CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan một số lý luận về huy động nguồn lực 1. Cộng đồng và nguồn lực cộng đồng 1.
Cộng đồng Trong đời sống, khái niệm cộng đồng được sử dụng một cách rộng rãi để chỉ mối quan hệ và tương tác giữa các cá nhân trong những nhóm người khác nhau. Đó chính là những đặc thù mang tính tập thể trong tất cả lĩnh vực đời sống và hoạt động xã hội có những đặc điểm tương đối khác nhau. Cộng đồng có thể chung cho tất cả mọi người, ví dụ cộng đồng nhân loại, hoặc cộng đồng dân tộc. Tuy nhiên cộng đồng cũng có thể rất cụ thể cho các đơn vị xã hội cơ bản như gia đình, làng, xã hay một nhóm xã hội nào đó có những đặc tính xã hội chung về lý tưởng, lứa tuổi, giới, nghề nghiệp,vv… Cộng đồng bao gồm hai loại hình cơ bản sau: 1) Cộng đồng địa lý: Bao gồm những cộng đồng cư trú trong cùng một địa bàn với các đặc điểm xã hội đồng nhất và có một mối quan hệ ràng buộc với nhau.
Họ cùng được áp dụng chính sách chung; 2) Cộng đồng chức năng: Gồm những gồm người có thể cư trú gần nhau hoặc không gần nhau nhưng có lợi ích chung. Họ liên kết với nhau trên cơ sở nghề nghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội có tổ chức. [15] Theo từ điển tiếng Việt giải thích: "cộng đồng là toàn thể những người sống thành một xã hội, nói chung có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối". Hiểu một cách đơn giản, cộng đồng là một nhóm người có cùng những đặc điểm chung, ví dụ: đặc quyền, đặc lợi, sống với nhau, cùng chia sẻ tài nguyên và lợi ích chung,.
Theo Tô Duy Hợp và cộng sự (2000), cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẽ và chịu sự ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên. Các đặc điểm và lợi ích chung đó rất đa dạng. Đó là những đặc điểm về kinh tế, xã hội, nhân văn, môi trường, huyết thống, tổ chức, vùng địa lý hoặc các khía cạnh về tâm lý, mối quan tâm và quan điểm. Ví dụ, khi ta nói: cộng đồng người Việt Nam thì đặc điểm chung đó là “người Việt”.
Khi ta nói cộng đồng hưởng lợi của một dự án thì cộng đồng này bao gồm những người cùng chia sẽ những lợi ích nhất định từ dự án đó. Cộng đồng có quy mô rất khác nhau tùy theo các đặc trưng chung được xác định. Trong các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội cộng đồng có thể là một nhóm người cùng sống với nhau trong một khu vực địa lý cụ thể. Họ cũng có thể có đặc điểm chung về tâm lý, nhu cầu sử dụng các tài nguyên và các tương tác trao đổi thường xuyên để đạt được các mục đích chung của họ.
Ví dụ, cộng đồng làng xã nông thôn, khu dân cư đô thị, cộng đồng dân tộc thiểu số… là những PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 cộng đồng có cùng khu vực địa lý. Đây cũng là đơn vị cộng đồng mục tiêu trong nghiên cứu và phát triển.[15] Tuy vậy, cộng đồng cũng có thể là những nhóm người từ các khu vực địa lý khác nhau nhưng có các đặc điểm chung về kinh tế, xã hội, nhân văn, môi trường, huyết thống, tổ chức mối quan tâm và quan điểm… Khái niệm cộng đồng cung cấp một phương thức tiếp cận các cộng đồng mục tiêu trong các chương trình phát triển kinh tế xã hội và xóa đói giảm nghèo. Ví dụ, một chương trình PTNT không thể hoạt động ở tất cả các vùng nông thôn rộng lớn mà cần phải xác định được cộng đồng mục tiêu về địa lý và đối tượng. Khi một cộng đồng mục tiêu về địa lý đã được xác định, ví dụ thôn, xã, huyện, tỉnh và vùng thì câu hỏi đặt ra là ai là thành viên của cộng đồng mục tiêu theo đối tượng và các tiêu chí khác, ví dụ hộ nghèo hay phụ nữ.
Có phải tất cả các hộ trong thôn là đối tượng tham gia chương trình và là đối tượng hưởng lợi của chương trình? Thông thường các tiêu chí khác nhau được áp dụng một cách phối hợp. Các tiêu chí chính thường dùng là các phương thức sinh kế (nông nghiệp, nghề nghiệp), địa bàn cư trú và ranh giới hành chính. Như vậy tùy theo tiêu chí đặt ra mà cộng đồng cụ thể được xác định. Các tiêu chí thường dùng để xác định và tiếp cận cộng đồng mục tiêu của các chương trình phát triển kinh tế xã hội, ví dụ của một chương trình PTNT, gồm: - Con người: dân cư hay một nhóm người có mối quan hệ qua lại riêng biệt do họ có những mối quan tâm chung nhằm đáp ứng nhu cầu chung của họ.
- Lãnh thổ địa lý: khu vực không gian mà con người sinh sống, có thể là làng, xã, huyện, tỉnh… trong một khu vực địa lý nhất định. - Lãnh thổ tâm lý: Khu vực, xét về đặc điểm tâm lý, mà con người sống ở làng, xã, huyện, tỉnh… là lãnh thổ thuộc về hộ, ví dụ quê quán. - Tương tác và cấu trúc xã hội: Là mối quan hệ trong đó hành động người này có ý nghĩa đến người khác theo thể chế cụ thể. - Ràng buộc và thể chế: Con người có văn hóa, chuẩn mực, niềm tin, truyền thống chung trong các hoạt động hàng ngày.
- Nhu cầu và tài nguyên chung: Con người nhóm lại với nhau là do họ cùng có mối quan tâm đáp ứng nhu cầu chung như là để có dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các phương tiện công cộng. - Mục tiêu chung: Là mục tiêu sinh kế, cải thiện điều kiện kinh tế xã hội và môi trường đem lại lợi ích chung cho các thành viên cộng đồng. Cộng đồng chỉ có thể đạt được mục tiêu chung thông qua hoạt động tập thể với sự tham gia của các thành viên cộng đồng. Như vậy, khái niệm cộng đồng chỉ mang ý nghĩa tương đối.
Tuỳ thuộc vào khía cạnh xem xét, đánh giá (tính chất, tiêu chuẩn) mà có thể có cộng đồng lớn hay nhỏ, liên kết lỏng hay chặt chẽ (cộng đồng trong cộng đồng). Mặt khác, những tính chất hay tiêu chuẩn đánh giá này cũng chỉ là tương đối (thậm chí biến đổi theo thời gian) nên khái niệm cộng đồng thường mang tính bao quát như một phạm trù. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Như vậy, cộng đồng là một nhóm người có cùng một hay nhiều đặc điểm chung nào đó. Tuy nhiên, khái niệm cộng đồng không đơn thuần để chỉ một đơn vị xã hội cụ thể.
Cộng đồng là một khái niệm động, nó cung cấp một phương thức tiếp cận các đối tượng xã hội dựa vào các tiêu chí nghiên cứu hay hoạt động cụ thể được đặt ra. Một cá nhân có thể đồng thời là thành viên của nhiều cộng đồng khác nhau, ví dụ một hộ nông dân là thành viên cộng đồng thôn và cũng là thành viên của cộng đồng các hộ trang trại theo cấp huyện. Nguồn lực cộng đồng - Theo quan điểm hệ thống, “Nguồn lực là tất cả những yếu tố và phương tiện mà hệ thống có quyền chi phối, điều khiển, sử dụng để thực hiện mục tiêu của mình. Đối với hệ thống kinh tế - xã hội, có thể chia nguồn lực ra các bộ phận khác nhau như: nguồn nhân lực, nguồn tài lực, nguồn vật lực và nguồn thông tin”.
- Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển. Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem xét là nguồn lực. - Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của tổ chức; - Số lượng nhân lực: Nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu người nữa trong tương lai.
Đây là những câu hỏi cho việc xác định số lượng nguồn nhân lực. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong (ví dụ: nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động) và những yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân; - Chất lượng nhân lực: Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ. của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực; Tóm lại, nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố về số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai, là tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới.
Nông thôn mới và yêu cầu nguồn lực cho nông thôn mới 1. Giới thiệu nội dung và mục tiêu chương trình xây dựng nông thôn mới[19] * Xây dựng nông thôn mới thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia, là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, bao gồm 11 PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 nội dung [13]. (1) Quy hoạch xây dựng nông thôn mới * Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 01 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới. Đến năm 2011, cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn cả nước làm cơ sở đầu tư xây dựng nông thôn mới, làm cơ sở để thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020.