Luận văn nghiên cứu thực trạng và kiến thức thái độ thực hành về kế hoạch hoá gia đình của người mù quận cầu giấy hà nội năm 1998

Tài liệu nghiên cứu Luận văn nghiên cứu thực trạng và kiến thức thái độ thực hành về kế hoạch hoá gia đình của người mù, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Cán Bộ Quản Lý Y Tế

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án thạc sĩ

1998

84
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình dân số kế hoạch hoá gia đình trên thế giới

1.2. Tình hình phát triển dân số và thực hiện kế hoạch hoá gia đình ở Việt Nam

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng tới mức sinh

1.4. Hiểu biết và sử dụng các biện pháp tránh thai

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Mục tiêu chung

2.3. Mục tiêu cụ thể

2.4. Đối tượng nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Phương pháp chọn mẫu

2.5.2. Xử lý số liệu

2.6. Kết quả mong đợi

2.7. Một số khó khăn và hạn chế của nghiên cứu

2.8. Một số cân nhắc về mặt đạo đức

2.9. Những đóng góp của nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả nghiên cứu định lượng

3.2. Thông tin chung về người mù

3.3. Hiểu biết của người mù về kế hoạch hoá gia đình

3.4. Tình hình thực hiện các biện pháp tránh thai kế hoạch hoá gia đình

3.4.1. Hoạt động tuyên truyền giáo dục các biện pháp tránh thai kế hoạch hoá gia đình

3.4.2. Những khó khăn và mong muốn của người mù đối với công tác kế hoạch hoá gia đình

3.4.3. Tình hình nạo hút thai của người mù

3.4.4. Hoạt động của chính quyền địa phương

3.4.5. Kết quả thảo luận nhóm trọng tâm

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu kế hoạch hóa gia đình cho người mù tại quận Cầu Giấy Hà Nội năm 1998

Nghiên cứu về kế hoạch hóa gia đình cho người mù tại quận Cầu Giấy, Hà Nội năm 1998 nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng và nhận thức của người mù về các biện pháp tránh thai. Nghiên cứu này được thực hiện trong bối cảnh dân số Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng, và việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình trở thành một yêu cầu cấp thiết. Đặc biệt, người mù là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, cần được tiếp cận thông tin và dịch vụ y tế một cách hiệu quả.

1.1. Tình hình dân số và kế hoạch hóa gia đình tại Việt Nam năm 1998

Năm 1998, tỷ lệ sinh tại Việt Nam đã giảm đáng kể, từ 30,1%0 xuống còn 22,8%0. Tuy nhiên, việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình cho người mù vẫn còn nhiều hạn chế. Số liệu cho thấy, người mù gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin và dịch vụ y tế, dẫn đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai không hiệu quả.

1.2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào người mù tại quận Cầu Giấy, với phương pháp khảo sát định lượng và định tính. Các câu hỏi được thiết kế để đánh giá hiểu biết, thái độ và thực hành về kế hoạch hóa gia đình của người mù. Kết quả sẽ giúp xác định những rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ y tế.

II. Vấn đề và thách thức trong kế hoạch hóa gia đình cho người mù

Người mù thường gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thông tin về kế hoạch hóa gia đình. Họ không thể nhận biết thông tin qua hình ảnh, dẫn đến việc thiếu hiểu biết về các biện pháp tránh thai. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản mà còn tác động đến chất lượng cuộc sống của họ.

2.1. Thiếu thông tin và giáo dục sức khỏe sinh sản

Người mù thường không được tiếp cận các chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản. Việc thiếu thông tin này dẫn đến sự thiếu hiểu biết về các biện pháp tránh thai, làm tăng nguy cơ mang thai ngoài ý muốn và nạo phá thai.

2.2. Rào cản trong việc sử dụng dịch vụ y tế

Nhiều người mù không biết cách tiếp cận dịch vụ y tế do thiếu thông tin và hỗ trợ. Các dịch vụ y tế hiện tại không được thiết kế để phục vụ cho người mù, dẫn đến việc họ không thể sử dụng các biện pháp tránh thai một cách hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu hiệu quả cho kế hoạch hóa gia đình

Để nâng cao hiệu quả của kế hoạch hóa gia đình cho người mù, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp. Việc sử dụng các công cụ truyền thông đặc biệt như chữ nổi và băng ghi âm có thể giúp người mù tiếp cận thông tin một cách dễ dàng hơn.

3.1. Sử dụng công nghệ thông tin trong giáo dục sức khỏe

Công nghệ thông tin có thể được sử dụng để phát triển các chương trình giáo dục sức khỏe cho người mù. Việc tạo ra các tài liệu giáo dục bằng chữ nổi và âm thanh sẽ giúp họ dễ dàng tiếp cận thông tin cần thiết.

3.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Cộng đồng cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động tuyên truyền về kế hoạch hóa gia đình. Sự hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ và chính quyền địa phương sẽ giúp nâng cao nhận thức và tạo điều kiện cho người mù tiếp cận dịch vụ y tế.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng người mù tại quận Cầu Giấy có hiểu biết hạn chế về kế hoạch hóa gia đình. Tuy nhiên, khi được cung cấp thông tin đầy đủ và dễ tiếp cận, họ có thể áp dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả hơn.

4.1. Kết quả khảo sát về hiểu biết của người mù

Khảo sát cho thấy chỉ có 30% người mù biết đến các biện pháp tránh thai hiện đại. Điều này cho thấy cần có sự can thiệp kịp thời để nâng cao nhận thức của họ về sức khỏe sinh sản.

4.2. Đề xuất giải pháp cải thiện dịch vụ y tế

Cần thiết lập các dịch vụ y tế thân thiện với người mù, bao gồm việc đào tạo nhân viên y tế về cách giao tiếp và cung cấp thông tin cho người mù. Điều này sẽ giúp họ tiếp cận dịch vụ một cách dễ dàng hơn.

V. Kết luận và tương lai của kế hoạch hóa gia đình cho người mù

Nghiên cứu về kế hoạch hóa gia đình cho người mù tại quận Cầu Giấy đã chỉ ra rằng việc nâng cao nhận thức và cải thiện dịch vụ y tế là rất cần thiết. Tương lai của kế hoạch hóa gia đình cho người mù phụ thuộc vào sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng.

5.1. Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe

Giáo dục sức khỏe là yếu tố quan trọng giúp người mù hiểu rõ hơn về kế hoạch hóa gia đình. Cần có các chương trình giáo dục phù hợp để nâng cao nhận thức của họ.

5.2. Hướng đi mới cho chính sách y tế

Chính sách y tế cần được điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu của người mù. Việc phát triển các dịch vụ y tế đặc thù sẽ giúp họ tiếp cận thông tin và dịch vụ một cách hiệu quả hơn.

14/07/2025
Luận văn nghiên cứu thực trạng và kiến thức thái độ thực hành về kế hoạch hoá gia đình của người mù quận cầu giấy hà nội năm 1998

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình dân sô' kê' hoạch hoá gia đình trên thê giới: * Dân số thê giới tăng trưởng ngày một nhanh, thời gian đẻ thêm I tỷ người ngày càng rút ngắn. Tỷ suất phát triển dân sô' hàng nãm cũng ngày một tăng lên: 0,5% vào năm 1850, 1,78% vào giai đoạn từ nãm 1950 đến 1955 và 2,04% vào giai đoạn 1965 đến 1970. Hiện nay là 1,57% vào giai đoạn 1990 đến 1995.

Theo dự báo cua Liên Hợp Quốc vào những năm tới tỷ suất phát triển dân số thê giới sẽ tiếp tục giảm xuống [24, 7]. Theo ước tính thì 4000 năm trước công nguyên dân sô thế giới khoảng 270 đến 330 triệu người. Vào năm 1820 dân sô' thê' giới đạt 1 tý người và lừ dó dân sô tiếp tục tăng lên nhanh chóng. Nhưng vào thê kỷ 20 tốc độ gia tăng dân sô' chưa từng thấy [3, 7- 58], [5]: Năm Sô' dân ( triệu người) Khoảng cách Trước công nguyên 250-330 1820 1.

3 Theo Trần Đáng " Dân số thế giới ở mức 5.5 tỷ người, tăng khoảng 3 ng ười m ỗi giây, một phần tư triệu người mỗi ngày, 90-100 triệu người mỗi nám, tạo nên s ự kiện "Bùng nổ dân sô'" làm cho các nhà hoại động quốc gia và xà h ội h ết s ức lo l ắng tìm m ọi cách để giảm bớt sự gia tăng dân số quá nhanh [5], Sự phân bố dân cư không đều giữa các khu vực quá nửa dân số tập chung ở các vĩ độ ôn đởi, quá nửa dân số tập chung ở các miền đất cao không quá 200m so với mặt biển, mà những vùng đất này chỉ chiếm một phần tư diện tích của trái đ ất. Do s ự phân bô không đều nên mật độ dân sô cúng thay dổi nhiều từ vùng này qua vùng khác. Năm 1981 mật độ dân số thế giới là 33 người/1 km2. Nhưng các nước khu vực Đông Á, Nam Á, Tây Âu, Nam Âu.

Miền Duyên Hâi Đại Tây Dương mật độ dân số từ 100 đến 200 người trên I km2, thậm trí có nơi 400 đên 500 người trên I km2 [24, 8]. Sự gia tăng dân số không đồng đều ở các khu vực khác nhau trên thô giới: Châu Á luôn có dân số hơn một nửa dân số thế giới, vào thập kỷ 80 tỷ l ộ phát tri ển dân s ố là 1,8% và hàng năm Châu Á có thêm 46 triệu người. Khu v ực Đông Nam Á có t ỷ l ệ phát triển dan sớ là 1,8%, trong khu vực Nam Á là 2,7% (thời kỳ 1965-1970). Châu Mỹ la tinh có tốc độ phát triển dân sô nhanh nhất thê' giới, nhất là sau đại chiến thô' giới thứ 2, chủ yếu do mức sinh quá cao: tỷ suất sinh 34%O, tỷ suất tử 8%o, tỷ lệ phát triển dan sô 2,6%.

Châu Phi có tỷ lệ sinh và tử cao nhất thế giới, vào thập kỷ 80 tỷ suất sinh 46%O, tử 17%0, tỷ lê phát triển dân sô' 2,9% [24, 12-13]. Trong 40 năm qua tốc độ phát triển dân số đạt mức cao nhất ở Châu Phi 2.86 lần và thấp nhất ở Châu Âu 1. Sự phát triển dân sô không đều này làm thay đổi cán can dân sổ giữa các chau lục. Người Châu Phi từ chỗ chiêm chưa đến 9% dan số thế giới vào năm 1990 và sẽ đạt tới 19% vào năm 2025 [4].

Sự gia tăng dân số chủ yếu ở Châu Phi và Chau Á [48, 5-11]. 4 Sự gia tăng dân sô' ở 2 nhóm nước phát triển và đang phát triển: Khu vưc Dân sô (Triộu người) Tốc độ phát triển (lần) (1950-1990) 1950 1990 2025 Các nước phát triển 831.45 Các nước đang phát triển 1683,8 4.43 Sự gia tăng dân số ở các nước đang phát triển gấp đôi ở các nước phát triển. Hiện nay cứ 100 cháu bé ra đời thì 87 cháu ở các nước nghèo, 13 cháu ở nước giàu, c ứ 100 cháu chết thì 79 cháu ở nước nghèo và 21 cháu ở nước giầu [53], [27, 11]. Nhu cầu đặt ra ở đây là giảm tớc độ phát triển dân sô' thông qua giảm sinh và thực hiên các bi ện pháp tránh thai kế hoạch hoá gia đình, giảm nạo hút thai, nâng cao ch ất l ượng cu ộc sống cho người dân.

* Tinh hình nạo phá thai trôn thế giới: Hội nghị quốc tế về dân sô và phát triển ở Cairo thủ đô nước Ai cập năm 1994 nêu rằng: “ Trong bất cứ trường hợp nào cũng không được coi nạo phá thai là một biên pháp kê' hoạch hoá gia đình. Tư vấn sau nạo thai, giáo dục và dịch vụ kế hoạch hoá gia dinh cần được làm thường xuyên để tránh nạo phá thai nhiều lần” [16]. Hội nghị về sức khoẻ sinh sản tổ chức tại Trung quốc năm 1996 và Hội thảo vê sức khoẻ phụ nữ khu vực Đông Nam Á tại Malaisia tháng 6 năm 1998 cũng đ ể cập đến tình trạng nạo hút thai. Tổ chức y tê' thế giới ước lượng khoảng 20 triệu trường hựp nạo phá thai không an toàn hàng năm hay cứ 7 lần sinh thì có 1 trường hợp nạo phá thai không an toàn.000 phụ nữ chết do nạo phá thai không an toàn.

Mặt khác nạo phấ thai còn để lại hậu quả có thể làm đau xương chậu kinh niên, viêm nhiễm tiểu khung, tắc vòi trứng, vô sinh thứ phát, tăng nguy cơ sẩy thai ở các lần cố thai sau này [03, 9-14], [20, 5, 79]. Sô' trường hợp nạo phá thai hợp pháp trên thế giới năm 1997 là 28 triệu, sô nạo 5 phá thai lén lút khoảng 15 triệu. Như vây có khoảng 36-53 triệu trường hợp nạo phá thai hàng năm, tỷ suất nạo phá thai là 32-48 trường hợp trên 100.000 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ. Tỷ suất nạo phá thai của một sô nước trôn thê giới: Trung Quốc (1987): 38,8%O, Cu Ba ( 1988): 58,0%o, Nam Tư (1984): 70,5%o, Việt nam (1980): 14,6%O, Ấn Độ (1987): 3,0%o, Liên Xô (1987): 1 11,9%O, Rumani (1983): 90,9%o [50, 76-89].

Hàng năm tại khu vực Đông Nam Á có 4.2 triệu trường hợp nạo phá thai, cao nhất là Việt Nam và Indonesia khoảng 1,2 dến 1,5 triệu mỗi năm [51, 59]. Như vậy việc áp dụng các biện pháp tránh thai lại càng cần thiết nhằm giảm bớt tỷ lệ nạo phá thai, giảm bớt gánh nặng về thai nghén cho người phụ nữ. Theo Liên đoàn kế hoạch hoá gia đình thế giới thì hàng năm có từ 30- 50% c ủa tổng số tử vong mẹ là do nạo phá thai không an toàn gây ra và 99% những trường hợp đó xẩy ra ở các nước đang phát triển. Do vây việc tuyên truyền vận động thực hiện kế hoạch hoá gia đình góp phần giảtn sinh, hạn chê nạo phá thai là hết sức cần thiết, về mặt toàn cầu để đáp ứng những gì dược coi là chưa được đáp ứng trong kế hoạch hoá gia đình đòi hỏi sẽ phải tăng con số khoảng 300 triệu người đang sử dụng các biên pháp tránh thai hiện nay lên 500 triệu người vào năm 2000 [14, 9].

* Thực trạng việc sử dụng các biện pháp tránh thai trên thê gi ới và m ột s ố khu vực [24]: CPR Hiện đại Không hiện dạ Thế giới năm 1994 57,0 49,0 8,0 Các nước phát triển nám 1994 72,0 50,0 22,0 Các nước đang phát triển năm 1990 53,0 48,0 5,0 Châu Á Thái Bình Dương năm 1994 58,0 53,0 5,0 (CPR: Tỷ lệ sử dụng biên pháp tránh thai) Đó là những số liệu chung của cả cộng đổng trên thế giới và một số khu vực trên thế giới còn những nghiên cứu về việc thực hiện các biện pháp tránh 6 thai kê' hoạch hoá gia đình của người mù chúng tôi chỉ tìm thấy có một nghiên cứu tổng kết đúc lút kinh nghiệm 10 năm thực hiện tuyên ngôn Alma Ata: Nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng trong việc phòng tránh mù loà của Mmbaga B. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng: Các quan chức chính phủ, các tổ chức phi chính phủ phải được giáo dục rộng rãi làm thế nào để "Sức khoẻ" của mắt được tốt và kiểm soát những bệnh về mắt và giáo dục kê hoạch hoá gia đình là một mênh lênh, việc dập chữ nổi lên bao gói càn dirực xem xét. Những người mù thì hoạt động tình dục, khả năng tình dục không có gì khác người bình thường trừ những người mù do dái đường. Trong tư vân cho người mù về tránh thai quan trọng nhất là những thuốc tránh thai dạng uống dược dùng theo chỉ dẫn như thế nào và nhận biết được các gói thuốc là thiết yếu.

Chữ nổi là phương tiện truyền thông cho 20% người mù, sô còn lại dùng băng cát sét ghi âm [52]. Tình hình phát triển dán số và thực hiện kế hoạch hoá gia dinh ở Việt Nam: Vào thế kỷ thứ 1 dân số nước ta khoảng 1 triệu người (Tài liệu của nhà Đông Hán). Đến thế kỷ thứ 19 dưới thời phong kiến nhà Nguyễn 1802-1819 khoảng 4.000 người, 1820-1840 khoảng 5.000 người, 1843-1848 khoảng 7. Các sô liệu dân số Việt Nam từ thê kỷ I đến thố ký 19 nói chung đứt quãng, nhưng thời kỳ này dân sô Việt nam tăng trưởng lừ 1 triệu đến hơn 7 triệu người [24].

Dân số Việt nam thời kỳ pháp thuộc: Theo tài liệu của cuộc diều tra nhân khẩu học toàn Đông Dương ngày 14 tháng 2 năm 1921 thì dân số Việt Nam là 15.000 người trong đó Bắc kỳ 6.000 người, Trung kỳ 4.000 người, Nam kỳ 3. Thời kỳ này tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên của nước ta từ 1-1. 7 Dân số Việt nam từ năm 1945 đến nay [24, 13-16]: Năm Tổng dân số (Triệu người) Tỷ lệ tăng dân sô hàng năm (%) 1921 15,584 1926 17,100 1,86 1931 17,702 0,69 ■ 1936 18,972 1,39 1939 19,600 1,09 1943 22,150 3,06 1951 23,061 0,50 1954 23,835 1,10 1960 30,172 3,93 1965 31,929 2,93 1970 41,063 3,24 1976 49,160 3,00 1979(1/10) 52,742 2,16 1989(1/4) 64,412 2,10 1993(1/4) 70,642 2,30 1996(1/10) 75,355 - Nước ta do những biến động về kinh tê chính trị xã hội và do tấc dộng của chiến tranh nên sự phát triển dân số diễn ra không bình thường. Để xem xét những biến động về dân số ở Viột Nam có thể phân ra 2 thời kỳ lớn: - Thời kỳ giữa thế kỷ 20 trở vể trước: Tỷ suất gia tăng dân số ở nước ta th ấp d ưới 2% [4], [13, 1-3].

- Thời kỳ nửa sau thế kỷ 20: Dân số Việt Nam tăng nhanh có nh ững th ời kỳ tăng quá nhanh như giai đoạn 1954-1960, tỷ suất tăng dân sô bình quân là 3,9%, từ 1960-1985 trong vòng 25 năm dân sô nước ta tăng gấp đôi từ 30 triệu tăng lên 60 triệu người [12, 5- 8], 8 Dân số tăng nhanh chúng ta sẽ đứng trước những thử thách lớn vê lương thực, thực phẩm, nhà ở học hành .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu về kế hoạch hóa gia đình cho người mù tại quận Cầu Giấy, Hà Nội năm 1998" cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thách thức và nhu cầu đặc thù của người mù trong việc tiếp cận thông tin và dịch vụ kế hoạch hóa gia đình. Nghiên cứu này không chỉ nêu bật tầm quan trọng của việc giáo dục và nâng cao nhận thức về sức khỏe sinh sản cho nhóm đối tượng này, mà còn chỉ ra những biện pháp cần thiết để cải thiện dịch vụ hỗ trợ. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ hơn về kế hoạch hóa gia đình cho người mù không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của họ mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ 15-49 tuổi có chồng tại xã Hữu Hòa, Thanh Trì, Hà Nội năm 2011. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin về tình hình sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản trong cộng đồng.