Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÔNG TY MUA BÁN NỢ 1. Các khái niệm cơ bản 1. Nợ xấu Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
Bản chất của nợ xấu: Là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ. Đối với các ngân hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản. Nhìn chung, một doanh nghiệp luôn phải ước tính trước những khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ xấu ở kì trước [10]. Nợ xấu là một số tiền được viết bởi các doanh nghiệp như là một tổn thất cho doanh nghiệp và được phân loại như là một khoản chi phí vì nợ cho doanh nghiệp là không thể được thu thập, và tất cả những nỗ lực hợp lý đã được tận dụng để thu thập các số tiền nợ.
Điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc chi phí của việc theo đuổi hành động hơn nữa trong một nỗ lực để thu thập các khoản nợ vượt quá các khoản nợ của chính nó [8]. Nợ được ngay lập tức bằng văn bản của tín dụng con nợ tài khoản và do đó loại bỏ bất kỳ số dư còn lại trong tài khoản đó. Nợ xấu đại diện cho tiền bị mất do một doanh nghiệp là lý do tại sao nó được coi là một khoản chi phí. 8 Phân loại nợ xấu: Trong Thông tư 24/2013/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước ban hành có quy định về việc phân loại nợ thì nợ xấu thuộc 3 nhóm: Nhóm nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm: Nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không có đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
Nhóm nợ nghi ngờ bao gồm: Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 30 đến dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần 2 quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai. Nhóm nợ có khả năng mất vốn bao gồm: Nợ quá hạn trên 360 ngày; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần 2 quá hạn từ 30 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn. Vấn đề nợ xấu đang làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động và tính lành mạnh của các ngân hàng. Trên thực tế, nợ xấu đang bào mòn lợi nhuận và làm hụt vốn của các ngân hàng, trong đó, nhiều ngân hàng đã rơi vào trạng thái âm vốn chủ sở hữu.
Nguyên nhân của nợ xấu Có khá nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ xấu ngân hàng, có thể kể ra một số nguyên nhân sau: * Nguyên nhân khách quan bên ngoài các tổ chức tín dụng: Nguyên nhân thuộc về môi trường tự nhiên là sự thay đổi bất ngờ của tự nhiên mang lại thiệt hại nặng nề cho con người. 9 Nguyên nhân thuộc về môi trường kinh tế: chính sách kinh tế vĩ mô như cơ chế điều hành lãi suất, tỷ giá, chính sách xuất nhập khẩu, quy hoạch đất đai,.Tình hình kinh tế vĩ mô, chính trị bất ổn, bị cấm vận Nhân tố thuộc về khách hàng vay: khách hàng sử dụng vay nợ quá mức, sử dụng vốn sai mục đích, năng lực quản trị điều hành yếu kém,cung cấp thông tin không trung thực, rủi ro đạo đức của khách hàng vay,… * Nguyên nhân chủ quan của các tổ chức tín dung: Năng lực yếu kém của tổ chức tín dung: Chưa hoàn thiện hoặc chậm đổi mới chính sách tín dụng, chính sách quản trị rui ro rín dụng, thiếu kiểm tra giám sát quy trình cho vay,. Trình độ yếu kém của cán bộ tín dụng không am hiểu năng lực, uy tín, lĩnh vực kinh doanh, triển vọng hiệu quả dự án của khách hang. Trình độ, năng lực, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng còn hạn chế Rủi ro đạo đức của cán bộ tín dụng có biểu hiện động cơ trục lợi cố tình không tuân thủ quy trình tín dụng, cho vay sai nguyên tắc dẫn đến không thu hồi được nợ vay… Tác hại của nợ xấu Thứ nhất, nợ xấu sẽ làm cho tình trạng các bảng cân đối kế toán của các ngân hàng (NH) vẫn chiếm tỷ lệ nợ xấu cao, đồng nghĩa với việc NH sẽ không thể cho vay và các DN không tiếp cận được vốn để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tình trạng này kéo dài sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển kinh tế của đất nước trong những năm tiếp theo [10]. Thứ hai, nợ xấu làm cho các chi phí bỏ ra về mặt hữu hình và vô hình đối với xử lý nợ xấu càng lớn. Về mặt hữu hình là việc các tài sản cầm cố tại ngân hàng sẽ ngày càng bị hao mòn, hư hỏng, giá trị và giá trị sử dụng sẽ mất dần, nếu nợ xấu 10 được xử lý nhanh thì các tài sản này sẽ được đem ra sử dụng nhanh chóng, tạo nên giá trị và giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Về mặt vô hình khi quá trình xử lý nợ xấu kéo dài, dẫn tới hệ số tín nhiệm của Việt Nam sẽ khó mà duy trì được mức tín nhiệm như hiện nay, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường đầu tư.
Thứ ba, tỷ lệ nợ xấu đối với lĩnh vực cho vay bất động sản thương mại và bất động sản dân dụng mặc dù trong các báo cáo là không thật sự lớn, tuy nhiên có thể vì lý do nào đó trong phương án kinh doanh, số tiền cho vay lẽ ra được rót vào các lĩnh vực sản xuất nhưng kỳ thực lại được rót vào bất động sản hoặc lĩnh vực phi sản xuất. Không thể có số liệu thống kê chính thức trong lĩnh vực này nhưng có thể dư nợ cho vay loại này không hề nhỏ đối với nền kinh tế, tình trạng bất động sản xuống giá như thời gian vừa qua càng làm cho nhu cầu đối với bất động sản giảm mạnh, hàng tồn kho về bất động sản ngày càng tăng lên, các DN bất động sản bắt buộc phải liên tục hạ giá bán nhưng vẫn không thể bán được, quá trình này diễn ra liên tục trong thời gian dài dẫn tới hiện tượng bán tháo, tuột dốc không phanh, khi đã dẫn tới tình trạng bán tháo mà vẫn không có người mua thì số tiền mà các DN bất động sản bán được cũng không thể nào trả được hết nợ gốc cho ngân hàng [10]. Thứ tư, giải quyết nợ xấu không được xử lý sẽ không cải thiện được năng lực tài chính của các NH, năng lực tài chính của các NH là tốt thì việc điều hành chính sách tiền tệ mới dễ dàng và hoạt động cung cấp tín dụng cho nền kinh tế mới thực sự tốt. Thứ năm, tác động của nợ xấu đối với nền kinh tế, đó là cục máu động trong nền kinh tế.
Nợ xấu ở mức cao làm cho ngân hang bị sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ của toàn hệ thống, gây tình trạng rối loạn trong hệ thống lưu thông tiên tệ, khủng hoảng kinh tế, nền kinh tế ách tắc. Xử lý nợ xấu 11 1. Quan điểm về xử lý nợ xấu Trong điều kiện nợ xấu ở mức bình thường, chưa đe dọa đến sự an toàn hệ thống tài chính của quốc gia thì việc xử lý nợ xấu được thực hiện theo cơ chế ngân hàng tự xử lý. Tuy nhiên, một khi nợ xấu của các TCTD tích tụ đến một quy mô khá lớn, đe dọa trực tiếp đến sự an toàn của hệ thống tài chính, chính phủ các nước thường có những chính sách can thiệp nhằm ứng phó với khủng hoảng và giải quyết hậu quả của nợ xấu như sau: Nhà nước hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM: Tỷ lệ nợ xấu cao sẽ làm cho các ngân hàng gặp khó khăn trong thanh khoản.
Để giúp các ngân hàng duy trì hoạt động bình thường và tránh xảy ra hiện tượng rút tiền gửi hàng loạt trong toàn hệ thống, chính phủ thông qua NHTW sử dụng các công cụ khác nhau như tái cấp vốn, cho vay trên thị trường mở, thị trường liên ngân hàng để hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM, ngăn chặn hiệu ứng đỗ vỡ hàng loạt, ảnh hưởng đến an toàn của hệ thống [8]. Tái cấp vốn và cơ cấu nợ: Chính phủ có thể hỗ trợ cho các thành phần kinh tế vay vốn từ NHTW với lãi suất và kỳ hạn ưu đãi để thanh toán nợ vay NHTM. Ngoài ra, chính phủ còn tái cấp vốn cho các NHTM bằng cách mua cổ phần của các NHTM để gia tăng thanh khoản cho ngân hàng [8]. Thành lập các tổ chức xử lý nợ xấu: Để giải quyết nợ xấu, ngoài việc hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng, chính phủ còn thành lập các tổ chức với quyền hạn đặc biệt để xử lý nợ xấu.
Thông thường chính phủ các nước thành lập các công ty xử lý nợ để tiếp nhận hoặc mua lại nợ xấu từ các ngân hàng và tổ chức tài chính để xử lý thu hồi. Phương pháp xử lý nợ xấu Thông thường, khi xử lý nợ thường có 3 phương pháp cơ bản các ngân hàng đang thực hiện. 12 Thứ nhất, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi vốn. Đây là phương án khả dĩ nhất, nhanh nhất và truyền thống nhất trong các phương án.
Tuy phải "đấu lý" với khách hàng tại tòa án và phải trải qua đủ các bước kiện tụng và chờ thi hành án thì tài sản đảm bảo mới được phát mại thu được tiền về.