Đặt vấn đề Rác là hiểm họa của môi trƣờng, nhƣng rác cũng là vàng nếu chúng ta biết tận dụng, khai thác và tái sử dụng. Khoảng 1/3 tổng lƣợng chất thải sinh hoạt là chất thải hữu cơ có thể tái chế một cách dễ dàng. Chất thải hữu cơ là một loại nguyên liệu thô có giá trị có thể đƣợc chế biến thành phân ủ có chất lƣợng tốt nhất, đƣa chất hữu cơ thiết yếu vào đất trồng. Phân ủ đem lại sự phì nhiêu cho đất, cải tạo cấu trúc của đất, giúp giữ nƣớc đồng thời còn làm cho đất tiêu úng tốt.
Nếu nhƣ loại chất thải này bị chôn lấp thì tiềm năng của chúng bị mất đi và các chất gây ô nhiễm này sẽ phát tán vào không khí, nguồn nƣớc gây ô nhiễm môi trƣờng. Dùng giun để xử lý phân là một phƣơng pháp xử lý có thể dễ dàng đƣợc sử dụng ngay tại nhà. Bên cạnh đó, giun quế cũng là thức ăn ƣa thích để nuôi gia cầm, cá,… Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về khả năng phân hủy chất hữu cơ của Giun quế và cũng đã đạt đƣợc một số thành tựu nhất định, bài báo cáo này giúp tìm hiểu rõ hơn về công nghệ này. Rác thải hữu cơ có thời gian phân hủy nhanh, công nghệ này có thể làm giảm thời gian thu gom, hạn chế sự phát tán ô nhiễm vào không khí và tiết kiệm chi phí thu gom, phân loại rác.
Xử lý chất thải bằng cách nuôi giun là một công nghệ đơn giản, không đòi hỏi trình độ vận hành hay quản lý, trình độ kĩ thuật cao nhƣ những phƣơng pháp xử lý khác. Do vậy, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu khả năng phân giải chất thải hữu cơ của giun quế tại thành phố Bắc Kạn”. Mục tiêu nghiên cứu * Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu mô hình nuôi giun quế để xử lý chất thải sinh hoạt quy mô hộ gia đình nhằm giảm thiểu đƣợc ô nhiễm môi trƣờng, tận dụng đƣợc nguồn tài nguyên sẵn có (chất thải hữu cơ) tạo ra phân bón và làm nguồn thức ăn chăn nuôi. 2 * Mục tiêu cụ thể - Đánh giá hiệu quả xử lý các loại chất thải sinh hoạt hữu cơ khác nhau của giun quế.
- Xây dựng mô hình nuôi giun quy mô hộ gia đình để xử lý chất thải 3. Ý nghĩa của đề tài - Tìm hiểu cách nuôi, điều kiện sống của giun quế. - Xử lý nguồn chất thải hữu cơ hộ gia đình bằng biện pháp sinh học không gây độc hại. - Tạo nguồn phân bón cho cây trồng nhƣ rau sạch, cây cảnh… - Tận dụng sinh khối giun làm thức ăn cho gia cầm, gia súc, cá.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lý luận Rác xuất hiện ở khắp mọi nơi, chỗ nào cũng có thể thấy rác, từ quán ăn, chợ, trên đƣờng, tại các trƣờng học, ký túc xá, bệnh viện đến các sông hồ. Chất thải sinh hoạt đang trở thành mối quan tâm lớn của xã hội.
Cùng với sự phát triển của xã hội, chất thải đang đem lại những mối nguy hại lớn cho xã hội nhƣ mầm bệnh,….Vì vậy những phƣơng pháp xử lý chất thải sinh hoạt với biện pháp sinh học không ảnh hƣởng đến môi trƣờng đang nhận đƣợc rất nhiều sự quan tâm của xã hội. Giun quế là loại sinh vật có khả năng sử dụng chất hữu cơ trong đất, trong chất thải sinh hoạt nhƣ thức ăn,… Chất hữu cơ qua giun đƣợc chuyển hóa thành những hợp chất có tác dụng cải tạo đất, làm phân bón. Dùng giun để ủ phân là một phƣơng pháp ủ có thể dễ dàng đƣợc sử dụng ngay tại nhà. Bên cạnh đó, giun quế cũng là thức ăn ƣa thích để nuôi gia cầm, cá,… 1.
Cơ sở thực tiễn Hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến giun quế xử lý thành phần hữu cơ trong chất thải sinh hoạt đƣợc nghiên cứu trên thế giới cũng nhƣ ở nƣớc ta. * Trên thế giới Việc nuôi giun để xử lý rác sinh hoạt đang đƣợc áp dụng phổ biến tại các gia đình ở nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ Canada, Nhật Bản và Trung Quốc. Cuốn sách ''Giun ăn rác của chúng ta'' do Mary Appelhof xuất bản năm 1982 đã trình bày một hệ thống sản xuất phân bón từ giun và kỹ thuật này đƣợc nhân rộng trong nhiều năm. Sử dụng giun để làm phân bón phổ biến tại 4 Vancouver (Canada), tới mức thành phố này đã thiết lập một đƣờng dây điện thoại nóng cho loại hình này [1].
Bên cạnh đó cũng có một số nghiên cứu đã cung cấp nhiều số liệu đáng tin cậy cho thấy vermicompost (phân giun quế) thúc đ y nhanh sự phát triển của thực vật nhƣ: - Nghiên cứu về vermicompost (phân giun quế) sớm nhất là Fosgate và Babb (1972), các tác giả đã nuôi trùn bằng phân chuồng và nhận thấy vermicompost thu đƣợc có hiệu lực tƣơng đƣơng với mỗi hỗn hợp dinh dƣỡng dùng trong trồng hoa trong nhà kính. - Buchanan và cộng sự (1988) cho rằng hầu hết các dạng vermicompost (phân giun quế) đều có các yếu tố dinh dƣỡng mà ở dạng cây sẵn sàng hấp thụ luôn cao hơn compost có cùng nguồn nguyên, rác hữu cơ ban đầu. - Edwards (1988) phân tích và cho thấy tất cả mẫu vermicompost đều có hàm lƣợng nitrogen dễ tiêu rất cao. - Một báo cáo khác của Edwards và cộng sự (1985) đã đề cập đến vấn đề này cho biết, hấu hết các hữu cơ có hàm lƣợng dinh dƣỡng rất cao và thƣờng thì chỉ một lƣợng rất ít bị mất đi trong quá trình chế biến thành vermicompost.
* Việt Nam Nghiên cứu cơ bản về giun đất ở Việt Nam đã triển khai từ trƣớc năm 1979: Thái Trần Bái và các cộng sự ở Đại học Sƣ phạm I Hà Nội. Nghiên cứu sử dụng giun làm dƣợc liệu: có giáo sƣ Đỗ Tất Lợi đã sƣu tầm những bài thuốc có sử dụng giun. Trƣớc năm 1975, có dƣợc sĩ Hồ Thị Thu đã nghiên cứu sản xuất những dƣợc ph m từ giun. Năm 1987 trƣờng Đại học Y dƣợc TP Hồ Chí Minh nghiên cứu những hoạt chất chủ yếu, thành phần đạm, các acid amin, khoáng vi lƣợng trong thịt giun.
Nghiên cứu nuôi giun: năm 1983 tiến sĩ nông hóa Nguyễn Văn Chuyển, một Việt kiều ở Nhật đã giới thiệu trên đài truyền hình TP Hồ Chí 5 Minh kỹ thuật nuôi giun đất để lấy đạm động vật. Năm 1986, nghiên cứu nuôi giun sớm nhất ở Việt Nam là phòng sinh học thực nghiệm, Đại học Sƣ phạm I Hà Nội, nghiên cứu thành công việc thuần hóa giun quế, Perionyx excavatus, có trong tự nhiên ở Việt Nam, thành vật nuôi. Tiến sĩ Nguyễn Văn Bảy, trƣờng Cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn TP Hồ Chí Minh đã nhập giun quế về Việt Nam để nghiên cứu nhân giống từ năm 1995. Một nhóm tác giả khoa sinh, Đại học Khoa học tự nhiên TP Hồ Chí Minh đã thí nghiệm nuôi giun bằng chất thải từ nghề trồng nấm.
Đến nay việc nuôi giun đất đã đƣợc triển khai tại nhiều tỉnh, TP - từ năm 1990 các tỉnh Cao Bằng, Hà Giang, Bắc Thái; 1996 ở Bảo Lộc - Lâm Đồng, TP Hồ Chí Minh, Long An, các tỉnh miền Tây Nam bộ. Đề tài: “Nuôi giun xử lý chất thải” TS.Huỳnh Thị Kim Hối (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) với công bố: “Chỉ cần từ 1 đến 2 lạng giun là có thể xử lý đƣợc không dƣới 300 kilogam chất thải hữu cơ, với hiệu suất xử lý đạt 100%” [1]. Một công trình nghiên cứu về về quá trình phân hủy chất thải hữu cơ với sự tham gia của trùn quế vừa công bố cho thấy loài giun này có thể đƣợc dùng để xử lí chất thải rắn hữa cơ. Đây là công trình nghiên cứu của nhóm sinh viên thuộc Viện Môi trƣờng -Tài nguyên và Trƣờng Đại học Tôn Đức Thắng.
Hiện nay nhiều đề tài nghiên cứu của học sinh sinh viên trên toàn quốc về giun quế xử lý chất thải hữu cơ nhƣ: - Trần Kim Thanh Vũ và Đinh Thị Thu Hà là hai học sinh lớp 11 Trƣờng THPT Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng. Đề tài của hai bạn là “Xử lý chất thải hữu cơ bằng phƣơng pháp lên men kết hợp nuôi Giun quế”. - “Phƣơng pháp xử lý chất thải bằng giun quế” của nhóm sinh viên trƣờng đại học nông lâm Hồ Chí Minh dƣới sự hƣớng dẫn của TS.Lê Quốc Tuấn. - Đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu quá trình sản xuất phân hữu cơ từ rác thải với sự tham gia của giun quế” của nhóm sinh viên 05MT: Hồ Hồng 6 Quyên, Nguyễn Thị Anh Đào, Lê Thị Hồng Hiền, Nguyễn Thị Hoa, Lê Nữ Hồng Phúc, Trần Thị Thanh Trang thuộc khoa môi trƣờng, trƣờng Đại học bách Khoa.
Tổng quan về giun quế (Trùn quế) 1. Hiểu biết cơ bản về giun quế (Trùn quế) Giun quế có tên khoa học là Perionyx excavatus, chi Pheretima, họ Megascocidae (họ cự dẫn), ngành ruột khoan. Chúng thuộc nhóm giun ăn phân, thƣờng sống trong môi trƣờng có nhiều chất hữu cơ đang phân hủy, trong tự nhiên ít tồn tại với phần thể lớn và không có khả năng cải tạo đất trực tiếp nhƣ một số loài giun địa phƣơng sống trong đất. Giun quế (trùn quế) Giun quế là một trong những giống giun đã đƣợc thuần hóa, nhập nội và đƣa vào nuôi công nghiệp với các quy mô vừa và nhỏ.
Đây là loài giun mắn đẻ, xuất hiện rải rác ở vùng nhiệt đới, dễ bắt bằng tay, vì vậy rất dễ thu hoạch. Chúng đƣợc sử dụng rộng rãi trong việc chuyển hóa chất thảm ở Philippines, Australia và một số nƣớc khác (Gurrero, 1983; Edwards, 1995). Kích thƣớc giun quế trƣởng thành từ 10 - 15 cm, nƣớc chiếm khoảng 80 - 85%, chất khô khoảng 15 - 20%. Hàm lƣợng các chất (tính trên trọng lƣợng chất khô) nhƣ sau: Protein: 68 -70%, Lipid: 7 - 8%, chất đƣờng: 12 -14 %, tro 7 11 - 12%.
Do có hàm lƣợng Protein cao nên giun quế đƣợc xem là nguồn dinh dƣỡng bổ sung quý giá cho các loại gia súc, gia cầm, thủy hải sản… Ngoài ra, giun quế còn đƣợc trong y học, công nghệ chế biến thức ăn gia súc… Phân giun là loại phân hữu cơ sinh học có hàm lƣợng dinh dƣỡng cao, thích hợp cho nhiều loại cây trồng, không gây ra tình trạng “sốc” phân, yêu cầu trữ dễ dàng, đặc biệt thích hợp cho các loại hoa kiểng, làm giá thể vƣờn ƣơm và là nguồn phân thích hợp cho việc sản xuất rau sạch [7].