Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ y học với đề tài "Nghiên cứu kết quả các phương pháp sửa van ba lá trong phẫu thuật bệnh van hai lá" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trương Nguyễn Hoài Linh, chuyên ngành Ngoại lồng ngực (mã số: 62720124), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Thọ Tuấn Anh và PGS.TS. Nguyễn Văn Phan tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, bảo vệ năm 2015.
Tổn thương bệnh lý van ba lá thường xuất hiện phối hợp với bệnh lý các van tim bên trái, đặc biệt là bệnh van hai lá và bệnh van động mạch chủ. Trong thực hành phẫu thuật tim mạch, phẫu thuật can thiệp van ba lá hiếm khi được tiến hành đơn độc mà chủ yếu được thực hiện đồng thời trong quá trình sửa chữa hoặc thay thế van hai lá. Trước đây, nhiều quan điểm ngoại khoa cho rằng hở van ba lá cơ năng sẽ tự thoái lui sau khi tổn thương van tim bên trái được giải quyết triệt để. Tuy nhiên, các dữ liệu theo dõi lâm sàng dài hạn cho thấy thương tổn van ba lá nếu không được xử lý hoặc xử lý không thích hợp sẽ có xu hướng tiến triển nặng dần theo thời gian, dẫn đến giãn thất phải, suy tim phải không hồi phục, tăng tỷ lệ tái nhập viện và gia tăng nguy cơ tử vong chu phẫu cũng như dài hạn. Tại Việt Nam, các công trình công bố trước thời điểm nghiên cứu chủ yếu tập trung vào đánh giá kết quả chu phẫu ngắn hạn hoặc khảo sát diễn tiến tự nhiên ở nhóm bệnh nhân không được can thiệp van ba lá. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống nhằm đánh giá kết quả dài hạn và xác định các yếu tố ảnh hưởng giữa các kỹ thuật sửa van ba lá có đặt vòng van và không đặt vòng van là một yêu cầu cấp thiết của chuyên ngành phẫu thuật tim mạch.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm hai nội dung chính:
- Đánh giá kết quả dài hạn của phương pháp sửa van ba lá có đặt vòng van và sửa van ba lá không đặt vòng van trong phẫu thuật bệnh van hai lá.
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả dài hạn của phương pháp sửa van ba lá đồng thời với phẫu thuật van hai lá.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đề tài khảo sát trên quần thể gồm 581 bệnh nhân được phẫu thuật sửa van ba lá đồng thời với phẫu thuật bệnh van hai lá tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012. Quần thể này bao gồm 279 bệnh nhân được tạo hình van ba lá có đặt vòng van nhân tạo và 302 bệnh nhân được tạo hình van ba lá không đặt vòng van.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Về giải phẫu và sinh lý bệnh, vòng van ba lá là một cấu trúc mô sợi hình chữ D, có chu vi dao động từ 100 đến 125 mm ở người trưởng thành, diện tích thay đổi theo chu kỳ hoạt động của tim từ 11,3 ± 1,8 cm² trong thì tâm trương xuống 7,6 ± 1,4 cm² trong thì tâm thu. Bộ máy van ba lá bao gồm ba lá van (lá trước, lá sau, lá vách) và ba hệ thống cơ trụ (trước, sau, giữa). Trong phẫu thuật, các mốc giải phẫu quan trọng cần bảo tồn tránh tổn thương bao gồm bó Hiss (băng ngang chỗ gắn lá vách cách mép trước-vách từ 3 đến 5 mm) và cấu trúc xoang Valsalva không vành của van động mạch chủ. Cơ chế hở van ba lá được phân loại thành hở thực thể (tổn thương cấu trúc lá van, dây chằng do thấp tim, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, sa van, chấn thương) và hở cơ năng (giãn vòng van thứ phát do tăng áp lực động mạch phổi và giãn thất phải từ bệnh lý van hai lá, trong đó phần giãn chủ yếu nằm ở thành tự do thất phải).
Luận án đã tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến cơ chế, chỉ định và phương pháp can thiệp ngoại khoa van ba lá:
- Brawnwald và cộng sự (1967): Đề xuất khuynh hướng điều trị bảo tồn van ba lá cơ năng khi phẫu thuật van bên trái.
- Dreyfus và cộng sự: Khuyến cáo can thiệp tạo hình van ba lá đồng thời khi đường kính vòng van đo trong mổ ≥ 70 mm (hoặc trên siêu âm trước mổ ≥ 35 mm, tương đương > 21 mm/m² diện tích da) bất kể mức độ hở trước mổ, giúp giảm tỷ lệ hở van ba lá tiến triển từ 48% xuống còn 2%.
- Takashi (2004): Khảo sát 162 bệnh nhân (120 ca có đặt vòng van, 42 ca không đặt vòng van), ghi nhận mức độ tái hở van ba lá ≥ 2+ sau 5 năm ở nhóm có vòng van thấp hơn có ý nghĩa thống kê ($p = 0,03$).
- Matsuyama (2001): Theo dõi 3 năm trên 44 bệnh nhân, ghi nhận tỷ lệ hở van ba lá ≥ 2+ sau mổ ở nhóm sửa không đặt vòng van De Vega là 45%, so với 6% ở nhóm đặt vòng van Carpentier-Edwards. Đồng thời, Matsuyama xác định các yếu tố nguy cơ độc lập dự báo hở van ba lá nặng xuất hiện muộn gồm hở van ba lá mức độ vừa trước mổ ($OR = 3,9$), rung nhĩ ($OR = 9,2$) và đường kính nhĩ trái > 60 mm ($OR = 2,8$).
- McCarthy và cộng sự (2004): Nghiên cứu trên 790 bệnh nhân hở van ba lá từ vừa đến nặng, chứng minh kỹ thuật đặt vòng van cứng Carpentier hoặc vòng van mềm Cosgrove duy trì độ ổn định van theo thời gian tốt hơn hẳn phương pháp De Vega hoặc khâu dải màng ngoài tim.
- Nhóm tác giả Canada (2006): Theo dõi 702 bệnh nhân trong thời gian trung bình 5,9 ± 4,9 năm, xác định việc sửa van ba lá có đặt vòng van nhân tạo là yếu tố dự báo độc lập giúp gia tăng tỷ lệ sống còn dài hạn ($HR = 0,7; p = 0,03$).
- Groves và cộng sự (1990): Đánh giá chức năng gắng sức trên thảm lăn, chứng minh nhóm hở van ba lá nặng xuất hiện muộn có thời gian gắng sức, mức tiêu thụ oxy tối đa và ngưỡng yếm khí suy giảm rõ rệt so với nhóm không hở van ($p < 0,01$).
- Song và cộng sự (Hàn Quốc): Đánh giá 92 bệnh nhân hẹp van hai lá kèm hở van ba lá cơ năng nặng, chứng minh phẫu thuật van hai lá phối hợp sửa van ba lá mang lại tỷ lệ kiểm soát hở van (98%) và tỷ lệ sống còn không biến cố sau 7 năm (95 ± 3%) vượt trội so với nong van qua da đơn thuần.
- Tại Việt Nam, tác giả Hồ Huỳnh Quang Trí (2010) khảo sát 1037 bệnh nhân phẫu thuật van hai lá không kèm sửa van ba lá, ghi nhận tỷ lệ hở van ba lá nặng xuất hiện mới sau 73,9 tháng theo dõi là 10,7%. Đoàn Văn Phụng (2007) khảo sát kết quả chu phẫu ngắn hạn trên 64 bệnh nhân tạo hình van ba lá theo De Vega. Đoàn Quốc Hưng và cộng sự (2013) nghiên cứu trung hạn trên 234 bệnh nhân tại Bệnh viện Việt Đức trong thời gian theo dõi 26,48 ± 15,33 tháng. Văn Hùng Dũng nghiên cứu 221 bệnh nhân tổn thương ba van tim được sửa van ba lá bằng vòng Carpentier tại Viện Tim TP.HCM.
Vị trí của luận án: Luận án là công trình chuyên sâu tại Việt Nam tiến hành so sánh đối đầu trực tiếp kết quả theo dõi dài hạn (> 5 năm) giữa hai nhóm kỹ thuật sửa van ba lá có đặt vòng van nhân tạo và không đặt vòng van trên cỡ mẫu lớn (581 bệnh nhân) tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh, giải quyết khoảng trống dữ liệu về độ bền phẫu thuật và các yếu tố tiên lượng dài hạn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở sinh lý bệnh học tim mạch về tương tác thất phải - thất trái, cơ chế giãn vòng van ba lá thứ phát trong bệnh van hai lá hậu thấp, và lý thuyết tái cấu trúc hình học vòng van của Alain Carpentier. Tiêu chuẩn đánh giá mức độ thương tổn van và buồng tim trên siêu âm được áp dụng theo khuyến cáo của Hội Siêu âm tim Hoa Kỳ (ASE) và hướng dẫn thực hành của Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu thực hiện:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu (retrospective cohort study).
- Địa điểm và thời gian: Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh, thu thập dữ liệu phẫu thuật và tái khám từ năm 2000 đến năm 2012.
- Tiêu chuẩn chọn bệnh: Tất cả bệnh nhân được can thiệp phẫu thuật van ba lá theo kỹ thuật tạo hình có đặt vòng van hoặc không đặt vòng van đồng thời với phẫu thuật van hai lá.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Hở van ba lá do bệnh tim bẩm sinh hoặc bệnh Ebstein; bệnh nhân có hở van ba lá nhưng không được phẫu thuật van ba lá đồng thời; các trường hợp tử vong sớm trong giai đoạn chu phẫu.
- Cỡ mẫu: Tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể:
$$n = Z^2_{1-\alpha/2} \frac{p(1-p)}{d^2}$$
Với tỷ lệ ước tính hở van ba lá trong bệnh van hai lá theo y văn của Duran là $p = 0,5$, mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0,05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1,96$), khoảng sai số cho phép $d = 0,05$, cỡ mẫu tối thiểu tính được là 384 bệnh nhân. Cỡ mẫu thực tế thu thập được trong nghiên cứu là 581 bệnh nhân, vượt cỡ mẫu tối thiểu yêu cầu.
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Sử dụng bệnh án mẫu thống nhất trích xuất toàn bộ thông tin lâm sàng, cận lâm sàng trước mổ, thông số trong phẫu thuật, và diễn tiến lâm sàng cùng các chỉ số siêu âm tim tại các thời điểm tái khám sau mổ.
- Kỹ thuật siêu âm tim: Thực hiện trên hệ thống máy Kontron - Sigma 44 với đầu dò tần số 3,5 MHz và 5,0 MHz. Sử dụng phối hợp siêu âm 2D, M-mode, Doppler xung, Doppler liên tục và Doppler màu trên các mặt cắt chuẩn (cạnh ức trục dọc, cạnh ức trục ngang, 4 buồng và 5 buồng từ mỏm, dưới sườn). Các thông số định lượng chính bao gồm: diện tích dòng phụt ngược hở van ba lá trên Doppler màu, bề rộng vena contracta, bán kính vùng hội tụ dòng PISA, phổ Doppler liên tục, phổ dòng chảy tĩnh mạch gan, kích thước các buồng tim (nhĩ trái, nhĩ phải, thất trái cuối tâm thu/tâm trương, thất phải), phân suất tống máu thất trái (EF) và áp lực động mạch phổi tâm thu (PAPs).
- Phân loại kỹ thuật phẫu thuật:
- Nhóm sửa van ba lá có đặt vòng van: Sử dụng vòng van nhân tạo cứng hoặc bán cứng Carpentier, vòng van mềm Duran hoặc Cosgrove.
- Nhóm sửa van ba lá không đặt vòng van: Tạo hình theo phương pháp De Vega, De Vega cải biên, kỹ thuật Kay (làm biến đổi van ba lá thành van hai lá bằng khâu gấp nếp vòng van lá sau), hoặc khâu dải màng ngoài tim.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này trình bày toàn diện cơ sở giải phẫu học định khu của phức hợp van ba lá, phân tích chi tiết cơ chế bệnh sinh của hở van ba lá cơ năng và thực thể, các biểu hiện lâm sàng (dấu hiệu Carvallo, gan đập theo nhịp đập, sóng V tĩnh mạch cổ) và cận lâm sàng (điện tâm đồ, X-quang ngực, siêu âm tim 2D/Doppler/3D, thông tim chụp buồng thất). Chương tổng quan cũng phân tích các mốc chỉ định ngoại khoa, chi tiết các bước kỹ thuật tạo hình van ba lá (De Vega, Kay, Carpentier, Duran, Edwards MC3, thay van ba lá) và hệ thống hóa y văn trong nước và quốc tế.
| Mức độ hở van |
Tình trạng lá van và buồng tim |
Diện tích dòng phụt ngược (cm²) |
Bề rộng Vena contracta (cm) |
Bán kính PISA (cm) |
Phổ Doppler liên tục |
Phổ Doppler tĩnh mạch gan |
| Nhẹ |
Cấu trúc van bình thường; kích thước buồng tim bình thường |
< 5 |
Không xác định |
$\le 0,5$ |
Mờ, dạng parabol |
Sóng âm rõ trong thì tâm thu |
| Vừa |
Van bình thường hoặc bất thường nhẹ; buồng tim bình thường/giãn nhẹ |
5 – 10 |
$< 0,7$ |
0,6 – 0,9 |
Đậm, bờ viền thay đổi |
Giảm biên độ sóng âm thì tâm thu |
| Nặng |
Bất thường cấu trúc, sa lá van, đóng không kín; giãn tim phải và TMCD |
> 10 |
> 0,7 |
> 0,9 |
Đậm, dạng tam giác đỉnh sớm |
Đảo ngược dòng (sóng dương tâm thu) |
Bảng 1.1: Tiêu chuẩn phân độ nặng hở van ba lá theo Hội Siêu âm tim Hoa Kỳ (ASE) tổng hợp trong luận án
| Yếu tố nguy cơ |
Tỉ số chênh ($OR$) |
Khoảng tin cậy 95% ($95% CI$) |
Giá trị $p$ |
| Hở van ba lá mức độ vừa trước mổ |
3,9 |
1,5 – 9,7 |
0,004 |
| Rung nhĩ |
9,2 |
1,1 – 74,0 |
0,030 |
| Nhĩ trái giãn > 60 mm |
2,8 |
1,1 – 7,2 |
0,030 |
Bảng 1.4: Các yếu tố dự báo hở van ba lá nặng sau phẫu thuật van hai lá theo công trình của Matsuyama được luận án trích dẫn
| Chỉ số gắng sức (Thảm lăn) |
Nhóm hở van ba lá nặng ($n = 9$) |
Nhóm không hở van ($n = 9$) |
Giá trị $p$ |
| Thời gian gắng sức (phút) |
6,3 (5,0 – 10,7) |
12,7 (7,2 – 16,0) |
< 0,01 |
| Tiêu thụ oxy tối đa ($ml/phút/kg$) |
11,2 (7,3 – 17,8) |
17,7 (11,8 – 21,4) |
< 0,01 |
| Ngưỡng yếm khí ($ml/phút/kg$) |
8,3 (4,6 – 11,4) |
10,7 (7,3 – 15,5) |
< 0,05 |
Bảng 1.3: So sánh chỉ số gắng sức trên thảm lăn theo nghiên cứu của Groves được luận án tổng thuật
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thiết kế nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu trên 581 bệnh nhân (279 ca có đặt vòng van, 302 ca không đặt vòng van). Chương này xác lập tường minh tiêu chuẩn chọn mẫu, tiêu chuẩn loại trừ, công thức tính cỡ mẫu, quy trình thu thập số liệu lâm sàng và siêu âm tim tiền phẫu, phương pháp phẫu thuật tim hở với tuần hoàn ngoài cơ thể (THNCT), các bước kỹ thuật khâu tạo hình van ba lá (kỹ thuật De Vega, đặt vòng Carpentier/Duran), quy trình hồi sức - theo dõi sau mổ và phương pháp phân tích thống kê y học xử lý biến số.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Nội dung chương trình bày toàn bộ số liệu thu được từ quần thể nghiên cứu:
- Phân tích đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, X-quang tim phổi và siêu âm tim trước mổ của 581 bệnh nhân.
- Báo cáo tỷ lệ và nguyên nhân tử vong sớm chu phẫu, các biến chứng phẫu thuật và kết quả xử trí.
- Đánh giá kết quả theo dõi dọc trên 545 bệnh nhân còn lại sau phẫu thuật van hai lá (thay van nhân tạo cơ học/sinh học hoặc sửa van hai lá) theo thời gian.
- So sánh kết quả dài hạn giữa hai nhóm kỹ thuật can thiệp van ba lá: tỷ lệ tái hở van ba lá mức độ > 2+ theo thời gian, tỷ lệ bệnh nhân còn tăng áp lực động mạch phổi tâm thu (> 55 mmHg), mức độ cải thiện suy tim theo phân độ NYHA (tỷ lệ bệnh nhân có NYHA ≥ II), và tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng tim mạch nặng.
- Phân tích các chỉ số chức năng tim trên siêu âm ảnh hưởng đến độ bền phẫu thuật.
- Xác định các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng liên quan đến chỉ định lựa chọn kỹ thuật tạo hình có đặt vòng van và các yếu tố nguy cơ tiên lượng kết quả phẫu thuật thông qua phân tích tỷ số nguy cơ ($HR$).
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 tập trung phân tích, so sánh các phát hiện của luận án với các nghiên cứu trong và ngoài nước:
- Phân tích tính đại diện của quần thể nghiên cứu tại Viện Tim TP.HCM và tính chuẩn mực của các tiêu chuẩn siêu âm tim được sử dụng.
- Đánh giá hiệu quả huyết động và độ bền cấu trúc của kỹ thuật sửa van ba lá có đặt vòng van so với nhóm không đặt vòng van: làm rõ nguyên nhân nhóm không đặt vòng van có tỷ lệ tái hở van ba lá tiến triển cao hơn theo thời gian theo dõi dài hạn.
- Bàn luận về các yếu tố chi phối chỉ định phẫu thuật đặt vòng van nhân tạo (kích thước vòng van, mức độ hở van, áp lực động mạch phổi, dạng tổn thương van hai lá kết hợp).
- Đánh giá tác động tiêu cực của hở van ba lá nặng tồn lưu hoặc xuất hiện muộn đối với phân độ suy tim, khả năng hồi phục thất phải và dự hậu sống còn lâu dài của bệnh nhân.
- Đề xuất các căn cứ xác lập chỉ định can thiệp ngoại khoa van ba lá triệt để ngay trong thì mổ ban đầu của phẫu thuật van hai lá.
Kết quả và những đóng góp mới
Các kết quả và đóng góp mới của luận án được tổng hợp như sau:
- Về mặt dữ liệu thực tiễn: Công trình cung cấp hệ thống dữ liệu theo dõi dọc dài hạn quy mô lớn tại Việt Nam trên 581 bệnh nhân phẫu thuật van hai lá có phối hợp sửa van ba lá tại Viện Tim TP.HCM.
- Về mặt kỹ thuật ngoại khoa: Luận án chứng minh phương pháp tạo hình van ba lá có đặt vòng van nhân tạo mang lại kết quả dài hạn vượt trội so với kỹ thuật tạo hình không đặt vòng van, thể hiện qua việc giảm có ý nghĩa tỷ lệ tái hở van ba lá mức độ vừa và nặng (> 2+), giảm tỷ lệ tăng áp lực động mạch phổi tồn lưu (> 55 mmHg) và cải thiện bền vững phân độ suy tim NYHA sau mổ.
- Về mặt chỉ định can thiệp: Luận án xác lập các tiêu chí cụ thể về mặt lâm sàng và siêu âm tim (kích thước buồng nhĩ trái, mức độ giãn vòng van ba lá, áp lực động mạch phổi, rung nhĩ) làm căn cứ chỉ định can thiệp sửa van ba lá đồng thời với phẫu thuật van hai lá, giúp dự phòng tình trạng hở van ba lá nặng xuất hiện muộn sau mổ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế hồi cứu tại một trung tâm chuyên khoa phẫu thuật tim mạch (Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh), chất lượng và khoảng cách thời gian của một số biến số phụ thuộc vào lịch tái khám và mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần triển khai các nghiên cứu can thiệp tiến cứu ngẫu nhiên có nhóm chứng (RCT), ứng dụng các công nghệ hình ảnh chuyên sâu như siêu âm tim 3D thời gian thực và cộng hưởng từ tim (CMR) để khảo sát chính xác biến đổi hình học ba chiều của vòng van ba lá và chức năng thất phải sau tạo hình.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị cao cho các đối tượng sau:
- Phẫu thuật viên tim mạch và lồng ngực: Cung cấp bằng chứng thực chứng phục vụ lựa chọn kỹ thuật tạo hình van ba lá (đặt vòng van cứng, bán cứng, vòng mềm so với kỹ thuật De Vega/Kay) và chiến lược xử lý thương tổn van ba lá trong phẫu thuật van tim bên trái.
- Bác sĩ tim mạch nội khoa và bác sĩ siêu âm tim: Hỗ trợ khung tiêu chuẩn lượng giá chính xác độ nặng của hở van ba lá và phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ tiến triển hở van muộn sau mổ van hai lá.
- Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh: Tham khảo khung phương pháp luận nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu, quy trình thu thập số liệu phẫu thuật tim và mô hình phân tích thống kê sống còn trong ngoại khoa tim mạch.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định cỡ mẫu nghiên cứu dựa trên cơ sở nào và số lượng bệnh nhân thực tế là bao nhiêu?
Luận án áp dụng công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với mức ý nghĩa 5% ($\alpha = 0,05$, $Z = 1,96$), khoảng sai số $d = 0,05$, và tỷ lệ ước tính $p = 0,5$ (dựa trên y văn của Duran về tần suất hở van ba lá trong bệnh van hai lá từ 30% đến 50%), tính ra cỡ mẫu tối thiểu là 384 bệnh nhân. Dân số nghiên cứu thực tế thu thập được gồm 581 bệnh nhân (279 ca sửa van có đặt vòng van và 302 ca sửa van không đặt vòng van).
2. Kỹ thuật tạo hình van ba lá không đặt vòng van trong luận án bao gồm những phương pháp nào?
Nhóm không đặt vòng van bao gồm kỹ thuật khâu tạo hình vòng van theo phương pháp De Vega, De Vega cải biên, phương pháp Kay (khâu gấp nếp vòng van ở phần nền lá sau làm biến đổi van ba lá thành van hai lá), và phương pháp khâu dải màng ngoài tim gấp đôi.
3. Tiêu chí chỉ định sửa van ba lá của Dreyfus được luận án trích dẫn dựa trên các thông số nào?
Dreyfus khuyến cáo chỉ định tạo hình van ba lá đồng thời khi đường kính vòng van ba lá đo được trong lúc phẫu thuật $\ge 70\text{ mm}$, hoặc đo trên siêu âm tim trước mổ $\ge 35\text{ mm}$ (tương đương $> 21\text{ mm/m}^2$ diện tích da), bất kể mức độ hở van trước phẫu thuật.
4. Những yếu tố nào theo Matsuyama có giá trị dự báo hở van ba lá nặng xuất hiện trễ sau phẫu thuật van hai lá?
Theo phân tích đa biến của Matsuyama được luận án trích dẫn, ba yếu tố dự báo độc lập gồm: hở van ba lá mức độ vừa trước mổ ($OR = 3,9; 95% CI: 1,5 - 9,7; p = 0,004$), rung nhĩ ($OR = 9,2; 95% CI: 1,1 - 74,0; p = 0,03$) và nhĩ trái giãn $> 60\text{ mm}$ ($OR = 2,8; 95% CI: 1,1 - 7,2; p = 0,03$).
5. Thiết bị và các mặt cắt siêu âm tim chính được sử dụng để đánh giá bệnh nhân trong luận án là gì?
Nghiên cứu sử dụng máy siêu âm Kontron - Sigma 44 với đầu dò 3,5 MHz hoặc 5 MHz, thực hiện khảo sát trên các mặt cắt: cạnh ức trục dọc, cạnh ức trục ngang qua đáy tim/van hai lá, 4 buồng và 5 buồng từ mỏm, và mặt cắt dưới sườn, kết hợp siêu âm 2D, M-mode, Doppler xung, liên tục và màu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trương Nguyễn Hoài Linh là công trình nghiên cứu lâm sàng quy mô trên 581 bệnh nhân phẫu thuật sửa van ba lá phối hợp phẫu thuật bệnh van hai lá tại Viện Tim Thành phố Hồ Chí Minh. Bằng phương pháp nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu với thời gian theo dõi dài hạn, luận án đã làm rõ sự khác biệt về độ ổn định huyết động và tỷ lệ tái hở van giữa kỹ thuật tạo hình có đặt vòng van và không đặt vòng van nhân tạo. Các kết quả và phân tích nguy cơ trong luận án cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc xác lập chỉ định ngoại khoa và lựa chọn phương pháp can thiệp van ba lá đồng thời, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị toàn diện cho bệnh nhân mắc bệnh van tim bên trái.