CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Tổng quan các công trình nghiên cứu được chia thành các nội dung: (1) Các nghiên cứu về KTQTCPMT; (2) Các nghiên cứu về tác động của KTQTCPMT đến HQTC của DN và (3) Khoảng trống nghiên cứu và các hướng nghiên cứu được thực hiện trong luận án. Các nghiên cứu về kế toán quản trị chi phí môi trường Nghiên cứu về KTQTCPMT đã có đạt một số kết quả nhất định, tác giả chia tổng quan các vấn đề nghiên cứu về KTQTCPMT làm hai phần: (1) Các nghiên cứu chung về KTQTCPMT và (2) Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện KTQTCPMT. Các nghiên cứu chung về kế toán quản trị chi phí môi trường Phần nghiên cứu chung về KTQTCPMT được tổng hợp theo hai nội dung là: (1) Các nghiên cứu hướng dẫn thực hiện KTQTCPMT và (2) Các nghiên cứu thực hiện KTQTCPMT. Các nghiên cứu hướng dẫn thực hiện KTQTCPMT Những nghiên cứu hướng dẫn thực hiện KTQTCPMT do nhiều tổ chức về MT và kế toán trên thế giới thực hiện, tiêu biểu phải kể đến như: Nghiên cứu của USEPA (1995), Gray và cộng sự (1996), UNDSD (2001), Burritt và cộng sự (2002), IFAC (2005).
Ở Việt Nam có nghiên cứu của Nguyễn Chí Quang (2003), Trọng Dương (2009), Phạm Đức Hiếu và Trần Thị Hồng Mai (2012), Lê Kim Ngọc (2013). Các nghiên cứu này tập trung trình bày những vấn đề chung về KTQTCPMT, phân loại CPMT, các phương pháp xác định CPMT, báo cáo và sử dụng thông tin CPMT. Các nghiên cứu về phân loại CPMT USEPA (1995), USEPA (2000) và UNDSD (2001) cùng quan điểm khi phân loại CPMT theo mức độ và phạm vi sử dụng thông tin, nghĩa là CPMT gồm CP bên trong và CP bên ngoài DN. Trong đó, CP bên trong DN có CP truyền thống, CP ẩn và CP tiềm tàng; CP bên ngoài DN liên quan đến CP bảo vệ MT, CP xã hội.
Trong hướng dẫn của mình, UNDSD (2001) đã đưa ra cách xác định CPMT theo dòng vật liệu, phân bổ CPMT theo hoạt động và lập các báo cáo CPMT trong DN. Burritt và cộng sự (2002) đã đề xuất một khuôn khổ toàn diện cung cấp các hướng dẫn cho nhà quản trị sử dụng các công cụ đa dạng của KTQTMT với mục đích khuyến khích việc áp dụng chúng vào hệ thống kế toán. Nguyễn Chí Quang (2003) đã đưa ra được các khái niệm, phân loại CPMT, tuy nhiên nghiên cứu chưa trình bày rõ về phương pháp xử lý và 6 cung cấp thông tin MT (TTMT) trên các báo cáo kế toán. Những hướng dẫn này đã tạo nên nền tảng cho các quốc gia để công bố các tài liệu giới thiệu KTQTCPMT trong các tổ chức như: “Hướng dẫn kế toán MT của Bộ MT Hàn Quốc, Nhật Bản và các quốc gia Đức, Malaysia, Banglades… Tại Việt Nam, tác giả Trọng Dương (2009) cũng đưa ra có bốn loại CP liên quan đến MT: CP xử lý chất thải, phòng ngừa và quản lý MT, giá trị thu mua các phế thải (giá trị phế thải được xác định theo giá trị thu mua) và CP xử lý phế thải.
Bên cạnh việc nhận diện các loại CPMT phát sinh, bài nghiên cứu cũng chỉ ra các khoản thu nhập liên quan đến MT bao gồm tiền trợ cấp và tiền thưởng, các khoản thu nhập khác từ việc bán phế liệu. Lê Kim Ngọc (2013) đã nghiên cứu hướng dẫn kế toán MT của Nhật Bản và đưa ra những giải pháp để áp dụng vào Việt Nam. Theo đó, CPMT được nhận diện thành bốn loại: CPMT trong quá trình hoạt động SXKD, CPMT trước và sau quá trình hoạt động SXKD, CP quản lý MT, CP cho các hoạt động xã hội về MT. Từ đó, tác giả cũng đề xuất hai mẫu báo cáo KTMT trong các DN Việt Nam là báo cáo về CPMT của DN và báo cáo lợi ích MT.
Các nghiên cứu về phương pháp xác định CPMT KTQT truyền thống tồn tại một số hạn chế về nhận thức liên quan đến cải thiện hoạt động thông qua quản trị CP đó là các CPMT đang được tập hợp vào tài khoản chung (UNDSD, 2001; Schaltegger & cộng sự, 2012). Hệ thống này không đưa ra được cái nhìn cụ thể về ảnh hưởng của MT và các CP liên quan mà tập trung vào hoạt động tài chính (Gray & cộng sự, 2001; IFAC, 2005), từ đó các thông tin không được cung cấp đầy đủ cho nhà quản trị để đưa ra các quyết định. Do đó, sự xuất hiện của KTQTCPMT đã lấp đầy khoảng trống của KTQT truyền thống (Niap, 2006). Nhận thức được CPMT giúp các DN đề ra các chiến lược để giảm các rủi ro về MT (Godschalk, 2008).
Vì vậy, CPMT là vấn đề được quan tâm rất lớn trong các nghiên cứu. Có nhiều phương pháp xác định CPMT được chỉ ra. Tổng kết lại có 6 phương pháp xác định CPMT là: (1) Kế toán CPMT theo phương pháp truyền thống (Trần Thị Hồng Mai, 2012), (2) Kế toán CPMT theo phương pháp đầy đủ (Epstein,1996b; Gray và cộng sự, 2001; Nguyễn Chí Quang, 2013), (3) Kế toán CPMT theo phương pháp toàn bộ (USEPA, 1995); (4) Kế toán CPMT theo dòng vật liệu (UNDSD, 2000; FEM, 2003; IFAC, 2005; Trần Thị Hồng Mai, 2012; Schaltegger và Buritt, 2017); (5) Kế toán CPMT theo mức độ hoạt động (Stuart và cộng sự, 1999), (6) Kế toán CPMT theo chu kỳ sống của sản phẩm (Parker, 2000; Trần Thị Hồng Mai, 2012; Schaltegger và Buritt, 2017). Trong đó các nghiên cứu phân loại theo nhóm (1), (2), (3) là nghiên cứu 7 thực hiện mục tiêu thẩm định các dự án đầu tư, còn các nghiên cứu theo nhóm (4), (5), (6) nhằm phục vụ mục tiêu phân tích CP.
Các nghiên cứu về báo cáo và sử dụng thông tin CPMT Theo Burritt và cộng sự (2002), KTQTCPMT được biểu hiện dưới cả hai thước đo là tiền tệ và hiện vật, nó cung cấp thông tin cho việc ra quyết định nội bộ trên cả hai khía cạnh là MT và HQTC thuộc phạm vi của KTQT. KTQTCPMT dưới thước đo hiện vật bao gồm các đánh giá và báo cáo của DN về dòng chảy của năng lượng, nước, vật liệu và chất thải. Bên cạnh đó, dưới thước đo tiền tệ, KTQTCPMT đề cập đến các CP mà DN chi trả cho việc tiêu thụ các nguồn tài nguyên thiên nhiên (nước, năng lượng), vật liệu và các CP khác mà DN trả cho việc kiểm soát hoặc ngăn chặn các thiệt hại về MT, CP cho việc xử lý các chất thải, khí thải. Vấn đề hướng dẫn về kế toán môi trường (KTMT) được Gray và cộng sự (1996) soạn thảo từ trách nhiệm giải trình.
Tư tưởng này cũng được trình bày trong các nghiên cứu của Sefcek và cộng sự (1997), Elkington (1997). Sefcek và cộng sự (1997) đã soạn thảo các hướng dẫn về KTMT từ quan điểm của các bên liên quan và trách nhiệm giải trình. Elkington (1997) biên soạn một cuốn sách dài hơn 400 trang, phác thảo tầm nhìn về tương lai của nền kinh tế công nghiệp ở các nước phương Tây. Tài liệu thâm nhập vào tất cả các khía cạnh của hoạt động kinh doanh bao gồm: công nghệ, vòng đời, đổi mới quản trị nội bộ, hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ, tuân thủ các quy định và trách nhiệm giải trình.
Theo nghiên cứu, khi thực hiện tất cả các hướng dẫn được nêu, các tập đoàn sẽ tồn tại và PTBV. Bởi, khi CPMT được tập hợp đầy đủ, DN sẽ cung cấp được thông tin đầy đủ hơn điều này đáp ứng sự mong đợi của các bên liên quan (khách hàng, cổ đông,.) và yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt hơn của pháp luật và xã hội. Từ đó, giúp DN PTBV trong tương lai (Godschalk, 2008). KTQTCPMT đang trở thành một đề tài thu hút được sự chú ý ngày càng lớn với các tổ chức quốc tế cũng như ở Việt Nam vì vậy các nghiên cứu về KTQTCPMT đang được quan tâm.
Vai trò của KTQTCPMT trong DN, đặc biệt là các DNSX đã được xác định, do vậy những nỗ lực để thúc đẩy thực hành KTQTCPMT đang tập trung vào việc phát triển những kỹ thuật giúp xác định CPMT nhằm gia tăng hiệu quả kinh doanh, HQTC trong DN, hướng tới PTBV. Các nghiên cứu thực hiện kế toán quản trị chi phí môi trường Bên cạnh các nghiên cứu về lý thuyết, những nghiên cứu theo hướng thực hành KTQTCPMT ở các phạm vi khác nhau cũng được triển khai. Từ diện rộng ở quy mô quốc gia, nhiều ngành (Deegan và cộng sự, 1995; Brown và Deegan, 1998; Bartolomeo và cộng sự, 2000; Burritt và cộng sự, 2002; Nguyễn Thị Hằng Nga, 8 2018a; Nguyễn Thị Hằng Nga, 2018b) đến các nghiên cứu được thực hiện trong từng ngành nghề cụ thể (Masanet-Llodra, 2006; Lê Thị Tâm & Phạm Thị Bích Chi, 2016; Nguyễn Thị Nga, 2016; Trần Anh Quang, 2019). Tác động MT, CPMT lớn, cũng như sự thất bại của các hệ thống kế toán thông thường trong việc báo cáo thông tin kế toán cần thiết để giảm các tác động đến MT, giảm CPMT, đã dẫn đến sự xuất hiện của KTQTCPMT (Ferreira và cộng sự, 2010).
Khi chính phủ trên toàn cầu chú trọng hơn vào các vấn đề môi trường. Mặc dù nhận thức MT và thái độ 'xanh' trong khu vực DN ngày càng tăng nhưng mức độ thực hiện hoạt động bảo vệ MT hay khắc phục MT là thấp (Gadenne D. và cộng sự, 2002). Chiến lược MT và hoạt động MT của DN cho thấy có sự không phù hợp, một công ty có thể cam kết cao về MT trong khi chưa chuyển thành hành động thực tế.
Theo khảo sát được tiến hành bởi Hiệp hội KTQT công chứng Anh Quốc (CIMA) vào năm 2009, cho thấy KTQTCPMT là công cụ kế toán ít được sử dụng và nó chỉ được sử dụng tại DN qui mô lớn, do phải thực hiện chặt chẽ các qui định như lượng khí thải carbon, chương trình mua bán chất thải. Bên cạnh đó, KTQT tại DN không thay đổi hoặc có nhưng chậm hơn dự kiến bất chấp những thay đổi về MT. Và thay đổi hệ thống KTQT thông qua việc thực hiện một hệ thống mới phải đối mặt với sự phản đối trong nội bộ các DN này. KTQTCPMT nhận được nhiều sự quan tâm khi các sự cố môi trường tạo ra hậu quả tài chính đáng kể cho các tổ chức khác nhau cần được quản lý, thực tiễn KTQTCPMT ở các nước phát triển đã cải thiện nhằm quản lý các vấn đề về MT.
USEPA và Viện Tellus là những tổ chức áp dụng KTQTCPMT đầu tiên và áp dụng trong một số tổ chức công nghiệp để chứng minh lợi ích của nó (USEPA, 1995). Trong các nghiên cứu (NC) về lợi ích của KTQTCPMT và đề xuất nó cho các công ty có nhiều NC xuất phát từ Mỹ và Vương quốc Anh. Các nước phát triển đạt được bước tiến trong việc thúc đẩy KTQTCPMT.