MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, sợi thực vật là đối tƣợng đƣợc nhiều nhà khoa học trên thế giới cũng nhƣ trong nƣớc quan tâm nghiên cứu do sợi thực vật có tính chất cơ học đặc biệt, là nguồn tài nguyên tái tạo phong phú, có khả năng phân hủy sinh học và thân thiện với môi trƣờng. Trong đó, vi sợi xenlulozơ (MFC) đã đƣợc nghiên cứu từ những năm 1980 bởi Tabark và các cộng sự. Vi sợi xenlulozơ đƣợc hình thành trong tế bào thực vật trong quá trình sinh trƣởng và phát triển của cây, có kích thƣớc khoảng vài chục nanomet tới vài micromet.
Vi sợi xenlulozơ là tập hợp các mạch phân tử xenlulozơ sắp xếp song song với trục của vi sợi, là một bó xoắn dài các phân tử đƣợc liên kết với nhau bằng các liên kết ngang hydro giữa các nhóm chức hydroxyl của các phân tử liền kề. Cấu trúc này tạo cho vi sợi có tính chất cơ học đạt gần tới giới hạn lý thuyết của các tinh thể xenlulozơ hoàn thiện. Độ bền kéo của vi sợi có thể đạt 2GPa, modun kéo đạt 140 GPa. Nhƣ vậy, về mặt lý thuyết, vật liệu có sử dụng MFC sẽ có tính chất cao hơn rất nhiều so với sợi thực vật thông thƣờng.
Do MFC có kích thƣớc nhỏ, diện tích bề mặt lớn, độ bền cơ học cao nên MFC và dẫn xuất axetat của nó có khả năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực nhƣ sản xuất giấy, thực phẩm, dƣợc phẩm, mỹ phẩm, vật liệu composite, xử lý môi trƣờng, …. Nghiên cứu chế tạo MFC và dẫn xuất của vi sợi cũng nhƣ nghiên cứu các ứng dụng của chúng mới phát triển trong những năm gần đây ở trên thế giới. Trong khi đó, Việt Nam là nƣớc có nguồn nguyên liệu sợi thực vật rất phong phú và dồi dào nhƣng mới có rất ít công trình nghiên cứu chế tạo MFC có kích thƣớc micro và bƣớc đầu ứng dụng trong chế tạo vật liệu polyme composite [3] và nghiên cứu ứng dụng làm vật liệu hấp phụ ion kim loại nặng. 2 Do đó, để tận dụng nguồn nguyên liệu giá rẻ và góp phần vào lĩnh vực nghiên cứu chế tạo, khảo sát ứng dụng của MFC và dẫn xuất của MFC, tôi chọn đề tài: “Chế tạo và khảo sát khả năng hấp phụ ion Cu2+ của vi sợi xenlulozơ và vi sợi xenlulozơ axetat từ bã mía”.
Mục tiêu của đề tài - Chế tạo MFC và vi sợi xenlulozơ axetat có kích thƣớc micro từ nguyên liệu là bã mía phế thải; - Khảo sát khả năng hấp phụ ion kim loại nặng của MFC và vi sợi xenlulozơ axetat. Nhiệm vụ nghiên cứu - Chế tạo MFC từ bã mía phế thải và vi sợi xenlulozơ axetat bằng phản ứng của MFC với anhiđrit axetic; - Khảo sát cấu trúc hóa học của vi sợi xenlulozơ axetat bằng phổ hồng ngoại và phổ cộng hƣởng từ hạt nhân; - Nghiên cứu hình thái học và tính tan của vi sợi xenlulozơ axetat; - Khảo sát khả năng hấp phụ ion Cu2+. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu: MFC và vi sợi xenlulozơ axetat từ bã mía phế thải. - Phạm vi nghiên cứu: quy trình chế tạo MFC và vi sợi xenlulozơ axetat từ bã mía; cấu trúc hóa học, hình thái học và khả năng hấp phụ ion kim loại nặng của MFC, vi sợi xenlulozơ axetat.
Phƣơng pháp nghiên cứu - Cấu trúc hóa học của vi sợi xenlulozơ axetat đƣợc khảo sát bằng phổ hồng ngoại và phổ cộng hƣởng từ hạt nhân; - Cấu trúc hình thái học của MFC và vi sợi xenlulozơ axetat đƣợc khảo sát bằng kính hiển vi điện tử quét (SEM); - Khả năng hấp phụ ion kim loại nặng của MFC và vi sợi xenlulozơ axetat đƣợc khảo sát phƣơng pháp phổ hấp thụ nguyên tử AAS. Sợi thực vật và ứng dụng Xenlulozơ là polyme tự nhiên đƣợc sử dụng phổ biến, tính đến năm 2010 đã có hơn 7,5.105 tấn xenlulozơ đƣợc sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau nhƣ làm vật liệu polyme composite (PC), xăng sinh học, ứng dụng trong y học [8, 9]. Việc ứng dụng sợi thực vật không ngừng phát triển. Trên thế giới, sợi thực vật đƣợc ứng dụng vào vật liệu PC tƣơng đối sớm, bởi đây là nguồn nguyên liệu có trữ lƣợng lớn, rẻ tiền, có khả năng phân hủy sinh học.
Hiện nay, vật liệu PC gia cƣờng sợi thực vật đã thay thế đƣợc sợi tổng hợp để ứng dụng trong ngành công nghiệp ô tô (một số hãng ở Hoa Kỳ, Mercedes, BMW, Audi và Volkswagen ở Đức) và máy bay. Tuy vậy, hạn chế của sợi thực vật khi ứng dụng vào PC là phụ thuộc vào điều kiện phát triển của thực vật, độ bám dính giữa sợi thực vật và nhựa nền, độ bám dính lại phụ thuộc vào bản chất của sợi và nhựa nền và cũng ảnh hƣởng đến tính chất cơ lý của vật liệu PC. Mặc dù, kết quả nghiên cứu của Seema Jain và các cộng sự cho thấy một số loại sợi thực vật liên kết rất tốt với nhựa nền epoxy, quá trình xử lý kiềm trong một số trƣờng hợp không làm tăng độ bám dính giữa sợi thực vật với nhựa nền epoxy, độ bền kéo và môđun đàn hồi của sợi sau khi xử lý có thể tăng lên tƣơng ứng khoảng 120% và 150%, độ bền và độ cứng chắc của vật liệu PC nhựa nền epoxy có thể tăng lên đến 60%. Tuy nhiên, việc xử lý sợi thực vật loại bỏ bớt lignin và hemixenlulozơ giúp liên cầu giữa các sợi ít dày đặc và ít cứng nhắc hơn nên giúp các sợi có khả năng tự sắp xếp lại dẫn đến các sợi chia sẻ tải tốt hơn giúp cải thiện tính chất cơ lý của sợi thực vật [5].
Kết quả nghiên cứu của Trần Vĩnh Diệu và các cộng sự [7] cho thấy độ bền kéo của sợi xử lý có thể tăng lên đến 126%. Tạ Thị Phƣơng Hòa và cộng sự [10] cho biết với nhựa nền PEKN độ bền bám dính có thể tăng tăng 51,7% khi sợi thực vật đƣợc xử lý bằng plasma lạnh. Phan Thị Minh Ngọc và các cộng sự [12] đã chế tạo PC trên nền nhựa PEKN gia cƣờng với hàm lƣợng 55% sợi nứa thì độ bền uốn và độ bền va đập 4 tƣơng ứng là 99,15 MPa và 21,83 kJ/m2. Kết quả nghiên cứu của tác giả Tạ Thị Phƣơng Hòa và các cộng sự [10] trên nền nhựa PEKN với hàm lƣợng sợi nứa 40% trọng lƣợng đƣợc xử lý plasma lạnh độ bền kéo tăng 13,7%, độ bền uốn tăng 11,9%, độ bền va đập tăng 51% so với mẫu không xử lý.
Tính chất cơ học của composite nhựa nền epoxy lai tạo theo cấu trúc vỏ - cốt và xen kẽ với hàm lƣợng sợi gia cƣờng tổng thể là 60% trọng lƣợng, trong đó tỷ lệ mat dứa dại/mat thủy tinh = 50/50 trọng lƣợng cao hơn so với composite lai tạo theo cấu trúc xen kẽ, đặc biệt độ bền uốn cao hơn 1,65 lần. Khi thử độ bền uốn, bề mặt mẫu vật liệu PC tiếp nhận ngoại lực nhiều hơn, vì lớp vỏ gia cƣờng bằng sợi thủy tinh có độ bền cao hơn nên độ bền uốn tổng thể tăng [3]. Phan Thị Minh Ngọc và các cộng sự [12] cho rằng với hàm lƣợng nứa/thủy tinh = 50/50 là hàm lƣợng tối ƣu để chế tạo vật liệu nhựa nền PEKN. Với tỷ lệ lai tạo mat nứa/mat thủy tinh = 40/60 có tính chất cơ học tốt nhất; độ bền kéo tăng 38,9%, độ bền uốn tăng 15,5%, độ bền va đập tăng 217,5% so với PC-mat nứa và nhẹ hơn PC-mat thủy tinh 4,1% [10].
Trong số các loại sợi thực vật, sợi tre gần đây đƣợc quan tâm chú ý vì có những tính chất đặc biệt có thể thay thế đƣợc cho sợi thuỷ tinh, là loại sợi đƣợc sử dụng phổ biến trong chế tạo vật liệu PC [4] Việt Nam là đất nƣớc đứng thứ 3 thế giới về trữ lƣợng tre nứa. Vì vậy xu hƣớng nghiên cứu ứng dụng tre nứa vào các lĩnh vực kỹ thuật cao hiện đang phát triển. Trong những năm gần đây, ô nhiễm môi trƣờng là vấn đề bức xúc đƣợc toàn xã hội quan tâm, không chỉ tác động đến môi trƣờng sống của các sinh vật mà còn của cả con ngƣời, sự gia tăng của các bệnh hiểm nghèo nguyên nhân do ô nhiễm môi trƣờng trong đó có các kim loại nặng tại các làng nghề truyền thống cũng nhƣ các khu công nghiệp càng đƣợc chú ý. Các kim loại phổ biến nhất trong nƣớc thải công nghiệp nhƣ niken, kẽm, chì, sắt, crom, đồng, asen, cadimi, urani.
Một số công nghệ có khả năng xử lý nƣớc thải chứa nhiều kim loại nặng phổ biến nhƣ kết tủa hóa học, keo tụ, tuyển nổi, tách ion, hấp phụ. Trong đó, phƣơng pháp hấp phụ đƣợc ứng dụng rộng rãi vì dễ hoạt 5 động, tiết kiệm, có khả năng áp dụng rộng rãi và thiết kế đơn giản. Chất hấp phụ sinh học giá rẻ nhƣ xenlulozơ, phế thải nông nghiệp hoặc phế thải thực vật phần lớn đƣợc sử dụng trong tách kim loại nặng, do chúng có giá thành kinh tế thấp, đi từ nguồn nguyên liệu tái tạo và có khả năng tìm kiếm rộng rãi, cũng nhƣ có tiềm năng ứng dụng để xử lý nƣớc thải ở mức độ rộng lớn. Những nguyên liệu xenlulozơ thực vật đƣợc sử dụng trong khử độc kim loại nặng nhƣ trấu, rơm cây lúa mì, bã mía tím, thân ngô, cùi ngô [1,20] thấy xenlulozơ có khả năng hấp phụ ion Cu2+ là 7,057 m2g-1.
Cùi ngô khi đƣợc xử lý với axit photphoric có khả năng hấp phụ 79,21 mg Zn (II)/1 gam chất hấp phụ [19]. Đồng là kim loại thƣờng đƣợc tìm thấy trong nƣớc thải công nghiệp với hàm lƣợng cao do đồng là kim loại có nhiều ứng dụng, đƣợc sử dụng phổ biến trong công nghiệp. Đồng là kim loại rất độc ở hàm lƣợng thấp nên nƣớc bị nhiễm đồng phải đƣợc xử lý trƣớc khi thải vào môi trƣờng. Hàm lƣợng ion Cu2+ tối đa đƣợc chấp nhận trong nƣớc thải công nghiệp đƣợc công bố bởi Cơ quan Bảo vệ Môi trƣờng Hoa Kỳ (USEPA) là 1,3 mg/l [35], trong khi hàm lƣợng ion Cu2+ trong nƣớc uống do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công bố không vƣợt quá 2 mg.
Thân cây nho có khả năng hấp phụ ion Cu2+ lên đến 10,10 mg/g, lá cây hoa hƣớng dƣơng có khả năng hấp phụ lên đến 89,37 mg/g. Vi sợi xenlulozơ Tùy vào kích thƣớc sợi sử dụng dẫn đến sự khác biệt về công dụng và tính chất của sợi thực vật, qua nhiều công trình nghiên cứu cho thấy những vật liệu sợi nói chung và sợi xenlulozơ nói riêng đều có những tính chất cơ học và hóa học đặc biệt khác nhau tùy vào kích thƣớc nano hay micro.