Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái * Sự thành thục về sinh dục của lợn nái Ở lợn nái cũng như nhiều loài gia súc khác, sinh dục là quá trình sinh lý rất quan trọng của gia súc trong việc duy trì nòi giống. Sau khi được sinh ra, cơ thể gia súc tiếp tục được sinh trưởng và phát triển đến mức độ nhất định thì gia súc cái có khả năng hoạt động sinh dục thể hiện bằng lần động dục đầu tiên.
Sự thành thục về tính dục được thể hiện qua việc xuất hiện sự phát triển của các đặc tính sinh dục phụ, hoàn thiện các chức năng sinh sản và xuất hiện các biểu hiện sinh dục đầu tiên như động dục. Trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng khác nhau có thể chi phối tuổi thành thục sinh dục. Nếu quá trình được thúc đẩy nhanh do nuôi dưỡng tốt thì con vật sẽ thành thục tính dục sớm và ngược lại. Ngoài ra các yếu tố thời tiết và mùa vụ cũng ảnh hưởng đến sự thành thục về tính dục (Nguyễn Tấn Anh, 1995) [1].Tác giả Võ Trọng Hốt và cs (2000) [17] cho biết: Tuổi thành thục về tính của các giống lợn nội như lợn Móng Cái khoảng 4-6 tháng tuổi, sớm hơn so với các giống lợn Landrace, Yorkshire (6-8 tháng tuổi).
* Chu kỳ động dục Chu kỳ động dục của lợn nái là khoảng thời gian tính từ lần động dục trước đến lần động dục sau. Thông thường sau khi thành thục về tính dục thì lợn cái bắt đầu có biểu hiện về động dục lần thứ nhất, thường biểu hiện không rõ ràng, sau đó khoảng 15-16 ngày lợn động dục trở lại, lần này biểu hiện động dục rõ ràng hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ. Chu kỳ động dục của lợn nái bình quân là 21 ngày (17 -27 ngày) thời gian động dục tuỳ thuộc vào các giống lợn, đối với lợn nội thì động dục kéo dài 3-6 ngày * Số trứng rụng Số trứng rụng trong một chu kỳ động dục là giới hạn cao nhất của số con đẻ ra trong một lứa, trung bình mỗi lợn nái có số trứng rụng từ 15-20 trứng /chu kỳ động dục. 4 * Tuổi và khối lượng phối giống lần đầu Lợn thành thục về tính trước thành thục về thể vóc.
Do vậy không nên phối giống ở lần động dục đầu tiên. Người ta thường phối giống lần đầu tiên cho lợn nái hậu bị ở lần động dục thứ 2, vào lúc 8-9 tháng tuổi. Khi khối lượng lợn nái đạt 110-120 kg (đối với lợn nái ngoại). Các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 1280 - 72, TCVN 1282 - 79) [26] thì có 4 chỉ tiêu giám định lợn nái sinh sản như sau: - Số con đẻ ra còn sống (không tính những con có khối lượng dưới 0,2 kg lợn nội và 0,5 kg đối với lợn ngoại và lợn lai máu ngoại).
- Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi. - Khối lượng toàn ổ lúc 60 ngày tuổi. - Tuổi đẻ lứa đầu đối với lợn nái đẻ lứa thứ 2 trở đi. Sức sinh sản của lợn nái là một tiêu chuẩn đánh giá chất lượng phẩm giống.
Khả năng sinh sản được biểu hiện qua những chỉ tiêu như: số con đẻ ra/lứa, số lứa đẻ/ năm, tỷ lệ nuôi sống, tỷ lệ còi cọc, dị hình. khả năng sinh sản cũng liên quan đến việc thành thục sớm hay muộn, thời gian mang thai. Sinh sản là đặc trưng của tính di truyền ở mỗi phẩm giống gia súc theo (Trần Đình Miên, 1975) [20]. Thông thường người ta đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái bằng cách tính số con đẻ ra và số con sống trong một lứa, khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, tỷ lệ nuôi sống, độ đồng đều của các con trong lứa.
Lợn rừng Thái Lan và một số giống lợn nuôi tại Bắc Kạn * Lợn rừng Thái Lan Lợn rừng (Sus Scrofa), ở châu Âu gọi là (Sus scrofa ferus) và châu Á (Sus orientalis, Sus cristatus, Sus vittatus) là tổ tiên của lợn nhà hiện nay. Căn cứ vào hình dáng của tai, người ta chia cả hai nhóm lợn nguyên thuỷ châu Âu và châu Á thành hai loại: Lợn tai dài và lợn tai ngắn. Hiện tại lợn rừng vẫn còn ở khắp vùng rừng châu Âu và châu Á. Những năm gần đây, do nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, ở Việt Nam cũng như một số nước như Trung Quốc, Thái Lan, đã tiến hành thuần hóa và nuôi dưỡng lợn rừng từ 5 hơn 20 năm nay, bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho người chăn nuôi.
Lợn rừng Thái Lan có tai nhỏ vênh và hướng về phía trước. Màu lông trên cơ thể lợn rừng không đồng nhất; lông bờm tốt và cứng, ở con đực phát triển hơn con cái, một gốc chân lông có 3 ngọn chụm lại thành cụm. Lợn rừng là loài nuôi con khéo. Hiện nay ở Bắc Kạn nhiều hộ chăn nuôi cũng dùng lợn rừng thuần lai với các giống lợn địa phương, Móng Cái.
* Giống lợn địa phương nuôi tại Bắc Kạn Ở nước ta hiện nay, tập đoàn giống lợn địa phương rất phong phú. Miền núi phía Bắc Việt Nam nuôi phổ biến là các giống: Lợn Mẹo, lợn Mường Khương, lợn Táp Ná. Đặc điểm của giống lợn địa phương tỉnh Bắc Kạn: Dựa vào màu sắc lông da có thể chia làm 3 nhóm như sau: - Nhóm đen tuyền: Toàn thân đen tuyền. Nhóm này có đặc điểm là tương đối nhỏ, có đặc điểm hoang sơ hơn.
Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở bà con dân tộc H'mông và dân tộc Dao. Hiện nay, số lượng còn không nhiều chỉ chiếm từ 6,10% - 8,33% đàn lợn nái điều tra, 2,42 - 3,92% đàn lợn thịt. - Nhóm lợn đen có một số điểm trắng: Toàn thân lợn có màu đen và có điểm trắng ở một số vị trí như gương mũi, 4 ngón chân, giữa trán và đuôi có một nhúm lông màu trắng. Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở bà con dân tộc H'mông và dân tộc Dao.
Nhóm lợn này được nuôi nhiều ở khu vực các thôn vùng cao của các xã, khối lượng cũng lớn hơn nhóm đen tuyền. - Nhóm lợn lang trắng đen: Nhóm lợn này có màu lông trắng và đen xen kẽ. Các vết lang trắng không cố định và mức độ lang không giống nhau, con nhiều, con ít. Các vết lang này thường phân bố ở bụng, ngang sườn, cổ, vai, lưng, gương mũi, 4 ngón chân, giữa trán và đuôi.
Nhìn chung nhóm lợn lang trắng đen này có tầm vóc to hơn và lớn nhanh hơn được nuôi nhiều ở vùng thấp hơn nơi có người dân tộc Tày sinh sống. * Giống lợn Móng Cái Giống lợn Móng Cái (MC) là giống lợn nội phổ biến nhất ở Việt Nam, có nguồn gốc từ huyện Đầm Hà và huyện Móng Cái tỉnh Quảng Ninh. Lợn MC được nuôi hầu hết ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, sau đó lan ra miền Trung và phía Nam. 6 Màu sắc lông da trắng, lưng và mông có khoang đen yên ngựa, da mỏng mịn, lông thưa và thô.
Đầu to, miệng nhỏ dài, tai nhỏ và nhọn, có nếp nhăn to và ngắn ở miệng. Cổ to và ngắn, ngực nở và sâu, lưng dài và hơi võng, bụng hơi xệ, mông rộng và xuôi. Lợn MC ăn tạp có khả năng ăn được hầu hết các loại thức ăn, tận dụng được hầu hết các nguồn thức ăn dư thừa và các loại thức ăn chất lượng thấp, có sức kháng bệnh cao (Nguyễn Văn Thiện và cs, 2005) [30]. Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh sản của lợn nái * Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh sản ở lợn nái - Tuổi động dục lần đầu: Là tuổi khi lợn cái có biểu hiện động dục lần đầu tiên.
Tuổi động dục lần đầu phụ thuộc rất lớn vào giống. Vì, giống là tiền đề và là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái (Đặng Vũ Bình, 1999) [3]. Lợn rừng có tuổi động dục lần đầu lớn hơn lợn nhà, lợn có khối lượng lớn động dục muộn hơn lợn có khối lượng nhỏ. Lợn Móng Cái 130-140 ngày, lợn Đại Bạch nhập vào Việt Nam từ 203-208 ngày, lợn Landrace từ 208-209 ngày (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2006) [27].
Nhiều khi ta thấy hiện tượng lợn cái không động dục. Lợn cái không động dục có thể do nhiều yếu tố, là do phát hiện động dục không đúng, stress do thời tiết nóng, động dục thầm lặng, ốm đau, dinh dưỡng thiếu protein và năng lượng. Ở lợn nội do khả năng tăng trọng thấp, mà chúng lại động dục lần đầu sớm, nên cơ thể chưa phát triển đầy đủ. Vì vậy cần bỏ qua 1-2 chu kỳ động dục rồi mới phối giống sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
Tuổi động dục lần đầu không chỉ phụ thuộc vào giống, mà còn phụ thuộc ít nhiều vào mùa vụ trong năm, thời gian chiếu sáng, nhiệt độ môi trường, chế độ dinh dưỡng (Nguyễn Tấn Anh và Nguyễn Duy Hoan, 1998) [2]. Theo Anderson và cs (1967) [32], mức ăn hạn chế về năng lượng đã làm chậm tuổi thành thục về tính dục 16 ngày. Nhưng ở 5 thí nghiệm khác mức ăn hạn chế làm cho tuổi thành thục về tính dục sớm hơn 11 ngày. Vấn đề này còn nhiều ý kiến khác nhau.
Trong thực tiễn sản xuất, người ta thấy cần nuôi dưỡng lợn nái sao cho không quá béo, không quá gầy. Sự có mặt của lợn đực đã đẩy nhanh sự xuất hiện chu kỳ động dục có trứng rụng. 7 - Tuổi phối giống lần đầu: Là tuổi tại thời điểm phối giống lần đầu, thông thường vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3. Người ta chưa tiến hành phối giống cho lợn động dục lần đầu tiên, do lợn chưa thành thục về thể vóc, số lượng trứng rụng còn ít.
Đối với lợn nội, thường cho phối giống ở tháng tuổi 6-7, khi khối lượng đạt 40-50 kg, lợn lai (♂ngoại x ♀nội) vào lúc 8 tháng tuổi với khối lượng không thấp hơn 65-70 kg, còn với lợn ngoại, trong những năm gần đây, người ta thường phối giống ngay từ lần động dục đầu tiên. Lợn nái có số lứa đẻ thấp nhất là 1 lứa và cao nhất 11 lứa. Tuổi phối giống đậu thai lần đầu được tính từ tuổi dẻ lứa thứ 1 trừ cho thời gian mang thai trung bình 115 ngày, năng suất sinh sản đạt cao nhất khi lợn nái được phối giống và mang thai lần đầu vào lúc 38 tuần tuổi và mức độ lớn hơn trung bình đàn là 5,76%. Nếu lợn mang thai lần đầu ở độ tuổi trước 34 tuần tuổi thì năng suất thấp hơn trung bình là 8,27% và nếu mang thai muộn sau 44 tuần tuổi thì năng suất thấp hơn trung bình là 1,25%.