LỜI MỞ ĐẦU Thực vật được đồng tiến hóa cùng với động vật, vi khuẩn, vi nấm và virus hàng triệu năm cho đến ngày nay. Các hợp chất chuyển hóa thứ cấp không tham gia vào sự chuyển hóa sơ cấp như quang tổng hợp và hô hấp được thích nghi trong quá trình tiến hóa với các điều kiện bất lợi của môi trường. Phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học cao trong thực vật luôn là chìa khóa để tìm hiểu hóa sinh con người và tạo ra các thuốc mới, do đó là vấn đề nghiên cứu có nhiều ý nghĩa khoa học và ứng dụng thực tiễn và được xã hội đặc biệt quan tâm. Với các nước có nền y học cổ truyền dựa trên kiến thức về các cây thuốc dân tộc, các dữ liệu về thành phần hóa học còn có thể giúp đánh giá độ an toàn và hiệu quả của các thuốc từ thực vật (dược thảo), điều đã được qui định năm 1962 bởi sửa đổi Kefauver-Harris cho USA Federal Pure Food and Drug Act (năm 1906) và Federal Pure Food, Drug and Cosmetic Act (năm 1906) và sau đó là Food and Drug Agency (FDA) từ năm 1972, cũng như xác định nhanh các chất chưa biết từ một cây thuốc.
Do lợi ích của các nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học với việc công nghiệp hóa thuốc từ dược thảo, các nghiên cứu này phát triển mạnh ở các nước tiên tiến trên thế giới như Mỹ, Đức và Pháp. Họ Đại kích hay họ Thầu dầu (danh pháp khoa học Euphorbiaceae) là một họ lớn của thực vật có hoa với 240 chi và khoảng 6. Họ Đại kích phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới, với phần lớn các loài tập trung ở Indonesia, Malaysia và sau đó là khu vực nhiệt đới Châu Mỹ. Ba loài cây thuộc họ này đã được lựa chọn cho nghiên cứu sàng lọc hóa thực vật là cây Bục nâu (Mallotus mollissimus (Geisel.) Airy-Shaw), cây Xương khô (Euphorbia tirucalli L.) và cây Thầu dầu tía (Jatropha gossypfolia Wall.
Sàng lọc sắc ký và phân lập sơ bộ cho thấy sự đa dạng nhóm cấu trúc thiên nhiên trong cây Bục nâu, trong khi các cây còn lại chứa chủ yếu các sterol và acid béo, do đó Mallotus mollissimus đã được lựa chọn cho nghiên cứu sâu về hóa thực vật áp dung mô hình phân tách hệ thống. Một số loài Mallotus được biết đến là có chứa nhiều nhóm hợp chất thiên nhiên, chủ yếu là các diterpenoid, triterpenoid, steroid, flavonoid, coumarinolignoid, 1 Ngọ Thị Thu Huyền Cao học K24 Luận văn Thạc sĩ Khoa Hóa học – ĐH KHTN HN phrologlucinol hoặc các chất chứa vòng benzopyran. Các chất này cho nhiều hoạt tính sinh học có giá trị như kháng khuẩn, chống ung thư và chống oxi hóa. Mặc dù một số loài Mallotus đã được nghiên cứu, sự hiểu biết về các loài Mallotus khác vẫn còn chưa được đầy đủ.
Trong Luận văn Thạc sĩ này chúng tôi mong muốn được bổ sung những hiểu biết mới nhất về hóa học chi Mallotus nói chung và loài Mallotus mollisimus nói riêng. Cây Mallotus mollisimus (Geisel.) Airy-Shaw chưa được nghiên cứu về hóa học. Mục tiêu của nghiên cứu này là áp dụng các kỹ thuật sắc ký phân tích và điều chế để phân lập các hợp chất thành phần từ cây thuốc Bục nâu (Mallotus mollisimus), xác định cấu trúc các hợp chất này bằng các phương pháp phổ hiện đại, qua đó tiếp cận được các chức năng sinh học của các chất được phân lập bằng các thử nghiệm hoạt tính sinh học, và xây dựng được dữ liệu về tiềm năng ứng dụng của loài cây này. Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau: 1) Xây dựng quy trình chiết các hợp chất hữu cơ thiên nhiên từ lá cây Bục nâu; 2) Phân tích sắc ký lớp mỏng các phần chiết để định tính các phần chiết và xác định các hệ dung môi gradient thích hợp cho phân tích sắc ký cột; 3) Phân tách các phần chiết và phân lập các hợp chất thành phần chính bằng các phương pháp sắc ký điều chế; 4) Xác định cấu trúc các hợp chất bằng các phương pháp phổ hiện đại; 5) Thử nghiệm hoạt tính sinh học của một số hợp chất được phân lập.
2 Ngọ Thị Thu Huyền Cao học K24 Luận văn Thạc sĩ Khoa Hóa học – ĐH KHTN HN Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHI MALLOTUS 1.1 Đặc điểm thực vật [2] Họ Thầu dầu hay họ Đại kích (danh pháp khoa học Euphorbiaceae) là một họ lớn của thực vật có hoa với 240 chi và khoảng 6. Phần lớn là cây thân thảo, nhưng ở khu vực nhiệt đới cũng tồn tại các loài cây bụi hoặc cây thân gỗ. Một số loài cây chứa nhiều nước và tương tự như các loài xương rồng. Họ Euphorbiaceae phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới, với phần lớn các loài tập trung trong khu vực Indomalaya và sau đó là khu vực nhiệt đới châu Mỹ.
Tại khu vực nhiệt đới châu Phi cũng có nhiều loài, giống, thứ, nhưng không đa dạng như hai khu vực kể trên. Tuy nhiên, họ Euphorbiaceae cũng có nhiều loài trong các khu vực cận nhiệt, như khu vực Địa Trung Hải, Trung Đông, miền nam châu Phi hay miền nam Hoa Kỳ. Chi Mallotus là chi tương đối lớn trong họ Euphorbiaceae, phân bố rải rác chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt khắp các châu lục, trừ châu Mỹ. Nơi tập trung sự đa dạng cao nhất của chi này là vùng nhiệt đới Nam Á và Đông Nam Á.
Tại khu vực nhiệt đới châu Phi và Madagascar có 2 loài, trong khi khoảng 140 loài khác được tìm thấy tại Đông và Đông Nam Á cũng như khu vực từ Indomalaysia tới New Caledonia, miền bắc và miền đông Australia. Ở Việt Nam, có khoảng 36 loài, trong đó khoảng 10 loài là những cây cho gỗ, gôm lắc, nhuộm và làm thuốc. Một số loài là những cây tiên phong trên đất nương rẫy. Có một số cây thuộc chi Mallotus được sử dụng làm thuốc trong y học cổ truyền như bùng bục (Mallotus barbatus) chữa đau dạ dày, viêm loét hành tá tràng; rùm nao (Mallotus philippinensis) có tác dụng tẩy giun.
Các loài Mallotus thường mọc trên núi cao ở độ cao 1000 m so với mực nước biển. Cá biệt một số loài có thể mọc ở độ cao 2000 m so với mực nước biển như Mallotus oreophilus Mull.2 Các loài thuộc chi Mallotus của Việt Nam [2] Mallotus là một họ cây phổ biến ở Việt Nam với số lượng lớn và đa dạng về loài. Hầu hết các cây thuộc chi Mallotus là cây thân gỗ nhỏ hoặc cây bụi, ưa sáng, 3 Ngọ Thị Thu Huyền Cao học K24 Luận văn Thạc sĩ Khoa Hóa học – ĐH KHTN HN sinh trưởng vào mùa hè và mùa thu. Cây ra hoa vào mùa hè và quả thu hoạch vụ cuối thu.
Vào mùa đông cây sinh trưởng kém. Cây có thể phát triển qua nhiều năm tạo thành bụi lớn. Một số loài Mallotus phổ biến ở Việt Nam được liệt kê trong Bảng 1. Bảng 1: Một số loài Mallotus phổ biến của Việt Nam STT Tên khoa học Tên Việt Nam Vùng phân bố Mallotus anisopodus 1 Ruối khế Châu Đốc (Gagn.) Airy-Shaw Mallotus apelta Ruông, Ba bét trắng, Lá 2 cám, Bài bài, Mạy tạp chỉ Bà Rịa, Sài Gòn (Lour.
-Arg (Thái), Co po hu (Thái) Mallotus chrysocarpus 3 Ruối trái vàng Hà Sơn Bình Pampan Mallotus clellandii Đồng Nai, Côn 4 Ruối clelland (Hook. Sơn Mallotus eberhardtii Thừa Thiên, Hà 5 Ngoát Gagn. Tiên Mallotus floribundus Thừa Thiên, Đà 6 Bạch đan, Ruối Trung Bộ Nẵng, Nha Trang, (Bl. Phú Quốc Mallotus glabriusculus Phan Rang, Biên 7 Ruối không lọng (Kurz) Pax & Hoffm.
Hòa, Côn Sơn Mallotus hookerianus Từ Quảng Trị đến 8 Ruối Hooker Muell. Nha Trang Mallotus lanceolantus Nha Trang, Phan 9 Ruối thon Rang, sông Đồng (Gagn. -Shaw Nai, Bà Rịa Mallotus luchenensis Cám lợn, Bùm bụp, Ruối 10 Hà Sơn Bình Metcalfe Luchen Mallotus macrostachyus 11 Ruối đuôi to Bình Trị Thiên (Miq. -Arg 4 Ngọ Thị Thu Huyền Cao học K24 Luận văn Thạc sĩ Khoa Hóa học – ĐH KHTN HN Mallotus metcalfianus Đam Hà, Quảng 12 Ruối Metcalf Croiz Ninh Mallotus microcarpus 13 Ruối trái nhỏ Hà Sơn Bình Pax & Hoffm.
Mallotus mollissimus 14 Ruối mềm Thủ Đức, Bà Rịa (Geis. -Shaw Mallotus obongifolius Rừng 400-800 m Cám heo, Chóc móc, 15 từ Huế đến Châu (Miq. Ruối tròn dài Đốc Mallotus paniculatus 16 Bông bệt, Ba bét Nam Phú Quốc (Lamk. Mallotus peltatus 17 Ruối lọng (Geis.
Mallotus pierei Biên Hòa, núi 18 Ruối pierre (Gagn. -Shaw Dinh Rừng thứ sinh từ Mallotus philippensis Ba-chia, Rùm nao, Thuốc 19 Cao Lạng đến Phú (Lamk. sán Quốc Mallotus poilanei 20 Sita QuảngTrị Gagn. Mallotus repandus 21 Ruối tràn Biên Hòa (Willd.
Mallotus resinosus Lạng Sơn, Hà 22 Ruối resin Nam Ninh, Nha (Bl. Trang, Phan Rang Mallotus spodocarpus 23 Ruối trái-sét-kẽm A. –Shaw Mallotus tetracoccus Sapa, Hòa Bình, 24 Ruối trắng Nghệ Tĩnh, Quảng (Roxb.) Kurz Trị, Đồng Nai Mallotus thorelii 25 Ruối Thorel Rừng hỗn hợp Gagn. Mallotus tsiangii 26 Ruối Tsiang Tam Đảo Merr.
& Chun 5 Ngọ Thị Thu Huyền Cao học K24 Luận văn Thạc sĩ Khoa Hóa học – ĐH KHTN HN 1.2 CÁC NGHIÊN CỨU HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC Các loài Mallotus cho một nhóm lớn chất với sự đa dạng cấu trúc thuộc các nhóm terpenoid và steroid, phenolic, và một số hợp chất khác như acid béo, benzopyran. Khoảng 140 chất đã được phân lập, phần lớn chúng chưa được thử nghiệm các hoạt tính sinh học.1 Terpenoid và steroid 1.1 Diterpenoid và diterpen lacton Các diterpenoid vòng lớn (1-5) được phân lập từ M. Các casban diterpenoid với hệ vòng -lacton , không no, các hookerianolid A, B và C (6-8), được phân lập từ M. Các lacton diterpen cũng được phân lập từ M.
repandus như các chất mallotucin A (9), B (10), C (11) và D (12). Me Me Me O CH2 O CH2 O CH2 HO HO Me Me Me Me Me Me Me O Me OH Me OH 1 2 3 OH OH OH Me Me HO OH OH O H H H H H OH HH Me Me R H OH Me O Me Me Me 4 HO 5 O 6 R = OH 7R=H 8 R = OC2H5 O O O O O O H O O O Me Me Me CO2Me O MeO2C OAc CO2Me R O O 10 11 R = β-OH 9 12 R = α-OH 6 Ngọ Thị Thu Huyền Cao học K24 Luận văn Thạc sĩ Khoa Hóa học – ĐH KHTN HN Bảng 2: Diterpenoid và diterpen lacton STT Hợp chất Nguồn TLTK 1 10-Hydroxycembren-5-on M. apelta [12] 2 6-Hydroxycembren-5,10-dion M.2 Cardenolid Nhóm nhỏ các chất cardenolid được tìm thấy trong hạt M. philippinensis bao gồm 4 genin (13, 14, 18, 19) và 3 chất glycosid (15-17).