CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH SONG NGỮ KHMER-VIỆT Ở ĐBSCL VÀ MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Khái quát tình hình song ngữ Khmer-Việt ở ĐBSCL 1.1 Vài nét về cộng đồng người Khmer ở ĐBSCL 1.1 Lược sử hình thành ĐBSCL ĐBSCL là một đồng bằng rộng lớn, được hình thành trong quá trình địa chất lâu dài, chủ yếu do sự bồi đắp phù sa của sông Cửu Long. ĐBSCL xuất hiện rất muộn so với những vùng đồng bằng khác ở nước ta nhưng lại rất phát triển về nông nghiệp. Cho đến nay, nơi này đã trở thành một trong những khu vực kinh tế trọng điểm của Việt Nam. Với diện tích khoảng 40.000 km2, ĐBSCL bao gồm 12 tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ, đó là: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau [4; 20].
Nói về lịch sử hình thành của ĐBSCL, Lê Bá Thảo cho rằng: “Cách đây 2.500 năm dưới sự che chở của các cồn duyên hải, của đồi núi miền Đông Nam Bộ ở phía Bắc và dãy Đậu Khấu ở phía Tây Nam, vịnh biển vùng sông Cửu Long được lấp dần” [43]. Cùng với sự rút lui của nước biển, ĐBSCL đã dần vượt lên trên mặt nước biển. ĐBSCL cũng chịu ảnh hưởng của các dòng thủy triều mạnh nên bị chia cắt thành các lạch triều lớn nhỏ đan cắt vào nhau, hình thành các kênh rạch như ngày nay. Ngoài ra, nhà địa lý Phan Huy Xu và Trần Văn Thành cho rằng, “đồng bằng châu thổ sông Cửu Long dần dần nổi lên mực nước biển cách đây khoảng 2.
Song, cách nay không quá 2.000 năm đồng bằng châu thổ sông Cửu Long hiện đại cơ bản đã được hình thành”.2 Cộng đồng người Khmer ở ĐBSCL Vấn đề dân cư ở ĐBSCL được nhà dân tộc học Mạc Đường mô tả rằng, từ thời cổ đã có những nhóm người đầu tiên xuất hiện và sinh sống ở những vùng đất cao, ở các giồng cát có nước ngọt ven biển, như vùng núi An Giang, vùng đất phù sa cổ Bắc Long An, vùng giồng cát ven biển Trà Vinh, Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Giồng Riềng và Hà Tiên. 10 Vào những thế kỉ đầu công nguyên, nền văn hóa Óc Eo ra đời dựa trên sự khai thác vùng ĐBSCL, đã đánh dấu sự ra đời của một nền văn hóa rực rỡ, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc chinh phục vùng đất này. Năm 1944, nhà khảo cổ học Pháp Louis Malleret đã tiến hành khai quật ở địa điểm Óc Eo, phát hiện nhiều di tích kiến trúc và hiện vật quý của nước Phù Nam – một quốc gia ven biển mà trung tâm là các tỉnh thuộc ĐBSCL ngày nay của Việt Nam. Phù Nam đã phát triển thành đế chế lớn mạnh từ thế kỉ III đến thế kỉ VI nhưng đến cuối thế kỉ VI thì bắt đầu quá trình tan rã.
Quốc gia Chân Lạp do người Khmer (thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer, ngữ hệ Nam Á) xây dựng ở vùng trung lưu sông Mê Kông và khu vực phía Bắc Biển Hồ, là một thuộc quốc của Phù Nam. Vào thế kỉ VI, Chân Lạp phát triển thành một vương quốc độc lập, nhân sự suy yếu của Phù Nam đã tấn công chiếm lấy một phần lãnh thổ của đế chế này vào đầu thế kỉ VII, lập nên vùng đất Thủy Chân Lạp. Từ đây, vùng đất Tây Nam Bộ trên danh nghĩa bị đặt dưới quyền kiểm soát của Lục Chân Lạp, nhưng trên thực tế phải giao lại cho những người thuộc dòng dõi Phù Nam quản lý. Từ thế kỉ IX đến cuối thế kỉ XI, Chân Lạp tập trung sức lực phát triển các vùng trung tâm truyền thống của mình ở khu vực Biển Hồ, trung lưu sông Mê Kông và mở rộng ảnh hưởng sang phía Tây đã tạo dựng nên nền văn minh Angkor rực rỡ.
Cho đến thế kỉ XIII, cư dân ở vùng đất Tây Nam Bộ vẫn thưa thớt. Từ thế kỉ XII, những người nông dân Khmer nghèo khổ bị các thế lực phong kiến của đế chế Angkor đàn áp, bóc lột với các loại thuế khóa nặng nề, họ đã di cư đến các giống cát lớn trên mảnh đất phù sa ĐBSCL. Từ thế kỉ XV, để tránh khỏi sự đàn áp và bóc lột của các thế lực phong kiến Thái Lan, đặc biệt là vương triều Ayutthaya, nhiều nhóm người Khmer, trong đó có cả sư sãi và trí thức Khmer đã di cư đến khu vực này sinh sống. Tại đây, họ hòa nhập với những người Khmer đến trước, hình thành các đặc điểm dân cư tập trung của người Khmer.
Đến cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, về đại thể, ĐBSCL đã hình thành ba vùng dân cư tập trung của người Khmer: - Vùng Sóc Trăng-Bạc Liêu-Cà Mau (chủ yếu là Sóc Trăng, Vĩnh Châu, 11 Vĩnh Lợi) - Vùng An Giang-Kiên Giang (chủ yếu là Vọng Thê, Tri Tôn, Nhà Bàng, sau đến phía Tây-Bắc Hà Tiên) - Vùng Trà Vinh-Vĩnh Long Như vậy, người Khmer ở ĐBSCL với người Khmer ở Campuchia là những nhóm tộc người có chung nguồn gốc lịch sử, rất gần nhau về đặc trưng văn hóa tộc người. Nhưng do sống tách biệt lâu dài với người Khmer đồng tộc ở Campuchia nên người Khmer ở ĐBSCL có những đặc điểm riêng về cư trú, kinh tế, văn hóa, xã hội. [4; 27–28] Theo kết quả điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009 (Tổng cục Thống kê - Thông cáo Báo chí), cộng đồng người Khmer ở ĐBSCL có khoảng 1,3 triệu người. Họ sống tập trung ở các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Cà Mau, Bạc Liêu và rải rác ở các tỉnh Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai.
Trong đó các tỉnh Trà Vinh (245.252 người), Sóc Trăng (289.263 người) và Kiên Giang (145.469 người) là những tỉnh có người Khmer cư trú đông nhất (tỉnh Trà Vinh người Khmer chiếm tỉ lệ gần 30% số dân toàn tỉnh). Tiếng Khmer ĐBSCL với tiếng Khmer ở Campuchia là một ngôn ngữ. Người Khmer ở Việt Nam còn có một tên gọi khác là người Miên. Người Khmer có mặt ở hầu hết các tỉnh của vùng đất Tây Nam Bộ nhưng quy tụ vào ba vùng trọng điểm, mỗi vùng có những sắc thái riêng quy định bởi điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử và quá trình cộng cư hòa hợp với các dân tộc anh em Kinh, Hoa, Chăm.
Đó là: vùng Trà Vinh – Trà Cú, một trong những vùng cư trú cổ xưa nhất của người Khmer; vùng ven biển Sóc Trăng – Bạc Liêu là vùng cư trú nổi bật bởi sự hòa hợp văn hợp văn hóa – nhân chủng giữa ba dân tộc Khmer, Kinh, Hoa; vùng ven biên giới Tịnh Biên, Tri Tôn (An Giang), Hà Tiên (Kiên Giang) là vùng mang tính trung gian giữa người Khmer ở ĐBSCL và người Khmer ở Campuchia. Tuy là một ngôn ngữ chung nhưng tiếng Khmer ở ĐBSCL vẫn có những nét khác biệt nhất định so với người Khmer ở Campuchia. Người Khmer thường sống tập trung theo từng cụm, từng làng xã (gọi là 12 Phum hay Khum) hoặc theo từng cụm dân cư lớn hơn gọi là Sóc (Srok) cư trú chung quanh chùa chiền. Hầu hết người Khmer ở ĐBSCL đều theo Phật giáo Tiểu Thừa, một tôn giáo tu hành rõ nét [4; 152].
Tầng lớp nhà sư có vai trò xã hội – văn hóa rất quan trọng trong đời sống hằng ngày.3 Đời sống cộng đồng người Khmer ở ĐBSCL Cộng đồng người Khmer ĐBSCL là cư dân nông nghiệp lúa nước nên yếu tố tự nhiên của địa hình đã ảnh hưởng đến các kiểu, loại hình cư trú của người Khmer ĐBSCL. Họ thường cư trú tập trung một khu vực bám sát đất trồng trọt thành phum và sóc, xen kẽ với các ấp của người Kinh và khu dân cư của người Hoa. Tín ngưỡng của người Khmer ĐBSCL phần lớn có liên quan đến nông nghiệp như thờ Mặt Trăng, thờ Hồn lúa (Mẹ lúa), thờ Arăk, Neak Tà. Đa số người Khmer theo Phật giáo Theravada hay còn gọi là Phật giáo Nam tông.
Phật giáo đã chi phối sâu sắc trong đời sống tinh thần của người Khmer ĐBSCL. Họ đặt mọi niềm tin vào Phật giáo mà điểm hội tụ là các ngôi chùa và sư sãi. Mỗi phum, sóc có ít nhất một ngôi chùa. Hiện nay, cả vùng Nam bộ có 460 ngôi chùa Phật giáo Nam Tông.
Do cùng cộng cư lâu dài với người Khmer ĐBSCL, nên dù không theo Phật giáo Nam Tông nhưng người Kinh, người Hoa trong vùng vẫn đi chùa Khmer cầu Phật, cúng kính và mời các vị sư Khmer về nhà cầu kinh, ban phước lành. Lễ hội người Khmer ĐBSCL mang đậm dấu ấn của nghi lễ nông nghiệp, tín ngưỡng dân gian, nghi thức của Balamôn giáo và Phật giáo Nam Tông. Một số lễ hội tiêu biểu như Chol Chnam Thmây (lễ vào năm mới), Sen Đôn ta (lễ cúng ông bà), Ok Om Bok (lễ cúng trăng), lễ Cầu An, lễ Dâng Bông, lễ Dâng Y… Đặc biệt là vào dịp Ok Om Bok, ở Sóc Trăng và Trà Vinh tổ chức lớn nên thu hút đông đảo người Khmer, Kinh, Hoa ở địa phương và cả khu vực khác cùng tham gia. Hội đua ghe ngo, hội đua bò của người Khmer ĐBSCL đã trở thành một nét văn hóa đặc sắc của người Khmer hằng năm.
Mặt khác, do họ cũng là người Việt Nam, nên ngày Tết Nguyên Đán của dân tộc Kinh, người Khmer ĐBSCL cũng xem trọng. Người Khmer ĐBSCL có chữ viết ra đời khá sớm (khoảng thế kỉ thứ III sau công nguyên). Loại chữ này bắt nguồn từ một thứ chữ mà người ta đã dùng ở 13 miền Nam Ấn Độ vào thế kỉ thứ I sau công nguyên. Do ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ ở khu vực, chữ Khmer được hình thành và đã dần dần hoàn chỉnh qua nhiều lần cải cách.4 Tiếng Khmer Ngôn ngữ chủ yếu của người Khmer là tiếng Khmer mà chúng tôi nói đến ở đây là ngôn ngữ của một bộ phận người Khmer sinh sống trên vùng đất ĐBSCL ở Việt Nam.
Tiếng Khmer thuộc nhóm Khmer của nhánh Môn-Khmer. Đây là ngôn ngữ của người Khmer sống ở Campuchia và phần ĐBSCL Việt Nam. Số lượng người sử dụng ngôn ngữ này là 12,1 triệu người ở Campuchia (2004) và khoảng 1,1 triệu người ở các tỉnh ĐBSCL. Đây là một ngôn ngữ tuy có người sử dụng đông đảo đứng hàng thứ hai của họ Nam Á nhưng có rất ít sự khác biệt về phương ngữ.
Ngôn ngữ này có một quá trình phát triển được ghi chép khá đầy đủ văn tự nên việc nghiên cứu nó là rất quan trọng đối việc nghiên cứu các ngôn ngữ khác trong vùng.