từ thể tam bội, bất dục đực, bất dục noãn hoặc cơ chế bất tự hòa hợp (self-incompatibility). Về mặt thương mại, quả chứa dưới 5 hạt được xếp vào nhóm không hạt.
Về mặt sinh thái học cây trồng, cây cam quýt có nguồn gốc nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Á (Tanaka, 1979; Walter Reuther và cs), sinh trưởng thuận lợi ở khoảng nhiệt độ 23 – 29°C (ngừng sinh trưởng dưới 13°C và chết ở -5°C; Vũ Mạnh Hải, Nguyễn Thị Chắt, Trần Thế Tục, 1980). Cây ưa ánh sáng tán xạ (cường độ khoảng 10.000 lux tương đương 0,6 cal/cm²; Vũ Công Hậu, 1996), yêu cầu độ ẩm không khí 75%, độ ẩm đất 60% và lượng mưa trung bình năm từ 1.500 – 2.000 mm (Trần Thế Tục, Hoàng Ngọc Thuận, Bùi Huy Kiểm). Đất trồng thích hợp có tầng canh tác trên 0,6 m, giàu hữu cơ (>3%), thoát nước tốt, pH từ 5,5 – 6,0.
Về thực tiễn chọn tạo giống trong nước, đề tài kế thừa các kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Rau quả (ThS. Nguyễn Duy Hưng, giai đoạn 2012 – 2015), đã tuyển chọn và công nhận các dòng cam không hạt NO-3 và quýt ít hạt SM-1 cho sản xuất thử tại các tỉnh phía Bắc.
Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm đồng ruộng được thiết lập đồng thời tại Thái Nguyên và Bắc Kạn theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại:
- Công thức 1 (CT1 - Đối chứng): Giống quýt địa phương tại vùng khảo nghiệm (quýt Thái Nguyên tại Quân Chu; quýt Bắc Kạn tại Quang Thuận).
- Công thức 2 (CT2): Giống quýt ngọt không hạt (Citrus unshiu Marc).
- Quy mô thí nghiệm: Mỗi công thức gồm 10 cây/lần nhắc lại, tổng số cây theo dõi tại mỗi điểm là 60 cây.
Thí nghiệm RCBD (3 lần nhắc lại)
Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
- Đặc điểm hình thái cây: Chiều cao cây (cm) đo từ mặt đất đến đỉnh tán; đường kính tán (cm) đo hình chiếu tán Đông - Tây và Nam - Bắc; đường kính gốc (cm); khả năng phân cành cấp II.
- Thời gian sinh trưởng và hình thái lộc: Theo dõi ngày bắt đầu xuất hiện (5% số cành bật lộc), ra lộc rộ (50% số cành) và kết thúc lộc (>80% số cành); đo chiều dài lộc (cm) bằng thước kẹp palme và đếm số lá/lộc trên 4 lộc/cây khi thành thục với 3 lần nhắc lại.
- Chỉ tiêu ra hoa, đậu quả và chất lượng quả: Theo dõi thời gian nở hoa (bắt đầu 5%, rộ 25 – 75%, kết thúc >80%); khối lượng quả (g), khối lượng thịt quả (g), khối lượng vỏ (g), khối lượng hạt (g), kích thước quả (chiều cao, đường kính đo bằng thước kẹp), số múi/quả, số hạt/quả, tỷ lệ nứt quả (%) và tổng chất rắn hòa tan/độ Brix (%) đo bằng brix kế quang năng.
- Tình hình sâu bệnh hại: Điều tra định kỳ 1 tuần/lần, tính tần suất bắt gặp (%) theo công thức:
$$\text{Tần suất bắt gặp (%)} = \frac{\text{Số lần bắt gặp của mỗi loài}}{\sum \text{Tổng số lần điều tra}} \times 100$$
Phân cấp mức độ gây hại: Rất ít phổ biến ($< 5%$), ít phổ biến ($+$, từ $5 - 19%$), phổ biến ($++$, từ $20 - 50%$), rất phổ biến ($+++$, $> 50%$).
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được tính toán và xử lý phương sai (ANOVA) trên phần mềm Microsoft Excel và SAS 6.12, so sánh sai khác giá trị trung bình bằng trắc nghiệm LSD ở mức ý nghĩa $P < 0,05$.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của việc phát triển cây ăn quả có múi tại vùng trung du miền núi phía Bắc; phân tích các hạn chế của giống quýt địa phương tại Bắc Kạn (hơn 2.440 ha cam quýt năm 2017) và tiềm năng quỹ đất, khí hậu tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (57.848 ha đất tự nhiên, độ ẩm 70 – 80%, nhiệt độ 22 – 27°C). Xác lập mục tiêu, 3 yêu cầu nghiên cứu, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp luận cứ đưa giống mới vào cơ cấu sản xuất.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế về cây có múi:
- Tình hình sản xuất thế giới: Phân tích dữ liệu FAOSTAT (2012 – 2016), diện tích quýt thế giới năm 2016 đạt 2.609,1 nghìn ha, sản lượng 32.792,5 nghìn tấn, năng suất trung bình 12,5 tấn/ha. Châu Á chiếm 76,87% diện tích toàn cầu (2.005,9 nghìn ha năm 2016) nhưng năng suất thấp nhất (11,0 tấn/ha) so với Châu Đại Dương (22,3 tấn/ha), Châu Phi (18,4 tấn/ha), Châu Âu (18,1 tấn/ha) và Châu Mỹ (16,5 tấn/ha). Các nước sản xuất lớn gồm Trung Quốc (576,0 nghìn ha), Ấn Độ (643,4 nghìn ha), Nhật Bản tuy diện tích nhỏ (3,82 nghìn ha) nhưng có hiệu quả thâm canh cao.
- Tình hình sản xuất trong nước: Dẫn liệu Tổng cục Thống kê (2014), diện tích cam quýt cả nước đạt 75.600 ha, sản lượng 736,1 nghìn tấn, tập trung nhiều nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (39.200 ha, chiếm 51,85%), Trung du và miền núi phía Bắc (15.700 ha, chiếm 20,77%).
- Thực trạng nghiên cứu chọn tạo giống: Đánh giá các thành tựu chọn tạo giống cam quýt không hạt, khảo nghiệm các giống nhập nội tại miền Bắc Việt Nam của các viện chuyên ngành.
Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Mô tả chi tiết vật liệu nghiên cứu (cây quýt 2 năm tuổi), vị trí địa lý 2 điểm khảo nghiệm (Quân Chu - Đại Từ và Quang Thuận - Chợ Đồn/Bạch Thông), phương pháp bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCBD (2 công thức, 3 lần nhắc lại, 60 cây theo dõi), hệ thống hóa toàn bộ các tiêu chí đo đếm nông sinh học và công thức toán học tính tần suất dịch hại cùng phần mềm phân tích thống kê SAS 6.12.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trình bày toàn bộ số liệu thực nghiệm thu thập trong năm 2018 qua các bảng số liệu chi tiết:
1. Đặc điểm hình thái cây
Kết quả cho thấy ở giai đoạn 2 năm tuổi, các chỉ tiêu hình thái giữa giống quýt ngọt không hạt (CT2) và giống địa phương (CT1) không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$):
- Tại Thái Nguyên: Chiều cao cây CT2 đạt 179,0 cm (CT1 đạt 182,0 cm); đường kính tán CT2 đạt 144,1 cm (CT1 đạt 137,3 cm); đường kính gốc CT2 đạt 4,3 cm (CT1 đạt 4,2 cm).
- Tại Bắc Kạn: Chiều cao cây CT2 đạt 171,43 cm (CT1 đạt 169,67 cm); đường kính tán CT2 đạt 120,97 cm (CT1 đạt 114,90 cm); đường kính gốc CT2 đạt 3,83 cm (CT1 đạt 3,55 cm).
2. Thời gian sinh trưởng và số lượng lộc
Cả 2 giống đều xuất hiện 3 đợt lộc trong năm (lộc xuân, lộc hè, lộc thu). Số lượng lộc trên cây của giống quýt ngọt không hạt có xu hướng cao hơn giống đối chứng ở tất cả các đợt lộc nhưng sai khác chưa có ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$):
- Lộc xuân: Xuất hiện cuối tháng 1 đến đầu tháng 2, kết thúc cuối tháng 2 đến đầu tháng 3. Số lộc/cây tại Thái Nguyên đạt 108,4 lộc (CT2) so với 78,6 lộc (CT1); tại Bắc Kạn đạt 82,8 lộc (CT2) so với 77,5 lộc (CT1).
- Lộc hè: Xuất hiện trung tuần tháng 4, kết thúc cuối tháng 5 đến đầu tháng 6. Số lộc/cây tại Thái Nguyên đạt 108,3 lộc (CT2) so với 92,6 lộc (CT1); tại Bắc Kạn đạt 103,2 lộc (CT2) so với 87,4 lộc (CT1).
- Lộc thu: Xuất hiện trong tháng 8, kết thúc tháng 9 đến đầu tháng 10 (tổng thời gian ra lộc khoảng 33 ngày). Số lộc/cây tại Thái Nguyên đạt 98,4 lộc (CT2) so với 86,2 lộc (CT1); tại Bắc Kạn đạt 81,9 lộc (CT2) so với 77,1 lộc (CT1).
3. Đặc điểm hình thái lộc
Có sự sai khác rõ rệt ở mức ý nghĩa $P < 0,05$ về chiều dài lộc giữa các công thức tùy theo đợt lộc:
- Tại Thái Nguyên: Đợt lộc xuân CT1 có chiều dài lộc (19,4 cm) và số lá (10,0 lá/lộc) cao hơn có ý nghĩa so với CT2 (dài 14,8 cm; 8,25 lá/lộc). Lộc hè CT1 dài 23,9 cm (14,8 lá/lộc) cao hơn CT2 dài 20,0 cm (13,7 lá/lộc).
- Tại Bắc Kạn: Lộc hè CT1 dài 23,95 cm cao hơn CT2 (19,95 cm) ở mức độ tin cậy 95%. Ngược lại, ở đợt lộc thu, CT2 có chiều dài lộc đạt 18,0 cm, cao hơn có ý nghĩa so với CT1 (15,2 cm).
4. Kích thước và chất lượng quả
Đây là nội dung ghi nhận sự vượt trội rõ rệt nhất của giống quýt ngọt không hạt (Citrus unshiu Marc) so với đối chứng địa phương:
- Về khối lượng: Tại Bắc Kạn, khối lượng quả CT2 đạt 123,9 g/quả (thịt quả 95,9 g/quả; vỏ quả 26,6 g/quả), cao gấp 2,5 lần so với CT1 (48,9 g/quả; thịt quả 39,7 g/quả; vỏ quả 8,8 g/quả). Tại Thái Nguyên, khối lượng quả CT2 đạt 122,0 g/quả (thịt quả 92,1 g/quả; vỏ quả 25,3 g/quả) so với CT1 đạt 79,8 g/quả (thịt quả 63,2 g/quả; vỏ quả 15,6 g/quả).
- Về số hạt: Giống quýt ngọt không hạt hoàn toàn không có hạt (0,0 hạt/quả; khối lượng hạt 0,0 g/quả ở cả 2 điểm sinh thái), trong khi giống địa phương có 25,7 hạt/quả (Bắc Kạn) và 11,6 hạt/quả (Thái Nguyên).
- Về kích thước và hình thái: Quả CT2 có chiều cao 5,4 – 5,5 cm, đường kính 6,2 – 6,6 cm (vượt trội so với CT1 cao 3,3 – 3,7 cm, đường kính 4,1 – 5,7 cm). Vỏ quả CT2 khi chín có màu vàng xanh, thịt quả màu vàng tươi, không bị nứt quả (0,0%).
- Về độ Brix: Quýt ngọt không hạt có độ Brix đạt 8,33 – 8,50 °Brix, cao hơn giống địa phương (5,90 °Brix tại Bắc Kạn và 7,37 °Brix tại Thái Nguyên).
5. Tình hình sâu bệnh hại
Thành phần sâu bệnh hại chính xuất hiện trên các vườn thí nghiệm gồm: sâu vẽ bùa (mức độ phổ biến $++$), rệp sáp, bọ xít/câu cấu/châu chấu, nhện trắng, nhện đỏ (mức độ ít phổ biến $+$). Về bệnh hại, bệnh loét và bệnh vàng lá thối rễ xuất hiện ở mức rất ít phổ biến ($< 5%$) trên giống quýt không hạt CT2, thấp hơn so với mức ít phổ biến (5 – 20%) trên giống đối chứng CT1.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết 4 kết luận chính về sinh trưởng lộc, thời gian ra hoa, chất lượng quả và tính chống chịu sâu bệnh; đưa ra kiến nghị phát triển giống quýt ngọt không hạt vào sản xuất để bổ sung giống chín sớm (sớm hơn giống địa phương 2 tháng) cho vùng trung du miền núi phía Bắc.
Kết quả và đóng góp
Bảng tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chính
Dưới đây là bảng tổng hợp so sánh các chỉ tiêu nông sinh học và chất lượng thương phẩm giữa giống quýt ngọt không hạt và giống đối chứng địa phương thu thập tại 2 điểm nghiên cứu năm 2018:
| Chỉ tiêu theo dõi |
Điểm nghiên cứu Thái Nguyên |
|
Điểm nghiên cứu Bắc Kạn |
|
|
CT1 (Địa phương) |
CT2 (Quýt không hạt) |
CT1 (Địa phương) |
CT2 (Quýt không hạt) |
| Chiều cao cây (cm) |
$182,0 \pm 0,0$ |
$179,0 \pm 0,0$ |
$169,67 \pm 0,0$ |
$171,43 \pm 0,0$ |
| Đường kính tán (cm) |
$137,3 \pm 0,0$ |
$144,1 \pm 0,0$ |
$114,90 \pm 0,0$ |
$120,97 \pm 0,0$ |
| Đường kính gốc (cm) |
$4,2 \pm 0,09$ |
$4,3 \pm 0,2$ |
$3,55 \pm 0,2$ |
$3,83 \pm 0,1$ |
| Số lộc xuân (lộc/cây) |
78,6 |
108,4 |
77,5 |
82,8 |
| Số lộc hè (lộc/cây) |
92,6 |
108,3 |
87,4 |
103,2 |
| Số lộc thu (lộc/cây) |
86,2 |
98,4 |
77,1 |
81,9 |
| Khối lượng quả (g/quả) |
$79,8 \pm 4,6$ |
$122,0 \pm 5,8$ |
$48,9 \pm 9,1$ |
$123,9 \pm 14,4$ |
| Khối lượng thịt quả (g) |
$63,2 \pm 3,3$ |
$92,1 \pm 6,3$ |
$39,7 \pm 7,7$ |
$95,9 \pm 11,4$ |
| Khối lượng vỏ quả (g) |
$15,6 \pm 1,4$ |
$25,3 \pm 2,6$ |
$8,8 \pm 1,5$ |
$26,6 \pm 2,3$ |
| Chiều cao quả (cm) |
$3,7 \pm 0,2$ |
$5,4 \pm 0,3$ |
$3,3 \pm 0,6$ |
$5,5 \pm 0,3$ |
| Đường kính quả (cm) |
$5,7 \pm 0,3$ |
$6,6 \pm 0,3$ |
$4,1 \pm 0,5$ |
$6,2 \pm 0,3$ |
| Số hạt (hạt/quả) |
$11,6 \pm 5,8$ |
0,0 |
$25,7 \pm 7,4$ |
0,0 |
| Số múi (múi/quả) |
$11,3 \pm 1,1$ |
$11,6 \pm 1,5$ |
$11,3 \pm 1,2$ |
$10,3 \pm 0,3$ |
| Hàm lượng đường (Brix) |
$7,37 \pm 0,40$ |
$8,33 \pm 0,32$ |
$5,90 \pm 1,10$ |
$8,50 \pm 0,30$ |
| Màu sắc vỏ / thịt |
Xanh / Xanh nhạt |
Vàng xanh / Vàng tươi |
Xanh / Xanh nhạt |
Vàng xanh / Vàng tươi |
| Tỷ lệ nứt quả (%) |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Đóng góp và đề xuất của tác giả
- Đóng góp khoa học: Cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm định lượng về khả năng thích ứng, đặc tính sinh trưởng các đợt lộc và chất lượng quả bói của giống quýt Citrus unshiu Marc tại 2 tiểu vùng sinh thái đặc trưng của khu vực trung du miền núi phía Bắc trong giai đoạn kiến thiết cơ bản.
- Ý nghĩa thực tiễn và đề xuất: Khẳng định giống quýt ngọt không hạt sinh trưởng tương đương, có khả năng chống chịu sâu bệnh tương đương hoặc tốt hơn giống địa phương, nhưng mang lại ưu thế thương phẩm vượt trội (hoàn toàn không hạt, quả to, độ ngọt cao, màu sắc đẹp). Đặc biệt, giống có thời gian thu hoạch chín sớm hơn giống địa phương 2 tháng, tạo tiền đề kỹ thuật quan trọng cho việc cơ cấu rải vụ thu hoạch nhằm nâng cao giá trị kinh tế cho người trồng cây ăn quả tại Thái Nguyên và Bắc Kạn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của công trình:
- Khóa luận mới theo dõi thực nghiệm trong phạm vi một năm (từ tháng 1 đến tháng 11 năm 2018) trên cây trồng ở giai đoạn kiến thiết cơ bản (2 năm tuổi). Do đó, các chỉ tiêu năng suất thực thu, tính ổn định của phẩm chất quả và khả năng duy trì đặc tính không hạt qua các chu kỳ kinh doanh dài hạn chưa được đánh giá trọn vẹn.
- Về mặt văn bản, có sự chưa thống nhất nhỏ về địa danh hành chính cấp huyện tại tỉnh Bắc Kạn giữa phần mở đầu (ghi huyện Bạch Thông) và phần phương pháp nghiên cứu (ghi huyện Chợ Đồn).
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục theo dõi cây ở giai đoạn kinh doanh chính thức (từ năm thứ 3 trở đi) để đánh giá năng suất cá thể, năng suất quần thể và hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích.
- Nghiên cứu hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh chuyên biệt cho giống quýt ngọt không hạt: chế độ phân bón theo từng thời kỳ sinh trưởng, kỹ thuật đốn tỉa tạo tán, kỹ thuật tưới tiêu và quy trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) thích ứng với từng tiểu vùng sinh thái miền núi.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo:
- Cán bộ nghiên cứu, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Lâm nghiệp, Bảo vệ thực vật tại các trường đại học và viện nghiên cứu nông nghiệp.
- Cán bộ khuyến nông, kỹ thuật viên tại các Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp và Phòng Nông nghiệp & PTNT các tỉnh miền núi phía Bắc.
- Các hộ nông dân, hợp tác xã sản xuất cây ăn quả có múi đang có định hướng chuyển đổi giống hoặc bố trí rải vụ thu hoạch.
- Các phần nội dung có giá trị sử dụng cao:
- Quy trình phương pháp bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) chuẩn mực trên cây ăn quả lâu năm.
- Hệ thống tiêu chí và phương pháp theo dõi chi tiết các đợt lộc, hình thái tán, chỉ tiêu quả và phương pháp điều tra tần suất bắt gặp sâu bệnh hại.
- Nguồn tư liệu số liệu thực nghiệm gốc làm cơ sở so sánh đối chứng cho các nghiên cứu nhập nội và khảo nghiệm giống cây có múi sau này.
Câu hỏi thường gặp
1. Giống quýt ngọt không hạt (Citrus unshiu Marc) có ưu thế chất lượng quả cụ thể nào so với các giống quýt địa phương?
Khóa luận chỉ ra rằng giống quýt ngọt không hạt đạt độ thuần không hạt tuyệt đối (0,0 hạt/quả so với 11,6 – 25,7 hạt/quả ở giống địa phương). Khối lượng quả đạt 122,0 – 123,9 g/quả (cao gấp 1,5 đến 2,5 lần đối chứng), hàm lượng đường tổng số (độ Brix) đạt 8,33 – 8,50 °Brix (vượt trội so với 5,90 – 7,37 °Brix của giống địa phương), vỏ quả khi chín có màu vàng xanh và thịt quả màu vàng tươi đẹp mắt.
2. Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp nào và dung lượng mẫu nghiên cứu là bao nhiêu?
Đề tài sử dụng phương pháp bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) với 3 lần nhắc lại tại cả 2 địa điểm (Thái Nguyên và Bắc Kạn). Thí nghiệm gồm 2 công thức (CT1: đối chứng địa phương; CT2: quýt ngọt không hạt), mỗi công thức theo dõi 10 cây/lần nhắc lại, tổng cộng theo dõi 60 cây tại mỗi vùng sinh thái. Số liệu được phân tích thống kê phương sai bằng phần mềm SAS 6.12 và Excel ở mức ý nghĩa $P < 0,05$.
3. Khả năng sinh trưởng dinh dưỡng của giống quýt không hạt ở giai đoạn 2 năm tuổi có sai khác so với giống địa phương không?
Về mặt hình thái cây (chiều cao cây dao động từ 169,67 – 179,0 cm; đường kính tán dao động từ 120,97 – 144,1 cm; đường kính gốc dao động từ 3,83 – 4,3 cm), sự khác biệt giữa giống quýt không hạt và giống đối chứng địa phương không có ý nghĩa thống kê ($P > 0,05$). Cả 2 giống đều ra 3 đợt lộc/năm (lộc xuân, lộc hè, lộc thu) với tổng thời gian ra hoa tương đương nhau.
4. Giống quýt ngọt không hạt có ý nghĩa như thế nào đối với thời vụ thu hoạch tại địa phương?
Theo kết quả nghiên cứu và đề xuất của tác giả, giống quýt ngọt không hạt có thời gian chín và thu hoạch sớm hơn giống quýt địa phương khoảng 2 tháng. Đặc tính chín sớm này cho phép bố trí rải vụ thu hoạch, tránh tình trạng rộ mùa gây rớt giá, từ đó nâng cao thu nhập và hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.
5. Mức độ gây hại của các loài sâu bệnh chính trên giống quýt không hạt tại 2 vùng thí nghiệm được ghi nhận như thế nào?
Sâu vẽ bùa gây hại ở mức phổ biến ($++$, tần suất 20 – 50%); các loài chích hút và ăn lá như rệp sáp, châu chấu, câu cấu, nhện trắng, nhện đỏ xuất hiện ở mức ít phổ biến ($+$, tần suất 5 – 19%). Các bệnh hại nguy hiểm như bệnh loét và bệnh vàng lá thối rễ chỉ xuất hiện ở mức rất ít phổ biến ($< 5%$) trên giống quýt không hạt, thấp hơn mức độ nhiễm trên giống đối chứng địa phương (5 – 20%).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lường Thị Nương đã thực hiện nghiêm túc việc khảo nghiệm đồng ruộng và phân tích định lượng khả năng sinh trưởng, phát triển của giống quýt ngọt không hạt (Citrus unshiu Marc) 2 năm tuổi tại Thái Nguyên và Bắc Kạn. Kết quả nghiên cứu chứng minh giống quýt mới thích nghi tốt với điều kiện sinh thái vùng trung du miền núi phía Bắc, sinh trưởng dinh dưỡng ổn định, chống chịu sâu bệnh tương đương hoặc tốt hơn giống địa phương. Đặc biệt, với đặc tính nổi bật là hoàn toàn không hạt, quả to, độ Brix cao và thời gian thu hoạch sớm hơn 2 tháng, giống quýt này là đối tượng cây trồng triển vọng cần được tiếp tục theo dõi ở giai đoạn kinh doanh và mở rộng thử nghiệm trong cơ cấu cây ăn quả rải vụ tại địa phương.