phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dụng của đề tài được kết cấu thành ba chương, bao gồm: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý Nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng Chƣơng 2. Thực trạng quản lý Nhà nước về hoạt động tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ trên địa bàn huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định Chƣơng 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ trên địa bàn huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định.
9 NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN NGƢỠNG 1. Một số khái niệm liên quan đến quản lý nhà nƣớc đối với hoạt động tín ngƣỡng thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ 1.1 Khái niệm tín ngƣỡng Từ xưa đến nay, tín ngưỡng và tôn giáo thường được người ta nói hoặc viết đi liền với nhau. Vậy, tín ngưỡng và tôn giáo có mối quan hệ như thế nào? Chúng có điểm chung gì mà được đi song hành với nhau như thế, tín ngưỡng và tôn giáo là một hay hai khái niệm?. Bài nghiên cứu này của tác giả sẽ không đi nghiên cứu sâu về nội hàm khái niệm của nó mà chỉ đi tìm hiểu một số quan điểm về tín ngưỡng và tôn giáo hoàn toàn độc lập với nhau và quan điểm tín ngưỡng đồng nhất với tôn giáo.
Bởi vì, ở Việt Nam và thế giới các loại hình tín ngưỡng vô cùng đa dạng và phong phú phản ảnh niềm tin và ước vọng của con người, vì thế mà ở mỗi cách nhìn nhận và tiếp cận đến khái niệm tín ngưỡng của mỗi chuyên ngành là khác nhau, chưa có sự thống nhất: Quan điểm tín ngưỡng và tôn giáo hoàn toàn độc lập với nhau Trong cuốn “Tìm hiểu về bản sắc văn hóa Việt Nam” Trần Ngọc Thêm đã cho rằng “Tín ngưỡng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân và rất quan trọng. Từ tự phát lên tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường – tín ngưỡng trở thành tôn giáo. Xã hội Việt Nam cổ truyền do mạnh về tư duy tổng hợp mà thiếu óc phân tích nên các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển biến hoàn toàn thành tôn giáo theo đúng nghĩa của nó mới có mầm mống của tôn giáo như thế - đó là đạo Mẫu. Phải đợi khi các tôn giáo thế giới như Phật giáo, Đạo giáo, Kito giáo du nhập vào và đến thời điểm giao lưu với Phương Tây, các tôn giáo dân tộc (như Đạo Cao Đài, Đạo Hòa Hảo mới xuất hiện” [22] 10 PGS.
TS Nguyễn Hồi Loan, Ths. Nguyễn Thị Hải Yến trong bài “Niềm tin vào tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và ảnh hưởng của nó đến đời sống của người dân Hà Nội trong thời kì văn hóa hội nhập” cho rằng: “Tín ngưỡng là một hiện tượng tâm lý – xã hội biểu hiện niềm tin của một cộng đồng người nhất định về thế giới vô hình, về lực lượng siêu nhiên và năng lực chi phối của lực lượng này đối với cuộc sống của con người thông qua hệ thống nghi thức thờ cúng, quá trình hình thành và phát triển tín ngưỡng gắn liền với lịch sử phát triển cộng đồng nên nó phản ánh thực tế của cộng đồng người đó” [3] Cả hai khái niệm đều có sự khác nhau theo Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: “Tín ngưỡng” là niềm tin con người được thể hiện thông qua nghi lễ gắn với phong tục, tập quán, truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. “Tôn giáo” là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn giáo, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức. [20] Quan điểm tín ngưỡng đồng nhất với tôn giáo Trong “Lý luận về tôn giáo và hình thành tôn giáo ở Việt Nam” Đặng Nghiêm Vạn đã nói rằng: “Nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin thì có một phần nằm ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm tin tôn giáo thì tín ngưỡng chỉ là bộ phận chủ yếu cấu thành của tôn giáo” [6] Trong cuốn sách “Tín ngưỡng dân gian tại Việt Nam” do Lê Như Hoa làm chủ biên: “Tín ngưỡng dân gian Việt Nam là hình thức tôn giáo sơ khai, chúng được hình thành trên cơ sở tâm cách nguyên thủy để nhận thức hiện thực và tác động đến hiện thực bằng các kỹ xảo của thuyết hồn linh”.[9] Theo quan điểm của tác giả giữa tín ngưỡng và tôn giáo có sự khác biệt, tồn tại một cách độc lập với nhau.
Tôn giáo có tổ chức và hệ điều hành chặt chẽ hơn tín ngưỡng, nói về hệ thống của tín ngưỡng thì hầu như đều mang tính rời rạc hoặc không có. Tín ngưỡng thường được nói là tín ngưỡng dân tộc vì có những đặc thù chung mang tính dân tộc và dân gian. Còn tôn giáo không mang tính dân gian nhưng có giáo lý, giáo luận rõ ràng. Tôn giáo và tín ngưỡng bổ sung cho nhau để đáp ứng nhu cầu của con người.
11 Khái niệm tín ngưỡng dù được hiểu dưới góc độ nào thì đã được Luật hóa tại Khoản 1, Điều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo 2016: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những nghi lễ gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình yên về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng” [6] Từ đó, ta có thể rút ra được khái niệm: Tín ngưỡng là một văn hóa ra đời và phát triển trong lịch sử dân tộc gắn liền với hoạt động tôn vinh và tưởng niệm đến những người có công với đất nước được hình thành trong đời sống tinh thần tâm linh của người Việt. Gắn niềm tin con người với các thế lực siêu nhiên tạo nên những giá trị về lịch sử văn hóa và đạo đức con người. Tín ngƣỡng thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ 1. Tín ngưỡng thờ Mẫu Đối với người Việt Nam, thờ Mẫu - Mẹ là một trong những loại hình tín ngưỡng tiêu biểu, được hình thành từ rất sớm.
Tín ngưỡng thờ Mẫu thoát thai từ đạo thờ Thần và chịu ảnh hưởng của Đạo giáo của Trung Quốc. Tín ngưỡng thờ Mẫu vừa liên quan đến tàn dư của chế độ mẫu hệ, vừa mang dấu ấn văn hóa của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước. Theo quan niệm của người Việt, trời là Cha, đất là Mẹ - Mẫu. Con người lớn lên từ đất, chết trở về với đất; con người có của ăn của để, có cái ăn cái mặc,… cũng nhờ vào đất.
Đất nuôi sống con người. Đất là Mẹ. Thờ Mẫu còn thể hiện triết lý tôn thờ người phụ nữ, người mẹ, là khát vọng duy trì nòi giống, cầu mong cuộc sống bình yên, có phúc, có lộc. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng với những nguồn gốc khác nhau.
Có Mẫu là thiên thần, có Mẫu là nhân thần; có Mẫu được coi là người có công trong quá trình dựng nước và giữ nước, có Mẫu được hình thành từ truyền thuyết, huyền thoại, có Mẫu lại là những con người thực của lịch sử; có Mẫu được tôn xưng xuất thân từ tầng lớp quyền quý, có Mẫu lại xuất thân từ tầng lớp bình dân nghèo khổ,. Tuy với những nguồn gốc khác nhau nhưng đều nằm trong hai hệ thống: Mẫu Thần và Mẫu Tứ Phủ. Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam mang tính phổ biến nhưng rất đa dạng, phong phú; là sự hòa đồng, hỗn dung với các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo 12 khác; thần tích của các Mẫu luôn gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Và, tín ngưỡng thờ Mẫu là nét đặc sắc của văn hóa Việt Nam.
Ngoài các loại hình tín ngưỡng của người Kinh như nói trên, ở Việt Nam còn có nhiều loại hình tín ngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Bắc và Tây Nguyên tạo ra sự đa dạng về loại hình tín ngưỡng ở Việt Nam. Và, theo báo cáo của Ban Tôn giáo Chính phủ, Việt Nam có khoảng hơn 90% dân số có niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có 24 % là tín đồ các tôn giáo, còn lại đa số là theo tín ngưỡng.2 Tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ Bắt nguồn từ quan niệm vũ trụ, luật nhân sơ là âm và dương, dần dần hai yếu tố âm dương trong lưỡng cự âm dương phân hóa, quan điểm của người Việt khi nói về thế giới có thể chi thành 3 phần khác nhau. “tam phủ”, “Phủ” ở đây có thể hiểu là nơi làm việc của các chư vị thân linh. “tam phủ” từ để chỉ 3 vị Thánh Mẫu hay Tam tòa Thánh Mẫu trong hệ thống tín ngưỡng Tam phủ của Việt Nam bao gồm: Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên là vị Thánh Mẫu cai quản cõi trời, Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn vị Thánh Mẫu cai quản vùng rừng núi, Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ là vị Thánh Mẫu cai quản miền sông nước.
“Tứ phủ” trong tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ thực ra là để chỉ 4 cõi, 4 miền của vũ trụ: Thiên phủ (miền nước – do Mẫu Thượng Thiên cai quản), Địa phủ (miền đất – do Mẫu Địa Tiên cai quản), Thoải phủ (miền sông nước – do Mẫu Thoải phủ cai quản) và cuối cùng là Nhạc phủ (miền rừng núi – do Mẫu Thượng Ngàn cai quản). Được biểu hiện thành 4 màu cơ bản: Thiên phủ ứng với màu đỏ, Địa phủ ứng với màu vàng, Thoải phủ ứng với màu trắng và Nhạc phủ ứng với màu xanh, đây cũng là màu sắc trang phục của các vị Thánh giáng đồng. Tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ suy tôn Thánh Mẫu Liễu Hạnh “Mẫu Nghi Thiên Hạ” có quyền năng tối linh có thể bao trùm 4 miền của vũ trụ, là Người mẹ có tấm lòng từ bi.3 Khái niệm quản lý nhà nƣớc, quản lý nhà nƣớc trong hoạt động tín ngƣỡng thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ Khái niệm quản lý được tiếp cận và được sử dụng một cách rộng rãi, phổ biến. Người được coi là cha đẻ của khoa học quản lý hiện đại Fredcrick Winslow Taylos (1856 – 1915) cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và hiểu được rằng họ hoàn thành một cách tốt nhất và rẻ nhất”.[5] Định nghĩa này có thể hiểu rằng, muốn quản lý được trước hết phải xác định được mục tiêu và khách thể để quản lý sao cho hiệu quả nhất.