CHƯƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HỢP HỢP ĐỒNG MUA BÁN DOANH NGHIỆP 1. Một số vấn đề cơ bản liên quan đến hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Khái niệm, đặc điểm về mua bán doanh nghiệp 1. Khái niệm mua bán doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường phát triển ngày càng nhanh hiện nay bên cạnh việc đầu tư vào phát triển sản phẩm dịch vụ các doanh nghiệp luôn mong muốn tìm các biện pháp nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh để chiếm lĩnh thị phần, củng cố quyền lực cạnh tranh trên thị trường.
Các doanh nghiệp nhỏ đứng trước năng lực cạnh tranh như vũ bão của các doanh nghiệp lớn hơn thì có xu hướng bắt tay với nhau nhằm nâng cao vị thế trong thị trường, tập trung nguồn lực để đủ sức cạnh tranh với các đối thủ lớn tầm.Còn đối với các doanh nghiệp lớn, khi đã đạt được vị thế cạnh tranh cao trên thị trường thì bản thân doanh nghiệp luôn luôn phải tìm cách giữ vững và tăng cường năng lực cạnh tranh, hạn chế hiện tượng các doanh nghiệp nhỏ bắt tay nhau chiếm lĩnh thị phần. Chính vì vậy, một trong những phương cách mà tất cả các doanh nghiệp thường hướng tới để đảm bảo hoạt động kinh doanh của mình đó là việc thỏa thuận nhằm đạt đến khả năng kiểm soát và chi phối hoạt động kinh doanh của nhau, bằng cách này quy mô và năng lực thị trường của các doanh nghiệp ngay lập tức được củng cố và mở rộng. Hiện tượng mở rộng quy mô kinh doanh hoặc tăng cường khả năng chi phối trong việc quản trị điều hành hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khác được gọi là mua bán doanh nghiệp. Mua bán doanh nghiệp được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như mua lại toàn bộ doanh nghiệp, mua lại một phần của doanh nghiệp hoặc mua cổ phần của doanh nghiệp… Pháp luật Việt Nam đã có nhiều kênh pháp luật quy định điều chỉnh việc mua bán doanh nghiệp theo những hình thức cụ thể trên.
Cụ thể là: Luật Doanh nghiệp 2014 không định nghĩa về mua bán doanh nghiệp hay mua bán công ty mà chỉ quy định về mua bán, chuyển nhượng cổ phần. Ngoài ra có quy định về bán doanh nghiệp tư nhân tại điều 187 bộ luật này: “Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác. Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp phát sinh trong thời gian trước ngày chuyển giao doanh nghiệp, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận khác. Người bán, người mua doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật về lao động.
Người mua doanh nghiệp phải đăng ký thay đổi chủ doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật này.” 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Luật Cạnh tranh 2004: “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại” (Khoản 3, Điều 17). Theo quy định này, mua bán doanh nghiệp là việc mua tài sản của doanh nghiệp tuy nhiên việc mua này lại mang đến cho bên mua quyền kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua. Tuy nhiên Luật Cạnh tranh (2004) lại chỉ quan tâm đến khả năng kiểm soát, chi phối của doanh nghiệp sau thương vụ mua bán doanh nghiệp. Sở dĩ như vậy bởi lẽ bản chất của Luật Cạnh tranh (2004) là luật mang tính chất kiểm soát các hành vi có khả năng xâm hại trật tự cạnh tranh.
Với ý nghĩa như vậy, hoạt động mua bán doanh nghiệp được tiếp cận trong Luật Cạnh tranh (2004) dưới khía cạnh khả năng kiểm soát chi phối doanh nghiệp sau mua bán doanh nghiệp có ảnh hưởng gì đến cạnh tranh hay không? Nếu ảnh hưởng nghiêm trọng đến cạnh tranh, hành vi đó sẽ bị kiểm soát. Vì vậy định nghĩa về mua bán doanh nghiệp được quy định trong Luật Cạnh tranh chỉ được xét trên khía cạnh của luật mà không thể coi đây là định nghĩa chung cho mọi trường hợp mua bán doanh nghiệp. Năm 2014, cùng với việc ban hành luật Doanh nghiệp, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư và trong luật này đã coi hoạt động mua bán doanh nghiệp như một hình thức đầu tư trực tiếp nhằm mục đích kinh doanh theo quy định tại điều 24 Luật đầu tư 2014. Cụ thể quy định: Nhà đầu tư có quyền góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế.
Nghị định số 128/2014/NĐ-CP quy định về bán, giao và chuyển giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước có hiệu lực từ ngày 31 tháng 12 năm 2014 đưa ra định nghĩa bán doanh nghiệp, cụ thể quy định: Bán doanh nghiệp là việc chuyển đổi sở hữu toàn bộ một doanh nghiệp hoặc đơn vị hạch toán phụ thuộc cho tập thể, cá nhân hoặc pháp nhân khác có thu tiền. Định nghĩa này cho phép xác định bản chất của quan hệ mua bán doanh nghiệp và chuyển quyền sở hữu có thu tiền và đối tượng của quan hệ mua bán là một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp. Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có một quan điểm thống nhất về khái niệm mua bán doanh nghiệp, tuy nhiên dựa vào tính chất, đặc điểm mà có thể khái quát mua bán doanh nghiệp được hiểu là một vụ giao dịch mà ở đó một cá nhân, tổ chức được biết đến như một bên đề nghị (bên mua) giành quyền quản lý hoạt động cũng như tài sản của công ty bị mua lại. Cho đến nay hoạt động mua bán doanh nghiệp không còn là một hoạt động kinh tế mới.
Mặt khác hoạt động này đang có ý nghĩa và vai trò vô cùng quan trọng giúp thanh lọc, tái cơ cấu các doanh nghiệp yếu , hoạt động kinh doanh kém hiệu quả đồng thời thúc đẩy đầu tư , thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc điểm của mua bán doanh nghiệp Mua bán doanh nghiệp là một loại quan hệ đặc thù, khác hoàn toàn với việc cho thuê doanh nghiệp, bán tài sản doanh nghiệp hay sáp nhập doanh nghiệp. Đối tượng của quan hệ mua bán doanh nghiệp là một loại hàng hóa đặc biệt, đó chính là “ doanh nghiệp”.
Chủ thể có quyền bán doanh nghiệp phải là chủ sở hữu doanh nghiệp, chủ thể có quyền mua doanh nghiệp là các tổ chức cá nhân có nhu cầu mua doanh nghiệp và có quyền mua doanh nghiệp. Hình thức pháp lý ghi nhận các quan hệ mua bán doanh nghiệp là hợp đồng mua bán doanh nghiệp ; hợp đồng chuyển nhượng cổ phần , phần vốn góp chi phối. So với cho thuê doanh nghiệp, bên thuê doanh nghiệp chỉ có quyền quản lý, điều hành doanh nghiệp theo thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê doanh nghiệp và các quy định pháp luật khác có liên quan thì trong mua bán doanh nghiệp, bên mua có quyền sở hữu và kiểm soát một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp. Mua bán doanh nghiệp và mua bán tài sản doanh nghiệp cũng có những sự khác biệt cơ bản về đối tượng và chủ thể mua bán.
Đối tượng của quan hệ mua bán tài sản là tài sản của doanh nghiệp mục tiêu, còn như đã đề cập ở trên, đối tượng của quan hệ mua bán doanh nghiệp là doanh nghiệp. Còn xét về đối tượng chủ thể, chủ thể của mua bán tài sản doanh nghiêp chính là doanh nghiệp đó còn chủ thể của quan hệ mua bán doanh nghiệp là chủ sở hữu của doanh nghiệp. Ngoài ra, so với hoạt động sáp nhập doanh nghiệp, mua bán doanh nghiệp cũng có nhiều điểm khác biệt về đối tượng và hệ quả pháp lý. Cụ thể là : đối tượng của mua bán doanh nghiệp là quyền sở hữu toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp mục tiêu, còn đối với hoạt động sáp nhập doanh nghiệp đối tượng là toàn bộ tài sản , quyền , nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp bị sáp nhập sang doanh nghiệp nhận sáp nhập.
Khái niệm, đặc điểm về hợp đồng mua bán doanh nghiệp 1. Khái niệm Thực tiễn giao dịch cho thấy mua bán doanh nghiệp là một loại giao dịch khá phức tạp cho nên các bên thường lựa chọn việc ký kết với nhau một thỏa thuận chuyển nhượng bằng văn bản gọi là hợp đồng mua bán doanh nghiệp để làm bằng chứng ghi nhận sự thỏa thuận của hai bên. Hợp đồng mua bán doanh nghiệp là một trong những điều kiện tiên quyết để hình thành thương vụ mua bán doanh nghiệp. Hợp đồng mua bán doanh nghiệp được coi là sự thỏa thuận giữa các bên , theo đó bên bán doanh nghiệp có nghĩa vụ chuyển giao toàn bộ hoặc một phần quyền sở hữu doanh nghiệp cho bên mua lại doanh nghiệp và nhận tiền bán doanh nghiệp theo thỏa thuận trong hợp đồng, còn bên mua lại doanh nghiệp có nghĩa vụ nhận toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp và tiếp tục thực hiện các 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đó theo quy định của pháp luật cũng như theo thỏa thuận được ghi nhận trong hợp đồng , đồng thời trả tiền cho bên bán lại doanh nghiệp.
Đặc điểm của hợp đồng mua bán doanh nghiệp Về cơ bản hợp đồng mua bán doanh nghiệp cũng giống như các loại hợp đồng kinh tế khác, đều mang những đặc trưng cơ bản của hợp đồng dân sự. Hợp đồng mua bán doanh nghiệp được thể hiện dưới nhiều hình thức như: hợp đồng mua bán toàn bộ doanh nghiệp, hợp đồng mua bán một phần doanh nghiệp, hợp đồng chuyển nhượng vốn góp, cổ phần…Mặc dù có nhiều hình thức nhưng hợp đồng mua bán doanh nghiệp có những đặc trưng cơ bản nhất, đó là: Thứ nhất: mục đích của việc mua lại doanh nghiệp trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp là nhằm tiến hành các hoạt động kinh doanh với tư cách là doanh nghiệp mua lại.Hợp đồng mua lại doanh nghiệp cũng là một loại hình đầu tư với mục đích thu lại lợi nhuận, tuy nhiên loại hình hợp đồng này có đặc điểm hoàn toàn khác với các loại hình đầu tư khác là bên mua lại giành lấy quyền kiểm soát doanh nghiệp mục tiêu ở một mức độ nhất định, hoặc toàn bộ chứ không đơn thuần là chỉ sở hữu một phần vốn góp hay cổ phần của doanh nghiệp như các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Điều này hoàn toàn khác với việc mua một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp.