CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN 1. Tổng quan về các loài hải miên 1. Giới thiệu chung về hải miên Hải miên là các loài động vật thuộc ngành Porifera (động vật ăn lọc – pore bearer). Cơ thể của chúng bao gồm một lớp trung mô dạng thạch được kẹp giữa hai màng tế bào mỏng.
Trong khi tất cả các loài động vật khác có các tế bào chưa biệt hóa có thể chuyển thành các dạng tế bào chuyên biệt khác nhau thì duy nhất các loài hải miên có một số tế bào đã được biệt hóa mà vẫn có thể chuyển thành các dạng tế bào khác. Hải miên không có hệ thần kinh, hệ tiêu hóa hoặc hệ tuần hoàn. Thay vào đó, hầu hết chúng dựa vào việc duy trì một dòng nước ổn định chảy qua cơ thể để thu nhận thức ăn và ôxy cũng như thải các chất cặn bã và hình dáng cơ thể của chúng thích nghi tối đa với việc duy trì hiệu quả của dòng nước chảy qua cơ thể. Đa phần hải miên là các loài phân bố rộng khắp từ các vùng thủy triều cho tới tận độ sâu hơn 8800 m,một số ít sống ở vùng nước ngọt và nước lợ.
Hải miên được chia thành ba lớp chủ yếu dựa trên thành phần cấu tạo bộ khung cơ thể của chúng: - Lớp Hexactinellida (hải miên silic) có các nhánh silicat, nhánh lớn nhất có sáu cánh có thể tách rời hoặc đính với nhau. Thành phần cơ thể chính của chúng là hợp bào (syncytia) trong đó phần lớn các tế bào có chung một màng ngoài đơn. - Lớp Calcarea (hải miên đá vôi) có bộ khung cơ thể tạo bởi canxi, một dạng canxi cacbonat, có thể tạo thành các nhánh riêng biệt hoặc thành mạng lưới lớn. Tất cả các tế bào có một nhân và màng.
- Lớp Demospongiae (hải miên mềm) hầu hết có các nhánh silicat hoặc sợi xốp hoặc hỗn hợp cả hai trong các mô mềm của chúng. Tuy nhiên, một số loài có chứa cơ quan ngoài đặc tạo nên bởi aragnoit, một dạng canxi cacbonat khác [37]. Tất cả các tế bào có một nhân và màng. - Ngoài ra, còn có lớp Archeocyatha chỉ được biết đến qua các hóa thạch từ thời Cambri [37].
3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Giới thiệu chung về giốngIrcinia Lớp: Demospongiae Bộ: Dictyoceratida Họ: Irciniidae Giống: Ircinia GiốngIrciniaphong phú đa dạng về loài, khoảng 70 loài đã được phát hiện, điển hình như: I. ramosa … Chúng sinh sống phổ biến tại các vùng biển trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Cũng như các loài hải miên khác, giốngIrcinia chứa hàm lượng cao các hợp chất steroid, và các hợp chất trao đổi thứ cấp này giữ vai trò quan trọng cho sự sống của hải miên với các chức năng bảo vệ, cạnh tranh, sinh sản và nhiều chức năng pheromone.
Dưới đây là hình ảnh một số loài hải miên thuộc giốngIrcinia: Hình 1. Hình ảnh một số loài hải miên thuộc giống Ircinia 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nghiên cứu hóa học và hoạt tính sinh học của giốngIrcinia Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học các loài thuộc giốngIrcinia. Hiện nay các nhà khoa học đã phát hiện được trên 150 hợp chất từcác loài thuộc giốngIrcinia.
Thành phần hóa học chủ yếu của giống này là các nhóm chất thuộc nhóm steroid,terpenoid, alkaloidvà một số các hợp chất khác. Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các loài I. felixvà một số loài Ircinia sp.Tuy nhiên, theo tổng quan tài liệu về các loài thuộc giống Ircinia, hiện chưa có nghiên cứu nào về thành phần hóa học cũng như hoạt tính sinh học loài hải miên Irciniaechinataở Việt Nam cũng như trên thế giới. Dưới đây là tổng quan các nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học về các loài thuộc giống Ircinia.
Các hợp chất terpenoid Từ loài hải miên I. formosana ở vùng biển Thái Lan, Shen và cộng sự đã phân lập được 7hợp chấtmới, irciformonin E–K (1 – 7)và 1 hợp chất đã biết, irciformonin A(8), các hợp chất này đã được thử nghiệm tác dụng kháng virusherpes loại 1 (HSV-1) và đánh giá ảnh hưởng tăng sinh tế bào máu đơn nhân gây ra bởi phytohemagglutinin[38]. Cũng từ loài hải miên này Shen và cộng sự đã tìm ra 4 hợp chất irciformonin A-D (9-12). Trong đó hợp chất 9 và 10biểu hiện khả năng gây độc đáng kể đối với các tế bào khối u đại tràng ở người[39].
Hợp chất fasciculatin (13) được tìm thấy từ 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dịch chiếtchloroform của loài hải miên I. variabilis thu thập từ bờ biển Đại Tây Dương và nghiên cứu ảnh hưởng của hợp chất này theo sự đáp ứng mitogenic của tế bào lympho ở người với phytohemagglutinin (PHA) cũng như đối với sự phát triển của các tế bào ung thư ở người: gồm MCF-7, NCI-H640 và SF-268[36].Một loạt các hợp chất sesterterpene (8Z,13Z,18S,20Z)-strobilinin (14), (8Z,13Z,18S,20Z)-22- O-methylstrobilinin (15), (7E,12Z,18S,20Z)-variabilin (16), (7E,12Z,18S,20Z)-22- O-methylvariabilin (17), (7E,12E,18S,20Z)-variabilin (18), (7E,12E,18S,20Z)-22-O- methylvariabilin (19), (7E,13Z,-18S,20Z)-variabilin (20), (7E,13Z,18S,20Z)-22-O- methylvariabilin (21), (7Z,12Z,20Z)-variabilin (22), (7Z,12Z,20Z)-22-O- methylvariabilin (23) được phân lập từ loài hải miên I. oros, hợp chất 14 và 16 là 2 hợp chất sesterterpene tetronic acid mới[19]. Từ loài hải miên Ircinia sp.,Martinez và cộng sựđã phân lập được năm hợp chất furanosesterterpene (8Z,13Z,20Z)-strobilinin (24), (7Z,13Z,20Z)-felixilin (25), (8E,13Z,20Z)-strobilinin (26), (7E,13Z,20Z)-felixilin (27), (7E,12E,18R,20Z)- 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Hai hợp chất đã biết, ircinin 1 (29), ircinin 2 (30) và hai hợp chất mới (31), (32)được phân lập từ loài hải miên I. Hợp chất palinurin (33) và 5 hợp chất (34-38) được phân lập từ loài hải miên I. Bahợp chất ircinolin A (39), 15-acetylirciformonin B (40), 10- acetylirciformonin B (41) được Su và cộng sự phân lập từ 1 loài hải miên của giốngIrcinia. Các hợp chất này được nghiên cứu khả năng gây độc chống lại bệnh bạch cầu mãn tính dòng tủy ở người (K562), ung thư đại tràng ở người (DLD-1) và các dòng tế bào ung thư biểu mô gan ở người (HepG2 và Hep3B)[42].
Một loạt các hợp chất furanosesterterpene (12E,20Z,18S)-8-hydroxyvariabilin (42), ircinialactam A (43), 8-hydroxyircinialactam B (44), 8-hydroxyircinialactam A (45), ircinialactam C (46), ent-ircinialactam C (47), ircinialactam D (48), 7,8- dihydroisopalinurin (49) và cometin A(50) được phân lập từ loài hải miên thuộcgiống Ircinia thuộc vùng biển Australia[4]. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bốn hợp chất sesquiterpenoid (51-54) được phân lập từ hải miên Ircinia Hàn Quốc [17]. Cũng từ 1 loài hải miên thuộc giống Ircinia thu thập tại biển Mexico, Yang và cộng sự đã tìm được hợp chất sesterterpene Sch 599473 (55) với cấu hình chưa được xác định và 1 hợp chất đã biết, sulfircin (56). Hợp chất56 thể hiện hoạt tính ức chế sự kết hợp thụ thể CCR7.
Giá trị IC50 của 55 và 56 trong nghiên cứu này lần lượt là 33. Năm hợp chất sesterterpene mới (57-61) được tìm thấy ở 1 loài hải miên thuộc giống Ircinia sp. Chúng thể hiện hoạt tính gây độc tế bào trung bình đối với tế bào KB [20]. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Buchanan và các cộng sự tìm thấy 4 hợp chất cheilanthane sesterterpene, 25- hydroxy-13(24),15,17-cheilanthatrien-19,25-olide (62), 13,16-epoxy-25-hydroxy-17- cheilanthen-19,25-olide (63), 25-hydroxy-13(24),17-cheilanthadien-16,19-olide (64) và 16,25-dihydroxy-13(24),17-cheilanthadien-19,25-olide (65) từ 1 loài hải miên thuộc giốngIrcinia trong đó 3 hợp chất 62, 63 và 65là những hợp chất mới.
Các hợp 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất này đều là các tác nhân ức chế enzyme MSK1 và MAPKAPK-2[7].Ircinianin (66)và wistarin (67)tìm thấy ở loài hải miên I. Từ loài hải miên I. felix,bảy hợp chất felixin A-G (68-74) được phân lập, trong đó 5 hợp chất felixin A-E có khả năng gây độc tế bào đối với các tế bào khối u DLD-1 [28]. Hợp chất felixin F (73)được phát hiện có khả năng ức chế sự phát triển mạnh các dòng tế bào ung thư K562, MOLT-4 vàSUP-T1 (IC50 ≤ 5.0 μM) [34] trong khi hợp chất felixin G (74) không nhận thấy có tác dụng ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư này.
Năm hợp chất sterol, cholest-5-en-3β-ol-7-one (75), cholest-5,23-dien-3β-ol-7- one (76), 24E-ethyl-cholest-5-en-3β,7-diol-7-one (77), 24E-ethyl-cholest-5-en-3β-ol (78), 24-ethyl-cholest-5,24(28)-dien-3β,7-diol (79) từ loài hải miên I.Hợp chất 9,11-secosterol (80) được phân lập từ 1 loài hải miêngiốngIrcinia. Hợp chất này thể hiện hoạt tính mạnh chống lại vi khuẩn Micrococcus lutes ATCC 9341 với giá trị IC50 là 3. Từ loài hải miên I. fasciculata thu thập ở Ấn Độ người ta đã tìm thấy hợp chất 5α,6α-epoxy-3β,7α- dihydroxycholest-8(14)-ene (81)[45].
Từ 1 loài hải miênIrciniasp thu ở đảo 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Okinawa, Nhật Bản, Kobayashi và cộng sự đã phân lập được ba hợp chất thuộckhung sterol,xestobergsterol C(82), xestobergsterol A (83), xestobergsterol B(84)[25]. Sáu hợp chất steroid mới, 5α,6α-epoxy-26,27-dinorergosta-7,22-en-3β-ol (85), 5α,6α-epoxycholesta-7,22-en-3β-ol (86), 5α,6α-epoxyergosta-7,24(28)-en-3β- ol (87), 5α,6α-epoxyergosta-7-en-3β-ol (88), 5α,6α-epoxystigmasta-7,22-en-3β-ol (89), 5α,6α-epoxystigmasta-7-en-3β-ol (90) được Xu và cộng sự tìm thấy ở loài hải miên I.Năm 1898, một loạt các hợp chất trihydroxysterol (91-105) được phân lập từ loài hải miên I. HO R1 H H O R2 H OH HH H O HO OH 82 R1=H, R2=OH HO H 83 R1=R2=H HO OH OH 80 81 OH 84 R1=R2=OH O O R 85 86 87 R= H H HO O 88 89 90 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các hợp chất alkaloid Một loạt các hợp chất indole alkaloid 5-hydroxy-1H-indole-3-carboxylic acid ethyl ester (106), 5-hydroxy-1H-indole-3-glyoxylate ethyl ester (107), dragmacidonamine B (108), gesashidine A (109), hyrtiosulawesine (110), hyrtiomanzamine (111), hyrtimomine D (112), hyrtiosine A (113), 5-hydroxy-1H- indole-3-carbaldehyde (114) được phân lập từ loài hải miên giốngIrciniasp thu thập tại đảo Iriomote, Nhật Bản[2].
Ba hợp chất polydiscamide B-D (115-117) được phân lập từ 1 loài hải miên của giốngIrcinia [14]. Từ loài hải miên I. ramose thu ở Malaysia, bằng phương pháp hoạt tính dẫn đường, người ta phân lập được hai hợp chất irciniastatin A và B (118và 119). Hai hợp chất này được phát hiện là các tác nhân kháng ung thư rất triển vọng với giá trị IC50 trong khoảngtừ 10-4đến 10-3µg/mL trên các dòng tế bào ung thư thử nghiệm BXPC-3, MCF-7, SF268, NCI-H460, KM20L2, DU-145 và P388[34].
Một hợp chất indole alkaloid mới, tên là konbamidin (120) được phân lập từ 1 loài hải miêngiốngIrcinia thu ở Okinawa, Nhật Bản[40]. Bốn hợp chất meroterpenoid mới (121-124) được Hahn và cộng sự phân lập từ loài hải miên Ircinia sp [16]. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các hợp chất khác Ba hợp chất hydroquinone, hexaprenyl-1,4-hydroquinone (125), heptaprenyl- 1,4-hydroquinone (126), nonaprenyl-1,4-hydroquinone (127) được phân lập ở loài hải miên I.
Các hợp chất này được phát hiện có khả năng chống oxi hóa rất tốt. Ngoài ra các hợp chất này cũng được đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư gan H4IIE. Kết quả thu được cho thấy hợp chất (125) thể hiện hoạt tính gây độc tế bào ung thư mạnh vớigiá trị IC50là 2. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ dịch chiết của loài hải miên I.
spinosulangười ta cũng đã phân lập được bốn hợp chất hydroquinone, 2′-[28-hydroxy]heptaprenyl-1′,4′-hydroquinone(128), 2′-[28-hydroxy]hexaprenyl-2′-methylchromenol (129), 2′-hexaprenyl hydroquinone (130), 2′-heptaprenyl hydroquinone (131). Các hợp chất này cho thấy khả năng chống viêm cao với giá trị IC50 1. Một dẫn xuất tetraprenylhydroquinone mới 1,4-dihydroxy-2-tetraprenylbenzene (132) được phân lập từ loài hải miên I.