CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các véc-tơ truyền bệnh sốt rét Họ muỗi Culicidae có khoảng 3500 loài, được chia thành 3 phân họ: Toxorhynchitinae, Culicinae, Anophelinae. Phân họ Anophelinae được chia thành 3 giống: Bironella, Chagasia và Anopheles. Các loài muỗi có khả năng truyền bệnh SR gọi là véc-tơ SR đều thuộc giống Anopheles.
Trên thế giới đã phát hiện được khoảng 420 loài Anopheles khác nhau, trong đó có khoảng 70 loài có khả năng truyền bệnh sốt rét ở người và chỉ có khoảng 30 loài là véc-tơ truyền bệnh chính (White, 1982) [53]. Do các đặc điểm về địa lý, khí hậu và sinh thái của muỗi mà ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có các loài truyền SR chính khác nhau. Ở Châu Phi, véc-tơ truyền SR chính là An. arabiensis; ở Trung Mỹ có An.
albimanus; ở Đông Nam Á có An. Ở Việt Nam, đã xác định 3 loài véc-tơ SR chính, đó là: An. epiroticus (trước đây gọi là An. epiroticus là đối tượng nghiên cứu chính của đề tài này.
Vị trí phân loại của muỗi Anopheles epiroticus Linton & Harbach, 2005 Giới: Động vật (Animalia) Ngành: Chân đốt (Arthropoda) Lớp: Côn trùng (Insecta) Bộ: Hai cánh (Diptera) Họ: Muỗi (Culicidae) Phân họ: Anophelinae Giống: Anopheles Phân giống: Cellia Loài: Anopheles epiroticus Linton & Harbach, 2005 1. Phân bố của muỗi Anopheles epiroticus Linton & Harbach, 2005 An. là một loài trong phức hợp loài An. sundaicus mới được định tên từ An.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng có 3 dạng 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Một số nghiên cứu dựa trên phân tích, so sánh sự sai khác về isoenzym, nhiễm sắc thể, ổ bọ gậy, tập tính trú đậu, tìm mồi giữa các loài và đưa ra kết luận có ít nhất 4 loài trong nhóm này [33,34]. Trước khi loài mới An. epiroticus được công bố (2005), Dusfour Isabelle (2004) đã vẽ bản đồ phân bố phức hợp An.
sundaicus thấy rằng chúng có mặt ở các vùng ven biển, đảo Nam Á và Đông Nam Á. Cụ thể là từ ven biển phía đông bắc Ấn Độ tới miền nam Việt Nam, tới các đảo của Indonesia. Loài A và B có phân bố rộng, còn loài C chỉ có ở phía bắc đảo Sumatra (Indonesia), loài E chỉ có ở Indonesia. Loài D được xác định có phân bố ở đảo Nicobar của Ấn Độ [33,50].
Các nghiên cứu gần đây cho thấy An. epiroticus có phân bố ở các nước Đông Nam Á từ Mianma, Thái Lan, bán đảo Malaysia, Campuchia và Việt Nam. Ở Việt Nam, An. epiroticus chỉ thấy ở vùng ven biển từ vĩ độ 10056’ (tỉnh Bình Thuận) trở vào phía Nam.
epiroticus phân bố gắn liền với các thủy vực nước lợ ven biển có thực vật thủy sinh [38], đẻ ở các thủy vực nước đứng có độ mặn từ 3 %0 đến 28 %0, độ mặn thích hợp nhất của loài này khoảng 7%0 [8]. Vai trò truyền bệnh An. epiroticus được coi là véc-tơ SR chính ở vùng đồng bằng ven biển Campuchia, Việt Nam, bán đảo Malaysia và được coi là véc-tơ phụ ở Thái Lan [33]. Nói chung, không có nhiều tài liệu ghi nhận về tỷ lệ nhiễm thoa trùng của An.
epiroticus nhưng trước đây có bằng chứng về tỷ lệ nhiễm thoa trùng ở An. sundaicus, chẳng hạn ở Banglades là 4,3% (Nasiruddin, 1952). Theo Fryauff và cs (2002) ở đảo Nias phía tây Sumatra, Indonesia An. sundaicus nhiễm thoa trùng Plasmodium vivax là 1,2% [36].
epiroticus hút máu cả người và gia súc, tỷ lệ hút máu người và gia súc ở các vùng khác nhau cũng khác nhau. Một số nghiên cứu ở miền Nam Việt Nam thấy An. epiroticus thích đốt người hơn gia súc [6]. Nhìn chung hoạt động tìm mồi của An.
epiroticus diễn ra suốt đêm nhưng đỉnh đốt mồi thay đổi theo từng địa phương. Tỷ lệ nhiễm thoa trùng của An. epiroticus ở miền Nam Việt Nam năm 1961 là 2,9%, năm 1975 là 2,7% [16]. Trong những năm gần đây, tuy không thấy 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com muỗi nhiễm trùng nhưng mật độ đốt người trung bình của An.
epiroticus rất cao (trung bình 12,8 con/giờ/người) [31] cho thấy mức độ nguy hiểm của loài này nếu như ở đây có mầm bệnh. Như vậy tuy An. epiroticus đã được xác định là véc-tơ chính truyền SR vùng ven biển Nam bộ nhưng hiện nay vai trò truyền SR của An. epiroticus không thể hiện một cách rõ ràng [6].
Các biện pháp phòng chống véc-tơ sốt rét Có thể phân loại các biện pháp PC véc-tơ thành 3 loại theo cách sử dụng là vật lý-môi trường, sinh học và hóa học. Các biện pháp vật lý và môi trường Các biện pháp vật lý có từ cổ xưa đơn giản để xua, diệt, ngăn muỗi tiếp xúc đốt người dưới các hình thức cơ học như đập, xua bằng cành lá, hun khói, đóng kín cửa, mặc quần áo dài. hoặc sử dụng lưới chống muỗi cho cửa nhà ở, nằm màn tránh muỗi đốt; trong những năm gần đây là vợt tích điện, bẫy đèn. Ngoài ra, còn phải kể đến các biện pháp cải tạo môi trường như phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh, đổ dầu, thả hạt xốp, bèo che mặt nước.
Các biện pháp sinh học Các biện pháp sinh học phòng chống véc-tơ SR thực hiện bằng cách đưa vào môi trường sống của chúng những kẻ thù tự nhiên, chẳng hạn các sinh vật gây hại hoặc động vật ăn thịt. Có thể kể đến biện pháp sử dụng cá ăn bọ gậy hoặc cá ăn rong, cỏ phá ổ đẻ của muỗi, nơi trú ẩn của bọ gậy [22]. Một số nghiên cứu và ứng dụng vi khuẩn Bacillus có khả năng tiết độc tố, khi bọ gậy ăn phải sẽ bị chết. Một số tác giả khác nghiên cứu biện pháp diệt muỗi An.
gambiae ở Châu Phi bằng cách phun lên tường vách bào tử của một số chủng nấm ký sinh như Metarhizium anisopliae hay Beauveria bassiana để gây bệnh cho muỗi, kết quả thu được là hơn 90% muỗi chết trước khi thoa trùng phát triển đến giai đoạn chín trong tuyến nước bọt của muỗi [49]. Những nghiên cứu về thay đổi bộ gen ở muỗi như gây bất thụ hoặc làm giảm khả năng dung nạp hay kháng KST SR cũng đã được tiến hành. Chẳng hạn như sử dụng thực khuẩn thể piggyBac chuyển gen có tên là AgCP[SM1]4 vào muỗi làm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chúng tổng hợp protein [SM1]4 chống lại KST, do đó làm mất khả năng tiếp nhận KST của các tế bào biểu mô dạ dày muỗi [44]. Các biện pháp hóa học Là biện pháp sử dụng các hóa chất tự nhiên hoặc tổng hợp tác động làm giảm hoặc tiêu diệt muỗi, có thể được sử dụng để phòng chống muỗi trưởng thành hoặc diệt bọ gậy.
Các biện pháp hóa học chủ yếu được sử dụng để phòng chống muỗi trưởng thành là phun tồn lưu, tẩm màn, hương xua, kem xua; đối với bọ gậy là sử dụng hóa chất thả xuống các nguồn nước – nơi sinh sống của chúng để tiêu diệt. Các biện pháp hóa học phòng chống muỗi trưởng thành đã chứng tỏ hiệu quả và đã góp phần to lớn cho thành công của Chương trình PCSR ở nước ta. Một số nhóm hóa chất đã được sử dụng để PC véc-tơ SR bao gồm clo hữu cơ, phốt pho hữu cơ, cacbamat, pyrethroid. Hiện nay, các hóa chất nhóm pyrethroid đang được sử dụng rộng rãi nhất với 2 hình thức áp dụng chủ yếu là phun tồn lưu trên tường vách và tẩm màn.
Một số hóa chất không độc với môi trường nhưng cũng có thể diệt được bọ gậy như Agnique MMF (mono molecular film) [8], dựa trên nguyên lý làm giảm sức căng bề mặt nước làm cho bọ gậy không thể nổi trên mặt nước để thở được và sẽ bị chết do thiếu ôxy. Biện pháp phun tồn lưu Phun tồn lưu hóa chất trên tường vách có tác dụng PC muỗi cao vì hóa chất có khả năng gây độc cho muỗi bằng con đường tiếp xúc. Hầu hết các loài muỗi sau khi bay vào nhà tìm mồi đều có một khoảng thời gian đậu rình mồi trong nhà trước khi đốt mồi hoặc nghỉ sau khi đốt máu trước khi bay ra khỏi nhà. Một số loài muỗi đậu trong nhà trong suốt thời gian tiêu máu và phát triển trứng.
Khi đậu trên tường vách đã được phun hóa chất, chân muỗi tiếp xúc với hóa chất và muỗi bị ngộ độc. Biện pháp tẩm màn Tác động của màn tẩm là xua và ngăn không cho muỗi hút máu người, tất cả mọi người dùng màn đều được bảo vệ, thậm chí cả khi tỷ lệ phủ màn thấp. Màn tẩm hóa chất sẽ có tác dụng diệt chết hoặc xua đuổi muỗi bay đi, không vào 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com màn đốt người được. Màn tẩm hóa chất theo liều quy định sẽ không độc hại đối với sức khỏe người.
Một số hóa chất sử dụng để tẩm màn và phun tồn lưu ở Việt Nam Năm Tên hóa chất Dạng Nồng độ Ứng dụng hóa chất 1997- Permethrin EC 500g/l Tẩm màn 2001 Lambdacyhalothrin WP 100g/kg Phun tồn lưu Alphacypermethrin SC 100g/l Tẩm màn+ phun tồn lưu 2002- Lambdacyhalothrin WP 100g/kg Phun tồn lưu 2006 Lambdacyhalothrin CS 25g/l Tẩm màn Alphacypermethrin SC 100g/l Tẩm màn + phun tồn lưu Lambdacyhalothrin WP 100g/kg Phun tồn lưu 2007- Lambdacyhalothrin CS 25g/l Tẩm màn nay Lambdacyhalothrin CS 100g/l Tẩm màn+ phun tồn lưu Nguồn: Lê Xuân Hùng, Nguyễn Mạnh Hùng, 2010 [10]. Các biện pháp sử dụng hóa chất khác Ngoài phun tồn lưu hóa chất trên tường vách trong nhà và tẩm màn với hóa chất, một số biện pháp khác cũng được nghiên cứu và áp dụng như tẩm rèm, tẩm khăn choàng, tẩm tấm đắp, bình xịt, hương muỗi, kem xua diệt muỗi. Các hình thức này thông thường chỉ áp dụng cho địa phương hay cá nhân có điều kiện đặc thù. Chẳng hạn tấm choàng, tấm đắp có thể áp dụng cho những người làm việc đêm trong rừng hay lính chiến.
Sử dụng bình xịt, kem xoa, chỉ có tác dụng xua muỗi tức thời khi làm việc ngoài trời. Hương xua, diệt muỗi chủ yếu ở trong nhà buổi tối trước khi đi ngủ. Một hướng nghiên cứu khác sử dụng mồi bả diệt muỗi, tuy nhiên kết quả cho thấy hiệu quả chủ yếu với giống Culex còn với giống Anopheles và Aedes rất hạn chế [17]. Tình hình kháng và cơ chế kháng của véc-tơ sốt rét với hóa chất diệt côn trùng 1.
Định nghĩa kháng hóa chất Theo Tổ chức Y tế Thế giới “kháng hóa chất diệt côn trùng là sự phát triển khả năng sống sót của một số cá thể sau khi tiếp xúc với nồng độ nào đó của một hóa chất 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mà với nồng độ đó đa số các cá thể trong một quần thể bình thường của loài đó sẽ bị chết” [35].