Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học về đặc điểm ngoại hình của gia cầm Các đặc điểm ngoại hình của gia cầm đặc trưng cho từng giống gia cầm. Đó là những đặc điểm bên ngoài của vật nuôi có thể quan sát được như: Màu lông, da, hình dáng, mào tích.
Hình dáng, kích thước cơ thể: Gia cầm thường được chia thành 3 loại hình chính: Hướng thịt, hướng trứng và hướng kiêm dụng. Gà hướng thịt có thân hình to thô, cổ dài trung bình, ngực nở, dáng đi nặng nề, khối lượng lớn. Gà hướng trứng có thân hình thon nhỏ, cổ dài, nhẹ cân, dáng nhanh nhẹn. Gà kiêm dụng có hình dáng trung gian, cơ thể có hướng kiêm dụng trứng thịt hoặc thịt trứng., (1978)[45] cho rằng có mối tương quan thuận giữa khối lượng cơ thể với tất cả các chiều đo.B và Dumington (1978)[85] cho biết tương quan giữa góc ngực và khối lượng cơ thể từ 0,4 đến 0,68 trung bình là 0,42.
Đầu: Gà trống có ngoại hình đầu giống đầu gà mái sẽ có tính sinh dục kém, gà mái có ngoại hình đầu giống gà trống sẽ không cho năng suất cao, Brandsch H. Do vậy, cấu tạo của xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá đầu gia cầm. Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra kết luận về sự phát triển của mô liên kết và mô đỡ. Mào: Mào là đặc điểm sinh dục thứ cấp nên có thể phân biệt trống mái.
Mào gà rất đa dạng về hình dạng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống. Mào là dẫn xuất của da theo Phan Cự Nhân (1971)[40], khi có mặt gen Ab gà sẽ có dạng mào hoa hồng, khi có mặt gen aB gà sẽ có dạng mào nụ và khi có mặt gen ab thì gà sẽ có dạng mào cờ. Theo tính trạng mào người ta phân biệt các loại: mào cờ (mào đơn), mào hoa hồng, mào nụ, mào hạt đậu. Mỏ: Mỏ là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng (Stratumcorneum).
Mỏ gà phải ngắn, chắc. Những con mỏ dài và cong là những con không đạt tiêu chuẩn về phẩm giống. Mỏ có nhiều loại màu khác nhau: Vàng đỏ, đen, hồng… Màu sắc của mỏ thường phù hợp với màu của chân. n 4 Bộ lông: Khi mới nở, gia cầm con được lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển lông tơ sẽ dần được thay thế bằng lông vũ.
Tốc độ mọc lông là sự biểu hiện khả năng mọc lông sớm hay muộn, nó có quan hệ mật thiết với cường độ sinh trưởng của gia cầm. (1978)[4], những gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thì có tốc độ sinh trưởng nhanh. and Mc Carthy J. (1970)[77] cho biết gà mái mọc lông đều hơn gà trống trong cùng một dòng và ảnh hưởng của hormon có tác dụng ngược với gen liên kết qui định tốc độ mọc lông.
Chân: Ở loài gia cầm chân có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da. Chân có vuốt và cựa, cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài. Gà giống tốt phải có chân chắc chắn, không thô. Đặc điểm chân cao có liên quan tới khả năng cho thịt thấp và phát dục chậm, (theo Brandsch H.
Những con gà có chân hình chữ bát, các ngón cong, xương khuyết tật không nên sử dụng làm giống. Tính trạng sản xuất của gia cầm Hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như sinh trưởng, sinh sản, mọc lông, tăng trưởng thịt, đẻ trứng đều là các tính trạng số lượng. Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng cũng là do các gen nằm trên nhiễm sắc thể qui định. Theo Nguyễn Ân và cs (1983)[2], các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng, thường là các tính trạng đo lường như khối lượng cơ thể, sản lượng trứng, khối lượng trứng,.
Các tính trạng số lượng thường bị chi phối bởi nhiều gen. Các gen này hoạt động theo ba phương thức: - Cộng gộp (A) hiệu ứng tích luỹ của từng gen. - Trội (D) hiệu ứng tương tác giữa các gen cùng một lô cút. - Át gen (I) hiệu ứng do tương tác, của các gen không cùng một lô cút.
Hiệu ứng cộng gộp A là các giá trị giống thông thường (general breeding value) có thể tính toán được, có ý nghĩa trong chọn lọc nhân thuần. Hiệu ứng trội D và át gen I là những hiệu ứng không cộng tính và là giá trị giống đặc biệt (special breeding value) có ý nghĩa đặc biệt trong các tổ hợp lai. Ở các tính trạng số lượng giá trị kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di truyền) và sai lệch môi trường qui định, nhưng giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gen) cấu tạo thành. Đó là các n 5 gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp lại sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, tính trạng sinh sản là một ví dụ (Nguyễn Văn Thiện, 1996)[65].
Khác với tính trạng chất lượng, các tính trạng số lượng được qui định bởi kiểu gen và chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện ngoại cảnh, mối tương quan đó được biểu thị như sau: P=G+E Trong đó P là giá trị kiểu hình (phenotypic value), G là giá trị kiểu gen (genotypic value), E là sai lệch môi trường (environmental deviation). Giá trị kiểu gen (G) hoạt động theo ba phương thức: cộng gộp, trội và át gen. Từ đó cũng có thể hiểu: G=A+D+I Trong đó G là giá trị kiểu gen (genotypic value), A là giá trị cộng gộp (additive value), D là giá trị sai lệch trội (dominance deviation value), I là giá trị sai lệch tương tác (Interaction deviation value) Ngoài ra các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường hay điều kiện ngoại cảnh (E) và được chia làm 2 loại chính: - Sai lệch môi trường chung Eg (General environment) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác động lên toàn bộ các cá thể. Loại yếu tố này có tính chất thường xuyên như: thức ăn, khí hậu,.
- Sai lệch môi trường riêng Es (Special Environment) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở một giai đoạn nhất định trong cuộc đời con vật. Nếu bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể biểu thị cụ thể: P = A + D + I + Eg + Es Người ta có thể xác định các tính trạng số lượng qua mức độ tập trung (Χg), mức độ biến dị (Cv%), hệ số di truyền của các tính trạng (h2), hệ số lặp lại của các tính trạng (R), hệ số tương quan (r) giữa các tính trạng,. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản * Khả năng sinh sản ở gia cầm Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện bởi các chỉ tiêu về sản lượng, khối lượng, hình dạng, chất lượng trứng, khả năng thụ tinh và ấp nở. n 6 * Sản lượng trứng Sản lượng trứng được tính trong 365 ngày kể từ khi gà đẻ qủa trứng đầu tiên.
Lượng trứng mà gia cầm mái đẻ ra trong một vòng đời, phụ thuộc vào tuổi thành thục, cường độ đẻ trứng, tần số thể hiện bản năng đòi ấp, thời gian nghỉ đẻ và thời gian đẻ kéo dài (Brandsch H. * Năng suất trứng Năng suất trứng là số lượng trứng một gia cầm mái sinh ra trên một đơn vị thời gian. Đối với gia cầm đẻ trứng thì đây là chỉ tiêu quan trọng nhất, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục. + Cơ sở giải phẫu của trứng Cấu tạo của trứng bao gồm: lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ.
Buồng trứng có chức năng tạo lòng đỏ, còn ống dẫn trứng có chức năng tiết ra lòng trắng đặc, lòng trắng loãng, màng vỏ, vỏ mỏng và lớp keo mỡ bao ngoài vỏ trứng. Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20-24 giờ. Các tài liệu nghiên cứu đều cho rằng, hầu hết vật chất lòng đỏ trứng gà được tạo thành trước khi đẻ trứng 9-10 ngày. Trong 1- 3 ngày đầu, tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ chậm, khi đường kính đạt 6 mm bắt đầu vào thời kì sinh trưởng cực nhanh và có thể tăng 4 mm trong 24 giờ cho tới khi đạt 40 mm.
Thời gian từ lúc đẻ trứng đến khi rụng quả trứng tiếp theo kéo dài từ 15 -75 phút. + Cơ sở di truyền của năng suất trứng. Theo các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả, việc sản xuất trứng của gia cầm có thể do 5 yếu tố ảnh hưởng mang tính di truyền. - Tuổi thành thục sinh dục là một yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng và có liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm.
Tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, loài, giới tính, thời gian nở ra trong năm… Gà hướng trứng tuổi thành thục sớm hơn gà hướng thịt. Theo Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [24] cho biết, hệ số di truyền của tính trạng này là h2 = 0,32. - Cường độ đẻ: yếu tố này do hai cặp gen R và r, R’ và r’ phối hợp cộng lại để điều hành. - Bản năng đòi ấp do 2 gen A và C điều khiển, phối hợp với nhau.
Đây là phản xạ không điều kiện có liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm. Bản năng đòi ấp rất khác giữa các giống và các dòng. Các dòng nhẹ cân có tần số n 7 thể hiện bản năng đòi ấp thấp hơn các dòng nặng cân. Gà Leghorn và Goldline hầu như không còn bản năng đòi ấp.
- Thời gian nghỉ đẻ (đặc biệt là nghỉ đẻ vào mùa đông) do các gen M và m điều khiển. Gia cầm có gen mm thì về mùa đông vẫn tiếp tục đẻ đều. - Thời gian kéo dài của chu kỳ đẻ, do cặp gen P và p điều hành. Yếu tố thứ 5 và yếu tố thứ nhất là hai yếu tố kết hợp với nhau, cũng có nghĩa là các cặp gen Pp và Ee có phối hợp với nhau.
Tất nhiên ngoài các gen chính tham gia vào việc điều khiển các yếu tố trên, có thể còn có nhiều gen khác phụ lực vào. + Tuổi đẻ quả trứng đầu. Tuổi đẻ quả trứng đầu được xác định bằng số ngày tuổi của gà mái kể từ khi nở ra đến khi đẻ quả trứng đầu. Đây là một chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục, cũng được coi là 1 yếu tố cấu thành năng suất trứng (Khavecman, 1972)[23].