Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây ngô (Zea mays L.) là một trong ba cây lương thực quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế thế giới. Mặc dù chỉ 17% sản lượng ngô toàn cầu được sử dụng trực tiếp làm lương thực, ngô là lương thực chính tại nhiều khu vực (chiếm 72% ở Đông Nam Phi, 75% ở Nam Á). Đồng thời, ngô chiếm tới 70% chất tinh trong thức ăn chăn nuôi tổng hợp, là nguồn thức ăn xanh, ủ chua cho đại gia súc và đóng vai trò làm nguyên liệu công nghiệp thực phẩm, sản xuất nhiên liệu sinh học ethanol. Tại Việt Nam, ngô là cây màu lương thực đứng thứ hai sau lúa, đóng góp quan trọng vào an ninh lương thực và phát triển chăn nuôi.

Tỉnh Thái Nguyên nằm ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, có điều kiện khí hậu và đất đai mang tính đại diện cho vùng. Tuy nhiên, sản xuất ngô tại đây gặp khó khăn do thời tiết khắc nghiệt, thường xuyên chịu hạn rét vào đầu vụ Xuân và cuối vụ Đông. Cơ cấu giống ngô địa phương còn nhiều bất cập: các giống ngô lai nhập nội có tiềm năng năng suất nhưng khả năng chống chịu kém hơn giống trong nước; ngược lại, các giống ngô lai nội địa có khả năng chống chịu tốt thì số lượng còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất vụ Thu Đông. Từ thực tiễn đó, tác giả Trịnh Thị Hương đã thực hiện đề tài nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai mới phục vụ canh tác địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là xác định được tổ hợp ngô lai có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, thích hợp với điều kiện vụ Thu Đông tại Thái Nguyên. Để đạt được mục tiêu này, bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đặt ra theo văn bản:

  1. Theo dõi các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai trong điều kiện vụ Thu Đông năm 2016 tại Thái Nguyên.
  2. Nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh lý của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm.
  3. Nghiên cứu một số đặc tính chống chịu của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm (chống chịu sâu bệnh, gãy đổ).
  4. Xác định các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các tổ hợp ngô lai tham gia thí nghiệm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Đối tượng nghiên cứu: Gồm 8 tổ hợp ngô lai do Viện Nghiên cứu ngô lai tạo (ký hiệu từ VN9 đến VN14, VN22, VN23) và 1 giống đối chứng là giống ngô lai đơn NK4300 có nguồn gốc từ Thái Lan do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Syngenta Việt Nam phân phối.
  • Phạm vi không gian: Thí nghiệm thực địa được bố trí tại phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, trên loại đất cát pha chuyên trồng màu, với loại cây trồng ở vụ trước là cây ngô.
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện trong vụ Thu Đông năm 2016, gieo hạt vào ngày 30/8/2016 và thu hoạch vào ngày 15/12/2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng các cơ sở lý luận về ưu thế lai trong chọn tạo giống ngô, nguyên lý nông học về các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây ngũ cốc (bao gồm thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng từ nảy mầm đến trỗ cờ và thời kỳ sinh thực từ trỗ cờ đến chín hoàn toàn). Các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật áp dụng gồm:

  • Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống ngô (QCVN 01-56:2011/BNNPTNT) ban hành bởi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, dùng làm căn cứ theo dõi và đánh giá toàn bộ chỉ tiêu sinh trưởng, hình thái, khả năng chống chịu và cấu thành năng suất.
  • Quy trình kỹ thuật canh tác ngô của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn làm căn cứ chuẩn hóa mật độ gieo trồng, chế độ bón phân và chăm sóc đồng ruộng.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng ruộng được triển khai chi tiết:

  • Phương pháp bố trí thí nghiệm: Áp dụng phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD - Randomized Complete Block Design) với 3 lần nhắc lại trên 9 công thức (8 tổ hợp lai và 1 giống đối chứng). Tổng số ô thí nghiệm là 27 ô; diện tích mỗi ô là 14 m² (chiều dài 5 m, chiều rộng 2,8 m); khoảng cách giữa các khối nhắc lại là 1 m; xung quanh ruộng bố trí các dải bảo vệ.
  • Quy trình kỹ thuật trồng trọt: Mật độ gieo trồng đạt 5,7 vạn cây/ha (khoảng cách hàng cách hàng 70 cm, cây cách cây 25 cm, mỗi hốc 1 cây). Lượng phân bón gồm 2 tấn phân vi sinh Sông Gianh/ha và phân khoáng vô cơ theo tỷ lệ 150 kg N : 90 kg P₂O₅ : 90 kg K₂O/ha (tương đương 326,09 kg Đạm urê/ha, 545,45 kg Supe lân/ha, 180 kg Kaliclorua/ha). Bón lót toàn bộ phân vi sinh, phân lân và 1/4 lượng đạm; bón thúc lần 1 ở giai đoạn 4 - 5 lá (1/4 đạm + 1/2 kali); bón thúc lần 2 ở giai đoạn 8 - 9 lá (1/2 đạm + 1/2 kali) kết hợp làm cỏ, xới xáo và vun gốc chống đổ.
  • Phương pháp theo dõi chỉ tiêu:
    • Sinh trưởng, phát triển: Xác định ngày trỗ cờ (khi >50% số cây xuất hiện nhánh cờ cuối cùng), ngày tung phấn (>50% số cây nở hoa ở 1/3 trục chính), ngày phun râu (>50% số cây có râu nhú dài 2 - 3 cm), ngày chín sinh lý (>75% số cây xuất hiện chấm đen chân hạt).
    • Hình thái và sinh lý: Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp đo ở thời kỳ chín sữa; đếm tổng số lá thật trên cây; chỉ số diện tích lá (LAI) đo trên 5 cây mẫu/ô theo công thức Chiều dài x Chiều rộng x 0,75 x Mật độ cây; tốc độ tăng trưởng chiều cao và tốc độ ra lá theo dõi định kỳ 5 lần cách nhau 10 ngày bắt đầu từ ngày thứ 20 sau trồng.
    • Khả năng chống chịu: Đánh giá sâu đục thân (Chilo partellus) ở giai đoạn chín sáp và tỷ lệ gãy thân sau các đợt gió rét/hạn theo thang điểm từ 1 đến 5 (từ <5% đến >50% số cây bị hại).
    • Cấu thành năng suất: Đo chiều dài bắp, đường kính bắp, số bắp/cây, số hàng/bắp, số hạt/hàng, khối lượng 1000 hạt quy về độ ẩm bảo quản 14% (M1000), tỷ lệ hạt/bắp và xác định độ ẩm hạt tươi lúc thu hoạch bằng máy đo độ ẩm Kett 400 (Nhật Bản). Tính toán năng suất lý thuyết (NSLT) và năng suất thực thu (NSTT).

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu gồm số liệu sơ cấp thu thập trực tiếp từ 27 ô thí nghiệm và số liệu thứ cấp trích dẫn từ Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA, 2017), Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc (FAO, 2017) và Tổng cục Thống kê Việt Nam (2017). Số liệu được xử lý toán học trên phần mềm Microsoft Excel 2010 và phân tích phương sai (ANOVA), kiểm định sai khác có ý nghĩa (LSD ở mức xác suất 95%, p < 0,05) cùng hệ số biến động (CV%) bằng phần mềm chuyên ngành IRRISTAT 5.0.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu rõ vai trò chiến lược của cây ngô trên thế giới và tại Việt Nam trong việc đảm bảo an ninh lương thực và cung cấp nguyên liệu công nghiệp, thức ăn chăn nuôi. Phần mở đầu chỉ rõ tính cấp thiết của việc chọn tạo giống ngô lai thích nghi với điều kiện khí hậu miền núi phía Bắc, đặt ra mục đích, 4 yêu cầu nhiệm vụ cụ thể, ý nghĩa khoa học của việc bổ sung giống ưu tú vào cơ cấu sản xuất tại Thái Nguyên và ý nghĩa rèn luyện kỹ năng thực nghiệm, phân tích dữ liệu đối với người học.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp toàn diện các nghiên cứu và số liệu thống kê liên quan:

  • Sản xuất ngô thế giới giai đoạn 2005 - 2016 có xu hướng tăng: diện tích tăng từ 147,5 lên 181,4 triệu ha (tăng 22,98%), năng suất tăng từ 48,4 lên 57,3 tạ/ha (tăng 18,39%), sản lượng tăng từ 713,6 lên 1.040,2 triệu tấn (tăng 45,77%). Năm 2014, Châu Mỹ đạt năng suất cao nhất (77,16 tạ/ha) và sản lượng đạt 526,70 triệu tấn (chiếm 50,75% toàn cầu); Châu Á đạt năng suất 50,01 tạ/ha và sản lượng 303,55 triệu tấn; Châu Phi có năng suất thấp nhất đạt 21,05 tạ/ha. Năm 2016, Mỹ dẫn đầu sản lượng với 384,8 triệu tấn (năng suất 109,6 tạ/ha), Trung Quốc đạt 219,6 triệu tấn (năng suất 59,7 tạ/ha). Tiêu thụ ngô niên vụ 2016 - 2017 đạt 1.053,59 triệu tấn; trong đó Mỹ dùng 190,08 triệu tấn sản xuất ethanol (chiếm 36,31% sản lượng ngô nội địa).
  • Về công tác chọn tạo giống: Tổng quan nêu rõ vai trò của Trung tâm Cải tạo Giống Ngô và Lúa mì Quốc tế (CIMMYT) từ năm 1966 đến nay trong việc phân phối các dòng thuần CML nhiệt đới và á nhiệt đới, công nghệ nuôi cấy bao phấn tạo dòng đơn bội kép và giống biến đổi gen kháng sâu đục thân, chịu thuốc trừ cỏ.
  • Tại Việt Nam: Sản xuất phát triển qua ba giai đoạn (1960 - 1980 năng suất chỉ 10 - 11 tạ/ha; 1981 - 1992 năng suất đạt 15 tạ/ha; 1993 đến nay tăng vọt nhờ ngô lai). Giai đoạn 2005 - 2015, diện tích cả nước tăng từ 1.053 lên 1.179 nghìn ha, năng suất tăng từ 36,0 lên 44,8 tạ/ha, sản lượng đạt 5.281 nghìn tấn. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc có diện tích lớn nhất (519,3 nghìn ha, chiếm 44,05% diện tích cả nước) nhưng năng suất thấp nhất (36,8 tạ/ha), do trên 80% diện tích nhờ nước trời và trên 60% trồng trên đất dốc. Viện Nghiên cứu ngô và các đơn vị đã chọn tạo nhiều giống lai (LVN4, LVN14, LVN61, LVN885, VS36, GS 9989) và công nhận thương mại các giống biến đổi gen như NK66 Bt, NK66 GT từ năm 2015.
  • Tại Thái Nguyên: Giai đoạn 2005 - 2015, diện tích tăng từ 15,9 nghìn ha lên 21,0 nghìn ha, năng suất tăng từ 34,7 lên 41,7 tạ/ha, sản lượng năm 2015 đạt 87,6 nghìn tấn. Các giống lai đã khảo nghiệm tại địa phương gồm LVN61, LVN154 (đạt 85,56 tạ/ha vụ Xuân 2009), LCH9, SB12-6, VS36 (đạt trên 80 tạ/ha) và DK8868.

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương trình bày chi tiết vật liệu nghiên cứu (8 tổ hợp lai mang ký hiệu VN9, VN10, VN11, VN12, VN13, VN14, VN22, VN23 và đối chứng NK4300); thời gian từ 30/8/2016 đến 15/12/2016 tại phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên; thiết kế khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh 3 lần nhắc lại; chuẩn hóa định lượng phân bón khoáng và hữu cơ; phương pháp đo đếm từng chỉ tiêu nông học theo QCVN 01-56:2011/BNNPTNT và quy trình xử lý số liệu bằng IRRISTAT 5.0.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 phân tích các dữ liệu thực nghiệm đã ghi nhận:

  • Các giai đoạn sinh trưởng: Thời gian gieo đến trỗ cờ (G - TC) của các tổ hợp lai biến động từ 50 đến 53 ngày (VN9 trỗ cờ sớm nhất đạt 50 ngày). Thời gian gieo đến tung phấn (G - TP) dao động 51 - 54 ngày. Thời gian gieo đến phun râu (G - PR) dao động 51 - 56 ngày (VN9 phun râu sớm nhất 51 ngày, VN14 muộn nhất 56 ngày). Khoảng cách giữa tung phấn và phun râu (TP - PR) rất ngắn, chỉ từ 0 đến 2 ngày, tạo điều kiện thuận lợi cho thụ phấn và kết hạt. Thời gian sinh trưởng từ gieo đến chín sinh lý (G - CSL) dao động từ 97 đến 104 ngày (VN9 chín sớm nhất sau 97 ngày, bằng đối chứng NK4300; VN14 đạt 104 ngày), tất cả các tổ hợp lai đều thuộc nhóm chín sớm/ngắn ngày, thích hợp cho việc bố trí luân canh vụ Thu Đông.
  • Đặc điểm hình thái và sinh lý: Chiều cao cây dao động từ 173,10 cm đến 225,30 cm; trong đó VN12 có chiều cao lớn nhất (225,30 cm) và VN9 thấp nhất (173,10 cm), giống đối chứng NK4300 đạt 187,17 cm. Chiều cao đóng bắp dao động từ 89,47 cm (VN9) đến 119,40 cm (VN12). Tỷ lệ chiều cao đóng bắp trên chiều cao thân dao động từ 49,14% (VN14) đến 55,66% (VN11), nằm trong khoảng tối ưu (khoảng 1/2 chiều cao cây), giúp cây giữ thăng bằng tốt và hạn chế đổ ngã.
  • Số lá và chỉ số diện tích lá: Số lá trên cây dao động từ 19,13 đến 20,17 lá/cây. Chỉ số diện tích lá (LAI) đo ở thời kỳ chín sữa dao động từ 2,82 đến 4,00 m² lá/m² đất; trong đó tổ hợp VN22 đạt LAI cao nhất (4,00 m² lá/m² đất) và VN13 đạt 3,99 m² lá/m² đất, đều cao hơn đối chứng NK4300 (3,47 m² lá/m² đất) ở mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.
  • Cấu trúc mục lục cho thấy chương còn phân tích các chỉ tiêu động thái tăng trưởng chiều cao cây, tốc độ ra lá, đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh (sâu đục thân, khả năng chống đổ), các yếu tố cấu thành năng suất (chiều dài bắp, đường kính bắp, số bắp/cây, số hàng/bắp, số hạt/hàng, M1000 hạt) cùng năng suất lý thuyết và năng suất thực thu.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã thu thập và kiểm định thống kê đầy đủ các chỉ số sinh trưởng, hình thái của 8 tổ hợp ngô lai mới so với giống đối chứng nhập nội NK4300 trong vụ Thu Đông 2016 tại Thái Nguyên:

Tên tổ hợp lai / Giống Thời gian sinh trưởng G - CSL (ngày) Chiều cao cây (cm) Chiều cao đóng bắp (cm) Tỷ lệ đóng bắp/thân (%) Số lá trên cây (lá) Chỉ số diện tích lá LAI (m² lá/m² đất)
VN9 97 173,10 89,47 51,69 19,13 3,17
VN10 102 190,93 98,27 51,47 19,80 2,82
VN11 101 180,07 100,23 55,66 19,77 3,92
VN12 103 225,30 119,40 53,00 20,17 3,78
VN13 101 194,77 106,50 54,68 19,87 3,99
VN14 104 195,63 96,13 49,14 20,03 3,04
VN22 99 196,20 100,77 51,36 19,57 4,00
VN23 100 207,07 109,20 52,74 19,53 3,65
NK4300 (đối chứng) 97 187,17 103,50 55,30 19,70 3,47
Mức ý nghĩa P < 0,05 < 0,05 < 0,05 - < 0,05 < 0,05
Hệ số biến động CV (%) 2,1 2,8 5,3 - 1,6 7,9
Sai khác nhỏ nhất LSD₀.₀₅ 4,04 9,58 9,40 - 0,54 0,48

Đóng góp của khóa luận được thể hiện trên các phương diện:

  • Xác lập tập dữ liệu nông sinh học thực nghiệm chuẩn xác về thời gian các pha sinh trưởng của các tổ hợp ngô lai mới, chứng minh tất cả các tổ hợp đều có thời gian sinh trưởng ngắn (97 - 104 ngày), khoảng cách tung phấn - phun râu ngắn (0 - 2 ngày), rất thuận lợi cho việc né tránh rét muộn và đảm bảo thụ tinh tạo hạt tốt trong vụ Thu Đông tại địa phương.
  • Cung cấp các thông số hình thái quan trọng: Xác định tổ hợp VN9 có chiều cao thấp (173,10 cm), thời gian sinh trưởng tương đương đối chứng NK4300 (97 ngày); tổ hợp VN22 và VN13 có chỉ số diện tích lá phát triển vượt trội (lần lượt là 4,00 và 3,99 m² lá/m² đất), tạo tiềm năng quang hợp cao.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp căn cứ khoa học cho các cơ quan chuyên môn và người trồng ngô tại Thái Nguyên trong việc lựa chọn các tổ hợp lai thích hợp để bổ sung vào cơ cấu cây trồng, từng bước chủ động nguồn giống sản xuất trong nước.
  • Đóng góp về đào tạo: Giúp sinh viên nắm vững phương pháp bố trí thí nghiệm ngoài đồng ruộng theo chuẩn RCBD, kỹ thuật chăm sóc cây trồng theo quy chuẩn ngành và phương pháp xử lý dữ liệu thống kê bằng phần mềm IRRISTAT 5.0.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thí nghiệm mới được tiến hành trong phạm vi một vụ sản xuất duy nhất (vụ Thu Đông năm 2016) và tại một địa điểm duy nhất (phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên), do đó chưa đánh giá được đầy đủ mức độ tương tác giữa kiểu gen và môi trường qua nhiều mùa vụ, thời tiết và loại đất khác nhau.
  • Văn bản trích đoạn cung cấp dừng lại ở mục bắt đầu theo dõi động thái tăng trưởng chiều cao cây, do đó các phân tích chi tiết về mức độ sâu bệnh thực tế, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thu hoạch cuối cùng phụ thuộc vào việc tiếp cận toàn văn báo cáo lưu trữ.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục khảo nghiệm các tổ hợp lai có triển vọng sinh trưởng tốt (như VN22, VN13, VN9) qua nhiều mùa vụ liên tiếp (vụ Xuân, vụ Hè Thu) và mở rộng phạm vi khảo nghiệm ra các tiểu vùng sinh thái đặc thù của tỉnh Thái Nguyên như các huyện vùng cao Võ Nhai, Định Hóa, Phú Lương.
  • Tiến hành các thí nghiệm chuyên sâu về mật độ gieo trồng và công thức bón phân tối ưu riêng cho từng tổ hợp lai triển vọng nhằm phát huy tối đa tiềm năng năng suất hạt.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Nông học, Trồng trọt, Bảo vệ thực vật và Khoa học cây trồng: Làm tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình thiết kế thí nghiệm đồng ruộng theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD), phương pháp thu thập chỉ tiêu sinh trưởng và hình thái theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-56:2011/BNNPTNT.
  • Các nhà nghiên cứu và chọn tạo giống cây trồng: Cung cấp dẫn liệu so sánh về đặc tính sinh học của các dòng/tổ hợp ngô lai mới của Viện Nghiên cứu ngô khi gieo trồng trong điều kiện vụ Thu Đông tại vùng Trung du miền núi phía Bắc.
  • Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp và trung tâm khuyến nông: Tham khảo quy trình kỹ thuật canh tác (khoảng cách 70 x 25 cm, liều lượng phân bón N-P-K kết hợp phân vi sinh Sông Gianh) và phương pháp tính toán, xử lý số liệu bằng phần mềm IRRISTAT 5.0.

Câu hỏi thường gặp

1. Thí nghiệm khảo nghiệm vụ Thu Đông năm 2016 tại Thái Nguyên khảo sát bao nhiêu tổ hợp ngô lai và sử dụng đối chứng nào? Thí nghiệm khảo sát 8 tổ hợp ngô lai mới do Viện Nghiên cứu ngô lai tạo (gồm VN9, VN10, VN11, VN12, VN13, VN14, VN22, VN23) và sử dụng giống ngô lai đơn NK4300 (nhập nội từ Thái Lan do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Syngenta Việt Nam phân phối) làm giống đối chứng.

2. Thời gian sinh trưởng của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm kéo dài bao nhiêu ngày và thuộc nhóm chín nào? Thời gian sinh trưởng từ gieo đến chín sinh lý của các tổ hợp lai dao động từ 97 đến 104 ngày. Tổ hợp VN9 có thời gian sinh trưởng ngắn nhất là 97 ngày (bằng giống đối chứng NK4300), tổ hợp VN14 dài nhất là 104 ngày. Tất cả các tổ hợp lai thí nghiệm đều thuộc nhóm có thời gian sinh trưởng ngắn (ngắn ngày), phù hợp với điều kiện gieo trồng vụ Thu Đông.

3. Sự đồng pha giữa thời gian tung phấn và phun râu của các tổ hợp lai diễn ra như thế nào? Khoảng cách thời gian giữa tung phấn và phun râu của các tổ hợp lai tham gia thí nghiệm rất ngắn, dao động từ 0 đến 2 ngày. Các tổ hợp VN9, VN12, VN22, VN23 có thời gian tung phấn và phun râu trùng nhau (khoảng cách 0 ngày); các tổ hợp VN10, VN11, VN13 và đối chứng NK4300 chênh lệch 1 ngày; tổ hợp VN14 chênh lệch 2 ngày. Sự chênh lệch này đảm bảo quá trình thụ phấn, thụ tinh diễn ra thuận lợi, giảm thiểu hiện tượng khuyết hạt hoặc bắp đuôi chuột.

4. Tổ hợp lai nào có chiều cao cây và chỉ số diện tích lá (LAI) cao nhất trong thí nghiệm? Tổ hợp lai VN12 có chiều cao cây cao nhất, đạt 225,30 cm (chiều cao đóng bắp đạt 119,40 cm). Tổ hợp lai có chỉ số diện tích lá (LAI) cao nhất là VN22, đạt 4,00 m² lá/m² đất, tiếp theo là VN13 đạt 3,99 m² lá/m² đất; cả hai tổ hợp này đều có chỉ số LAI cao hơn đối chứng NK4300 (3,47 m² lá/m² đất) ở mức ý nghĩa p < 0,05.

5. Mật độ gieo trồng và công thức bón phân được áp dụng trong thí nghiệm như thế nào? Thí nghiệm áp dụng mật độ 5,7 vạn cây/ha với khoảng cách trồng 70 cm x 25 cm x 1 cây/hốc. Phân bón gồm 2 tấn phân vi sinh Sông Gianh/ha và phân khoáng vô cơ với liều lượng nguyên chất 150 kg N : 90 kg P₂O₅ : 90 kg K₂O/ha (tương ứng 326,09 kg Đạm urê, 545,45 kg Supe lân và 180 kg Kaliclorua cho mỗi hecta).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Trịnh Thị Hương đã thực hiện khảo nghiệm thực địa nghiêm túc nhằm đánh giá đặc tính nông sinh học của 8 tổ hợp ngô lai mới của Viện Nghiên cứu ngô so với đối chứng NK4300 trong vụ Thu Đông 2016 tại Thái Nguyên. Kết quả thực nghiệm khẳng định toàn bộ các tổ hợp lai đều có thời gian sinh trưởng ngắn (97 - 104 ngày), khoảng cách tung phấn - phun râu thuận lợi (0 - 2 ngày) và tỷ lệ chiều cao đóng bắp cân đối (49,14% - 55,66%). Các tổ hợp lai như VN9 (chín sớm, cây thấp chống đổ tốt), VN22 và VN13 (chỉ số diện tích lá cao) thể hiện khả năng thích nghi nông học rõ nét trong vụ Thu Đông. Đây là công trình thực nghiệm có giá trị thực tiễn và phương pháp luận rõ ràng, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác chọn tạo và cơ cấu giống ngô tại tỉnh Thái Nguyên.