Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. SƠ LƯỢC VỀ GÂY TÊ TỦY SỐNG 1. Giải phẫu, sinh lý liên quan GTTS Cột sống Cột sống là một cột xương từ mặt dưới xương chẩm đến hết xương cụt, cột sống bao bọc và bảo vệ tủy sống. Cột sống có từ 33 - 35 đốt sống xếp chồng lên nhau, gồm có 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống ngực và 5 đốt sống thắt lưng.
Năm đốt sống liên tiếp phía dưới dính lại tạo thành xương cùng và 4 - 6 đốt cuối cùng nhỏ dính lại tạo thành xương cụt. Hệ thống các dây chằng [16] Cột sống được gắn kết lại với nhau bởi các dây chằng chắc gồm: dây chằng trên gai, dây chằng liên gai, dây chằng dọc sau và dọc trước, dây chằng vàng. Tủy sống Chiếm 2/3 chiều dài ống tủy sống, khoảng 45 cm. Tủy sống được ba lớp màng bao bọc: Màng cứng: là một tổ chức xơ, bên trên giới hạn từ lỗ chẩm tới bên dưới ở khoang đốt sống cùng thứ hai, bên ngoài là khoang ngoài màng cứng cho tới màng xương, trong đó chứa mỡ, đám rối tĩnh mạch và các rễ thần kinh.
Màng nhện: là một màng mỏng và trong, gọi là màng mao mạch. Bình thường màng cứng và màng nhện dính sát vào nhau. Màng nuôi: là lớp trong cùng, bao quanh tủy sống. Khoang dưới màng cứng (DMC): từ phía ngoài màng nuôi đến phía trong màng nhện.
Trong khoang DMC chứa rễ thần kinh, dây chằng răng cưa 4 liên kết giữa màng nhện và màng nuôi. Khoang DMC thông với hệ thống não thất. Rễ thần kinh nằm trong khoang DMC không có lớp màng bao, do đó thuốc tê dễ ngấm vào. Các màng tủy gai và các rễ thần kinh (Nguồn Atlas Giải phẫu người) [14] 5 Dịch não tủy [16] Số lượng: khoảng 120 - 140 ml tức khoảng 2 ml/kg.
Tỷ trọng: thay đổi từ 1,003 - 1,010. Áp lực dịch não tủy: áp lực trung bình của dịch não tủy là 148 mmH2O, nó phụ thuộc vào các chỉ số sau: dòng máu ở động mạch cảnh; tổn thương do u não hoặc viêm; co bóp khi đẻ; thay đổi sinh lý do tư thế: khi nằm áp lực dịch não tủy đồng đều từ não xuống tủy sống, nhưng khi bệnh nhân ngồi, dịch não tủy dồn xuống dưới, khoang ngoài màng cứng hẹp lại và áp lực dịch não tủy tăng dần từ trên xuống dưới. Do vậy khi GTTS ở tư thế ngồi, thuốc tê rất khó lan lên cao. Gây tê tủy sống Gây tê tủy sống còn được gọi là gây tê dưới màng cứng, nhưng gọi chính xác là gây tê khoang dưới màng nhện.
Đó là một phương pháp gây tê vùng, được thực hiện bằng cách đưa một lượng thuốc tê thích hợp vào khoang dưới màng nhện, thuốc tê hoà vào dịch não tủy, sẽ tác dụng vào những rễ thần kinh gây nên mất cảm giác và liệt vận động. Dược động học của GTTS [16] Phân bố của thuốc tê tại chỗ trong dịch não tủy Sự phân bố thuốc tê trong dịch não tủy phụ thuộc vào: vị trí tiêm thuốc, tốc độ tiêm thuốc và sự trộn thuốc, tỷ trọng thuốc tê, thể tích dịch não tủy, phản ánh gián tiếp bằng áp lực của dịch não tủy. Sự hấp thu thuốc Tất cả các tổ chức của tủy đều ngấm thuốc tê. Thuốc tê ngấm vào các tổ chức nhờ ba đặc điểm: tổ chức dễ ngấm, tính tan trong mỡ của thuốc và lưu lượng máu tưới tổ chức đó.
6 Sự thải trừ thuốc ở tủy sống Thuốc tê được thải ra khỏi khoang dưới nhện bởi hai đường: ngấm ra khoang ngoài màng cứng và hấp thụ bởi các mạch máu. Ảnh hưởng của GTTS Thứ tự tác dụng phong bế hệ thần kinh: - Các sợi có chứa nhiều myelin: các sợi dẫn truyền cảm giác sờ và nhiệt độ, các sợi thần kinh giao cảm giàu synap. - Vận động giảm dần. - Sự phục hồi theo chiều ngược lại.
Hệ tim mạch Tác dụng chính là hạ huyết áp do phong bế sợi tiền hạch của rễ thần kinh đoạn đi qua vùng dưới màng cứng. Nguyên nhân gây hạ huyết áp: lưu lượng tim giảm do giảm lưu lượng máu chảy về tim, dãn cơ thắt sau mao mạch do phong bế đối giao cảm; phong bế đối giao cảm đến tuyến thượng thận do đó làm giảm lượng catecholamin trong máu; hấp thu thuốc tê vào mạch máu sau khi bơm thuốc tê vào khoang dưới màng cứng; thiếu máu và dưỡng khí cho các trung tâm sống. Hệ tiêu hóa Phong bế sợi tiền hạch của D5 - T1 gây ức chế nhu động ruột, nó không có tác dụng lên thực quản do dây thần kinh phế vị chi phối. Các cơ thắt thì dãn nhưng nhu động ruột vẫn còn.
Hệ niệu - sinh dục Trương lực niệu quản thay đổi không đáng kể, cơ thắt cổ bàng quang không dãn. Trương lực của cơ tử cung không thay đổi. 7 Tai biến và biến chứng của GTTS [2] Hạ huyết áp Là tai biến tim mạch hay gặp nhất khi GTTS. Ảnh hưởng hạ huyết áp ở GTTS gia tăng quá mức hơn ở thai phụ do: sự đè ép tĩnh mạch chủ gây ra bởi tử cung lớn khi mang thai, sợi thần kinh ở thai phụ cũng trở nên nhạy cảm hơn với thuốc tê, có lẽ do sự ngấm progesteron mạn tính thay cho protein tổng hợp ở mô thần kinh [4].
Đau đầu Nguyên nhân được cho là chính nhất là do kim gây tê chọc thủng màng cứng và màng nhện gây thoát dịch não tủy ra khoang ngoài màng cứng làm giảm áp lực dịch não tủy, mất cân bằng giữa áp lực động mạch và áp lực nội sọ dẫn đến tăng áp lực tưới máu, do đó phù não gây đau đầu. Đặc điểm của đau đầu là thay đổi theo tư thế: ngồi dậy nhanh gây đau vùng đỉnh và hai bên thái dương, nằm xuống hay để đầu thấp sẽ đỡ đau. Buồn nôn, nôn Trong GTTS, buồn nôn và nôn hầu như liên quan với hạ huyết áp. Những cơ chế giải thích cho sự buồn nôn trong GTTS là: thiếu oxy não, vô cảm không đầy đủ, phản xạ đối giao cảm liên quan đến sự lôi kéo quá mức do thao tác của phẫu thuật viên.
Bí tiểu Gặp ở thời gian sau mổ do hệ thống thần kinh điều khiển đi tiểu chưa được phục hồi trọn vẹn. GTTS toàn bộ Là một biến chứng nặng xảy ra khi bơm nhiều thuốc tê vào tủy sống hoặc gây tê ở quá cao. 8 Tổn thương thần kinh Các tổn thương thường được đề cập đến là: tổn thương chùm đuôi ngựa, viêm dày dính màng não tủy, viêm rễ thần kinh. DƯỢC LÝ CỦA MORPHIN 1.
Tính chất lý hóa [16] Morphin ít tan trong dầu; có gốc kiềm yếu; trọng lượng phân tử bằng 258 danton; pKa 7,9; tỷ lệ ion hóa là 79% ở pH 7,4. Morphin gắn cố định với protein huyết tương 30 - 35%, chủ yếu là albumin. Công thức hóa học của morphin (Nguồn Miller's Anesthesia Ebook) [24] 1. Tác dụng của các opioids ở tủy sống [16], [37] Từ 1976, các receptor của các thuốc dòng họ morphin đã được các tác giả lần lượt tìm ra.
Đến nay người ta đã phân loại được 5 loại thụ thể như sau: μ (mu), K (kappa), δ (delta), σ (sigma), Ε (epsoilon). Các đặc điểm của opioids trên tủy sống: - Cảm giác: ức chế các kích thích có cường độ cao đặc biệt là cảm giác đau và nhiệt, cảm giác sờ và cảm giác bản thể không bị ảnh hưởng. - Các xung động thần kinh tự động của các mạch máu không bị ảnh hưởng. - Ức chế các phản xạ đi tiểu qua ổ cảm thụ ở vùng cụt, trong khi đó chủ yếu μ, δ chứ không có K.
9 - Tác dụng ngoài tủy sống ức chế hô hấp do các nơ-ron ở hành tủy, ngứa do các trung tâm ở thân não. Trong đó người ta xác định có 3 nhóm thụ thể đóng vai trò giảm đau ở tủy sống: - μ/δ tác động trên kích thích nhiệt ở da. - μ/K tác động trên kích thích của tạng. - β endorphin tác động trên tủy sống thông qua receptor morphin μ.
Tác dụng dược lý [9] Tác dụng lên thần kinh trung ương: morphin có tác dụng giảm đau mạnh và chọn lọc. Tác dụng giảm đau phụ thuộc liều, liều càng cao, tác dụng giảm đau càng mạnh. Liều thấp morphin gây ngủ gà, mơ màng, gây sảng khoái, lạc quan, giảm lo âu. Liều cao, morphin ức chế thần kinh trung ương gây ngủ sâu, ức chế hô hấp, ngừng thở, mất cảm giác đau, nôn và buồn nôn.
Tác dụng lên hô hấp: gây ức chế hô hấp do tác dụng trực tiếp lên trung tâm hô hấp, cơ chế gây suy hô hấp của morphin là làm giảm sự nhạy cảm của trung tâm hô hấp với nồng độ CO2 tuy nhiên sự nhạy cảm với thiếu O2 vẫn còn. Tác dụng lên tim mạch: morphin ít ảnh hưởng lên huyết động với liều điều trị. Trong một số trường hợp, morphin có thể kích thích tiết histamin gây dãn mạch nhẹ và có thể giảm huyết áp ở tư thế đầu cao. Tác dụng lên hệ tiêu hóa: morphin gây giảm tiết dịch acid dạ dày, tăng trương lực cơ dạ dày, giảm nhu động ruột nên có thể gây liệt ruột sau mổ, gây tăng áp lực đường mật, co thắt cơ vòng Oddi.
Morphin gây nôn và buồn nôn do kích thích trung tâm nôn. Tác dụng lên hệ tiết niệu: làm tăng trương lực niệu quản, giảm số lượng nước tiểu và gây bí tiểu. 10 Tác dụng không mong muốn khác: ngứa da có thể điều trị với naloxon. Chỉ định và chống chỉ định Chỉ định: dùng để giảm đau sau mổ hoặc các bệnh đau mạn tính.
Tiền mê: dùng tiền mê cho các thủ thuật ngoại khoa, X-quang, đặt catheter gây đau… Gây mê: dùng để giảm đau trong mổ khi duy trì gây mê. Chống chỉ định tuyệt đối: hội chứng đau bụng cấp chưa rõ nguyên nhân, tăng nhạy cảm với morphin. Tương đối: hen phế quản, dị ứng, suy hô hấp, suy thận nặng, sốc chảy máu hoặc giảm thể tích, chấn thương sọ não, tăng áp lực nội sọ. Liều lượng [28] - Gây tê tủy sống: 0,1 - 0,3 mg/liều.
- Giảm đau ngoài màng cứng: 1 - 5 mg/liều. - Tiêm tĩnh mạch (cho người nặng 70 kg): liều tấn công 0,5 - 2,5 mg, liều duy trì 1 - 2 mg/giờ. SINH LÝ ĐAU Đau là một hiện tượng chủ quan đơn thuần, cảm nhận đau có thể rất khác nhau giữa những cá nhân. Đau là một yếu tố quan trọng của sự sinh tồn.
Nhờ biết đau mà con người có phản ứng theo phản xạ, để không tiếp tục bị chấn thương.