Chương 1: Cơ sở của hoạt động biên mậu Việt Nam- Trung Quốc. Chương 2: Thực trạng hoạt động biên mậu ở các tỉnh biên giới vùng Đông Bắc Việt Nam. Chương 3: Giải pháp thúc đẩy hoạt động biên mậu ở các tỉnh biên giới vùng Đông Bắc Việt Nam. z 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ CỦA HOẠT ĐỘNG BIÊN MẬU VIỆT NAM - TRUNG QUỐC 1.
Một số vấn đề lý luận chung về hoạt động biên mậu 1. Khái niệm, hình thức của hoạt động biên mậu 1. Khái niệm về hoạt động biên mậu Xu thế toàn cầu hoá kinh tế đã thúc đẩy mậu dịch quốc tế tăng trưởng liên tục thông qua các định chế của WTO hay các Hiệp định mậu dịch tự do khu vực và song phương. Một nét đặc thù trong quan hệ thương mại hiện đại ngày nay là sự đan xen giữa các loại hình quan hệ: một nước mặc dù là thành viên của tổ chức kinh tế khu vực hay quốc tế đều có thể có quan hệ kinh tế mang tính song phương (FTA) với các nước khác; và quan hệ biên mậu vẫn song song tồn tại giữa các nước có chung biên giới.
Các nước có nền thương mại phát triển hàng đầu thế giới vẫn coi trọng biên mậu và dành cho biên mậu những chính sách đặc biệt, ưu đãi hơn mậu dịch thông thường, bởi vì nó phù hợp với Điều XXIV Hiệp định GATT/WTO. Hoạt động kinh tế biên mậu là kết quả tất yếu của sự hợp tác địa lý kinh tế giữa các quốc gia có chung đường biên giới với nhau. Trong nền kinh tế mở, bất kể quốc gia nào cũng đều quan tâm đến kinh tế biên mậu, thúc đẩy giao lưu hàng hoá với các quốc gia láng giềng để phát huy lợi thế so sánh của nước mình. Thống kê của UNDP cho thấy kim ngạch trao đổi biên mậu của thế giới chỉ xấp xỉ 1% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu thế giới, như vậy việc dành cho biên mậu những ưu đãi nào đó cũng không ảnh hưởng lớn đến thương mại từng nước, của toàn cầu, nhưng có tác dụng tích cực trong việc phát triển của các địa phương có chung biên giới, đặc biệt góp phần phát triển vùng núi, vùng sâu, vùng xa, xoá đói giảm nghèo đối với các nước đang phát triển [25].
Thực tế quan hệ biên mậu giữa Hoa Kỳ và Canada là giữa các nước phát triển z 7 và quan hệ biên mậu giữa Việt Nam và Lào là quan hệ giữa các nước chậm phát triển là những ví dụ sinh động. Hoạt động biên mậu là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá được diễn ra tại khu vực biên giới đường bộ của các nước láng giềng (được xác định về mặt địa lý) mà đối tượng trao đổi là các sản phẩm, hàng hoá (hữu hình). Đây là phương thức mậu dịch do tập quán truyền thống của lịch sử hình thành. Nói chung, các nước đều giành cho phương thức mậu dịch này sự đãi ngộ về thuế Hải quan.
Theo sự phát triển của mậu dịch quốc gia, thương mại hàng hóa với nghĩa hẹp như ở trên được phát triển thành phương thức mậu dịch theo nghĩa rộng, tức là giao dịch xuất nhập khẩu hàng hoá được tiến hành tại vùng biên giới giữa hai nước. Nó được liệt vào phạm vi mậu dịch đối ngoại của quốc gia, thuộc một trong những phương thức mậu dịch xuất nhập khẩu. Hoạt động kinh tế biên mậu bao gồm: - Hoạt động mua bán, trao đổi hàng hoá của cư dân biên giới; - Buôn bán tại chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong Khu kinh tế cửa khẩu; - Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới theo các phương thức không theo thông lệ quốc tế đã được thoả thuận trong các Hiệp định thương mại song phương giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước có chung biên giới. Như vậy, hoạt động kinh tế biên mậu giữa hai nước không chỉ đơn thuần là hoạt động buôn bán qua các cửa khẩu biên giới mà nó có phạm vi rộng hơn, bao trùm các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá được diễn ra trên toàn bộ khu vực biên giới đường bộ của hai nước.
Hơn nữa, việc trao đổi các sản phẩm vô hình (dịch vụ hoặc các loại hàng hoá có liên quan đến sở hữu trí tuệ) không thuộc phạm vi của hoạt động này. Các hình thức của hoạt động biên mậu z 8 Hoạt động kinh tế biên mậu Việt Nam - Trung Quốc hiện nay tồn tại dưới 3 hình thức chính: chính ngạch, tiểu ngạch, và trao đổi của cư dân biên giới, tuy nhiên rất khó phân biệt các hình thức thương mại này. Đó là đặc điểm bao trùm, riêng có của thương mại biên giới Việt - Trung. Tất cả hàng hoá buôn bán chính ngạch đều do các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện là chủ yếu, cũng có một số ít công ty trách nhiệm hữu hạn thực hiện, nhưng các công ty này là những đơn vị của Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố, tỉnh không có biên giới với Trung Quốc.
Buôn bán chính ngạch là lượng hàng hoá xuất nhập khẩu theo hợp đồng thương mại, thường là quan hệ buôn bán trên quy mô và hạng mục lớn. Tiểu ngạch là quan hệ buôn bán qua biên giới với quy mô, hạng mục nhỏ, không được quy định trong các hiệp định và không so sánh với các nước khác trong mối quan hệ. Hàng hoá tiểu ngạch do các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và cả tư nhân của các tỉnh biên giới thực hiện, có thể đi qua các cửa khẩu quốc tế, quốc gia và các "cửa khẩu địa phương" hay còn gọi là đường qua lại giữa các cặp chợ biên giới. Trao đổi hàng hoá của cư dân biên giới là do nhân dân hai bên biên giới thực hiện.
Họ chủ yếu mua bán hàng hóa tiêu dùng, những sản phẩm tự sản xuất. Buôn bán của cư dân biên giới tuy quy mô nhỏ, nhưng lại rất có ý nghĩa đối với đồng bào các địa phương vùng biên. Trong điều kiện địa hình bị chia cắt tự nhiên, giao thông đi lại khó khăn, giao lưu hàng hoá giữa miền núi vùng cao với miền xuôi còn gặp nhiều khó khăn, thì buôn bán trao đổi hàng hoá với Trung Quốc đang góp phần tích cực cho việc cân đối cung- cầu, đáp ứng nhanh nhu cầu sản xuất và đời sống của đồng bào, cũng như góp phần ổn định và phát triển kinh tế của các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc. Khái niệm xuất nhập khẩu tiểu ngạch được đề cập nhiều trong những năm gần đây, nhất là từ khi quan hệ Việt - Trung được bình thường hoá, trao đổi hàng hoá qua biên giới phát triển mạnh.
Thực tế trong những năm qua đã z 9 cho thấy vai trò của xuất nhập khẩu tiểu ngạch và những đóng góp của nó trong quá trình phát triển thị trường nói chung, nhất là đối với các tỉnh biên giới được quyền làm xuất nhập khẩu tiểu ngạch thì hoạt động trên lĩnh vực này rất sôi động và đã đem lại những lợi ích không nhỏ cho địa phương và cho quốc gia. Hơn nữa, thông qua hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch chúng ta đã xuất được nhiều hàng hoá, kể cả những mặt hàng lẻ tẻ, khối lượng nhỏ, chất lượng không cao sang thị trường Trung Quốc, mà nếu xuất sang thị trường khác sẽ gặp nhiều khó khăn hoặc không thực hiện được như hoa quả tươi, cua, ốc, ếch. và nhập về được nhiều nguyên liệu, máy móc thiết bị, hoá chất.phục vụ cho sản xuất mà không phải mất ngoại tệ mạnh. Xuất nhập khẩu tiểu ngạch còn có những ưu điểm khác nữa là thủ tục ngắn gọn, xuất nhập nhanh, thời gian thực hiện thương vụ ngắn, thanh toán linh hoạt.
Có thể đưa ra một vài so sánh giữa xuất nhập khẩu tiểu ngạch và chính ngạch như sau: Bảng 1. So sánh XNK tiểu ngạch và chính ngạch Tiểu ngạch Chính ngạch - Không cần giấy phép Bộ Công - Có giấy phép Bộ Công thương thương - Chỉ các đơn vị tỉnh biên giới mới - Cả đơn vị trong, ngoài tỉnh biên giới được tham gia có giấy phép đều thực hiện - Hầu như không có hợp đồng - Có hợp đồng kinh tế - Thanh toán trực tiếp qua biên mậu - Thanh toán qua ngân hàng -Thời gian từng thương vụ thường -Thời gian từng thương vụ thường dài nhanh hơn chính ngạch hơn tiểu ngạch - Kiểm tra số lượng, chất lượng đơn - Kiểm tra chất lượng hàng hoá chặt giản, thiếu chặt chẽ chẽ - Hàng hoá tiểu ngạch đi qua tất cả - Hàng hoá chính ngạch chỉ đi qua z 10 các cửa khẩu, đường mòn hai bên quy cửa khẩu quốc tế, quốc gia hai bên định quy định (Nguồn: Đề án phát triển biên mậu Việt Nam - Trung Quốc thời kỳ 2006- 2010, Bộ Thương mại, 2006[3]) Theo dõi xuất nhập khẩu qua biên giới Việt - Trung thực tế trong thời gian qua cho thấy: buôn bán chính ngạch và tiểu ngạch không khác nhau lắm, về cơ bản có rất nhiều điểm giống nhau. Chẳng hạn khối lượng lô hàng xuất nhập khẩu tiểu ngạch nhiều khi cũng lớn không kém gì xuất nhập khẩu chính ngạch; thanh toán cũng chủ yếu theo phương thức “tiền trao cháo múc’’ bằng tiền mặt, hàng đổi hàng, còn thanh toán qua ngân hàng bằng L/C rất ít; phương thức, quy trình kiểm tra, giao nhận hàng hoá cũng như nhau. Việc phân biệt xuất nhập khẩu chính ngạch và xuất nhập khẩu tiểu ngạch thực ra là theo giấy phép của từng lô hàng khi qua biên giới.
Nếu lô hàng có giấy phép do Bộ Công thương (trước đây là Bộ thương mại) cấp thì gọi là xuất nhập khẩu chính ngạch, còn nếu lô hàng có giấy phép do UBND các tỉnh biên giới cấp (hoặc các ngành chức năng của tỉnh được uỷ quyền cấp) thì gọi là xuất nhập khẩu tiểu ngạch. Một vấn đề đáng lưu ý là: việc phân biệt chính ngạch và tiểu ngạch chỉ có ý nghĩa đối với phía Việt Nam. Bởi vì, trong rất nhiều trường hợp lô hàng bên Việt Nam là hàng xuất nhập khẩu chính ngạch, nhưng cũng lô hàng đó đối với phía Trung Quốc lại không phải là chính ngạch (quốc mậu) mà là hàng tiểu ngạch (biên mậu) do các đơn vị không được phép làm xuất nhập khẩu trực tiếp thực hiện (các công ty biên mậu). Điều đó lý giải thêm tại sao xuất nhập khẩu chính ngạch qua biên giới Việt - Trung trong đại đa số trường hợp chưa hoàn toàn là xuất nhập khẩu chính ngạch theo thông lệ tập quán quốc tế.