CHƯƠNG 1 TỐNG QUAN VỀ LĨNH vực NGHIÊN cứu 1.1 Peptide Định nghĩa: Peptide là chuỗi axit amin ngắn được liên kết bởi liên kết peptide. Polypeptide là chuỗi peptide dài hơn, liên tục và không phân nhánh. Polypeptide có khối lượng phân tử từ 10.000 Da trở lên được gọi là protein. Các chuỗi có ít hơn 20 axit amin được gọi là oligopeptide và bao gồm các dipeptide, tripeptide và tetrapeptide [ 11.
Các axit amin đã được tích hợp vào peptide được gọi là các tiểu phân. Một phân tử nước được giải phóng trong quá trình hình thành mỗi liên kết amit. Tất cả các peptide ngoại trừ peptide vòng đều có đầu tận cùng N (nhóm amin) và đầu c (nhóm cacboxyl) ở cuối peptide (như minh họa cho tetrapeptide trong hình) [ 11. cấu trúc peptide: Hình 1.1 Liên kết amide/peptide trong các phân tử peptide và protein Liên kết peptide: Trong hóa học hữu cơ, liên kết peptide là một loại liên kết cộng hóa trị amit, hên kết hai axit alpha-amino liên tiếp từ C1 (cacbon số một) của một axit alpha-amino và N2 (nitơ số hai) của một axit khác, dọc theo một peptide hoặc protein chuỗi.
Nó cũng có thể được gọi là hên kết eupeptide để phân biệt với liên kết isopeptide, là một loại liên kết amit khác giữa hai axit amin [1-3]. Khi hai axit amin tạo thành một dipeptide thông qua một liên kết peptide đó là một loại phản ứng ngưng tụ. Trong kiểu ngưng tụ này, hai axit amin tiếp cận nhau, với gốc axit cacboxylic không chuỗi bên (Cl) của một axit đến gần gốc axit amin không chuỗi bên (N2) của axit kia. Một loại mất hydro và oxy từ nhóm cacboxyl (COOH) 5 và loại kia mất hydro từ nhóm amino (NH2) của nó.
Phản ứng này tạo ra một phân tử nước (H2O) và hai axit amin nối vói nhau bằng liên kết peptide (-CO-NH-). Hai axit amin tham gia được gọi là một dipeptide [1-3]. Sự hình thành liên kết peptide tiêu thụ năng lượng, mà ở các sinh vật năng lượng này được lấy từ ATP. Peptide và protein là các chuỗi axit amin được liên kết với nhau bằng liên kết peptide (và đôi khi bằng một vài liên kết isopeptide).
Các sinh vật sử dụng enzym để tạo ra các peptide có hoạt tính tốt và ribosome để tạo ra protein thông qua các phản ứng khác nhau về chi tiết so với quá trình tổng hợp mất nước [1]. Một số peptide, chẳng hạn như alpha-amanitin, được gọi là peptide ribosome vì chúng được tạo ra bởi các ribosome, nhưng nhiều peptide không thuộc ribosome vì chúng được tổng hợp bởi các enzyme chuyên biệt chứ không phải ribosome. Ví dụ, tripeptide glutathione được tổng họp theo hai bước từ các axit amin tự do, bởi hai enzyme: glutamate-cysteine ligase (tạo liên kết isopeptide, không phải là liên kết peptide) và glutathione synthetase (tạo liên kết peptide) [1]. Liên kết amit được tổng hợp khi nhóm cacboxyl của một phân tử axit amin này phản ứng với nhóm amin của phân tử axit amin kia, gây ra sự giải phóng một phân tử nước (H2O), do đó quá trình này là phản ứng tổng hợp khử nước [2].1 Phân loại peptide: Các peptide được phân thành hai loại.
Oligopeptide gồm các peptide có từ 2 đến 10 gốc a-amino acid và được gọi là dipeptide, tripeptide, tetrapeptide. với so amino acid tưong ứng. Polipeptide gồm các peptide có từ 11 đến 50 gốc a-amino acid [1] Do sự thay đổi vị trí của các amino acid thành phần trong một peptide. Nếu phân tử peptide chứa n gốc a-amino acid khác nhau thì số đồng phân loại peptide sẽ là n!.
Neu trong phân tử peptide có i cặp gốc a-amino acid giống nhau thì số đồng phân chỉ còn n!. Ví dụ, nếu peptide chỉ chứa hai amino acid là serine và alanine, có hai cách sắp xếp hai amino acid này trong thành phần peptide, tùy vào gốc amino của serine sẽ liên kết vói gốc carboxylic của alanine hay gốc amino của alanine sẽ liên kết vói 6 gốc carboxyl của serine. Ồ trường hợp thứ nhất ta có alanylserine peptide, hường hợp thứ hai ta có serylalanine peptide [1].2 Danh pháp peptide: Peptide là bất kỳ polymer nào của các axit amin được liên kết bằng liên kết amit giữa nhóm am in của một axit amin và nhóm cacboxyl của axit amin lân cận. Mỗi đơn vị axit amin trong peptide được gọi là thừa (dư axit amin) [ 1-3].
Thuật ngữ “peptide” biểu thị các hợp chất tương đối nhỏ, giống với protein ngoại trừ việc chúng bao gồm ít hơn 50 gốc axit amin. olypeptide có trên 50 gốc amin được gọi là protein. Theo quỵ ước, một peptide được viết với axit amin gốc có nhóm amino tự do (NH3+) ở bên trái và gốc axit amin có nhóm cacboxyl tự do (CƠ2 ■) ở bên phải [1-2] Theo quy ước, peptide có công thức phân tử là amino acid đầu N (còn gốc NỈỈ3+ tự do) thì nằm ở bên trái và amino acid đầu c nằm bên phải [2]. /V-terminal end C-terminal end „ H O H „ h2n-c-c-nh0-cooh R R' Peptide bond Phần cuối của peptide với nhóm amino tự do được gọi là đầu N hoặc đầu N và phần cuối với nhóm carboxyl tự do được gọi là đầu c [2] 1.3 ứng dụng của peptide cỏ hoạt tính chống oxì hóa Do có những tính chất và vai trò đặt biệt có khả năng ảnh hưởng đến các chức năng sinh lý bên trong của cơ thể sinh vật nên các peptide có hoạt tính chống oxy hóa được ứng dụng trong nghành y dược và cũng được ứng dụng trong nghành thực phẩm.
7 Nghành ỵ dược: Tất cả các peptide kháng sinh và aspartame vào thì peptide cũng chỉ chiếm khoảng 0.0025% (khối lượng) của dược phẩm sản xuất hằng năm, nhưng peptide có vai trò rất quan trọng trongnghiên cứu và điều trị bệnh. Peptide hoạt tính sinh học được xem là một tiềm năng rất lớn để giải quyết các vấn đề quan trọng như: tăng trưởng, tiêu hóa, trao đổi chất. [4] Có nhiều peptide được sản xuất có nhỏ hon 40 amino acid bằng các phưong pháp hóa học. Phưong pháp hoá học cổ điển (tiến hành phản ứng trong dung dịch) phù hợp cho sản xuất những peptide ngắn mạch cho tới trung bình, hiệu suất tối đa có thể đạt tới vài trăm kg cho tói vài tấn trên năm [4].
Nghành thực phẩm: Trái ngược với các sinh vật sống, sự thối rửa của thực phẩm không thể phục hồi đối vói chất lượng của nó, có thể bị giảm từ vài giờ đến vài tháng và có thể hàng năm khi các chiến lược thích hợp được thực hiện và áp dụng. Việc sử dụng chất chống oxy hóa để làm phụ gia thực phẩm là hướng gia tăng trong ngành công nghiệp thực phẩm. Nhu cầu sử dụng thực phẩm không chất phụ gia tổng hợp không tự nhiên, do những ảnh hưởng có hại cho sức khỏe của sinh vật đặt biệt là con người, đã làm cho cả ngành công nghiệp thực phẩm và các nhà nghiên cứu khám phá những công trình nghiên cứu mói để có được chất chống oxy hóa từ tự nhiên. Những xu hướng này tăng cường nhu cầu thu được và sử dụng các chất phụ gia thực phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên cũng có hoạt tính sinh học [4].2 Gốc tự do và chất chống oxy hóa.1 Gốc tự do Các gốc tự do là các chất hóa học sở hữu một điện tử chưa ghép đôi có thể được coi là các mảnh phân tử và thường rất dễ phản ứng.
Chúng được sản xuất liên tục trong các té bào hoặc là sản phẩm phụ của quá trình trao đổi chất. Các phản ứng quan trọng nhất trong sinh hóa gốc tự do trong tế bào hiếu khí là oxy và các dẫn xuất gốc của nó 8 (gốc superoxide và hydroxyl), hydrogen peroxide và các kim loại chuyển tiếp. Các gốc tự do có thể tích điện dương, tích điện âm hoặc trung hòa về điện [5] Các gốc tự do phản ứng hình thành trong tế bào có thể oxy hóa các phân tử sinh học và dẫn đến chết tế bào và tổn thưong mô. Việc xác định sự tham gia của các gốc tự do trong cơ chế bệnh sinh của một căn bệnh là vô cùng khó khăn do thời gian sống của các gốc tự do này rất ngắn [5].
Mục tiêu của các gốc tự do bao gồm tất cả các loại phân tử trong cơ thể. Trong số đó, lipid, axit nucleic và protein là những mục tiêu chính. Các gốc tự do và các ROS khác có nguồn gốc từ các quá trình trao đổi chất thiết yếu bình thường trong cơ thể con người hoặc từ các nguồn bên ngoài như tiếp xúc với tia X, ozone, hút thuốc lá, chất ô nhiễm không khí và hóa chất công nghiệp [5]. Gốc tự do hình thành từ hai nguồn, đó là nguồn nội sinh và nguồn ngoại sinh.
Ở nguồn nội sinh, gốc tự do hình thành từ chuỗi chuyền điện tử trong ty thể (các phản ứng phosphoryl oxy hóa của mitochondria): superoxide anion (Ơ2*), peroxynitrate (ONO-), hydrogen peroxide (H2O2), goc hydroxyl (OH*). Nguồn nội sinh thứ 2 là từ hoạt động hô hấp của leucocyte, gốc tự do hình thành để giết vi khuẩn. Từ quá trình tự chết của tế bào (apoptosis): bang in vitro, người ta thấy chất oxy hóa nội sinh AXO có thể ngăn trở apoptosis. Ở nguồn ngoại sinh, gốc tự do hình thành từ khí ozone, bức xạ tử ngoại, khói thuốc lá [5].2 Ảnh hưởng của gốc tự do đoi với cơ thể sình vật.
Gốc tự do sinh ra nhiều sẽ vượt qua hệ thống enzym bảo vệ cơ thể và các gốc này sẽ tấn công vào các chất của cơ thể. Những thành phần té bào như ADN, protein, phospholipid, carbohydrat. dễ bị gốc tự do tấn công gây ra các bệnh nguy hiểm [5]. Gốc tự do tấn công vào phospholipid màng tế bào gây ra quá trình peroxy hóa lipid.
Quá trình peroxy hóa lipid xảy ra mãnh liệt ở cơ quan, tổ chức tế bào khiến chúng bị phá hủy một cách nghiêm trọng dẫn đến đột biến, ung thư hoặc tổn thương các phân tử and [5] 9 Sự tác động đến các yếu tố gây viêm, sự hủy hoại các phân tử polysaccharid do oxy hóa có thể làm mất tính nhớt của acid hyalunoric (một chất làm tron khớp), ảnh hưởng tói quá trình viêm có thể dẫn tói bệnh viêm khớp dạng thấp, lupus ban đỏ. Gốc tự do liên quan đến các chất tiết ra từ thành mạch máu sẽ quyết định khả năng bám dính của tiểu cầu và mảng xo vữa, là nguyên nhân của các bệnh tim mạch (tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim.) [5], Nói chung gốc tự do liên quan đến khá nhiều bệnh tật trong cơ thể vì thế nếu khả năng chống oxy hóa của cơ thể cao thì xác suất mắc bệnh và mức độ bệnh tật sẽ giảm. Vì thế người ta không ngừng nghiên cứu, tìm kiếm các chất chống oxy hóa cho cơ thể nhằm nâng cao và bảo vệ sức khỏe con người [5].