ĐẶT VẤN ĐỀ Mi mắt là bộ phận thuộc cơ quan thị giác. Ngoài tầm quan trọng về chức năng thì hình thái mi mắt, đặc biệt nếp gấp da mi trên là một yếu t để đánh giá khuôn mặt có hài hòa, cu n hút hay không. Theo quan điểm của người Á Đông, đôi mắt to tròn hai mí được liên tưởng tới cái đẹp, sự trẻ trung … Do đó, đôi mắt hai mí rõ ràng, cân đ i được cho là đẹp hơn so mắt một mí, mí ẩn cũng như mí có nhiều nếp nhăn không rõ ràng… Tuy nhiên, ở người châu Á tỷ lệ người có mắt hai mí không nhiều. Theo Brian (2003) 1 chỉ có khoảng 50% người châu Á có nếp gấp da mi trên (eyelid crease) còn được gọi là nếp mi trên, nếp mí.
Nếp mí đó có thể là nếp mí đôi hoàn chỉnh hoặc mí ẩn, mí không liên tục, hoặc nhiều nếp mí… Đặc trưng cơ bản nhất mắt người châu Á là tỷ lệ mắt một mí, “mắt xếch” kèm nếp quạt góc mắt trong (Epicanthus) khá cao. Chính vì vậy, có một tỷ lệ những người châu Á, chủ yếu là phụ nữ, có mắt một mí, mí không hoàn chỉnh hoặc nếp mí nhỏ, không cân đ i. có nhu cầu tạo mắt hai mí với nếp mi trên rõ ràng, hình dáng và kích thước hoàn thiện hơn. Nhiều chuyên gia phẫu thuật tạo hình và phẫu thuật nhãn khoa như Chen (2006) 2, McCurdy (2005) 3, Scawn (2010) 4… đều cho rằng phẫu thuật tạo hình mắt hai mí là một trong những phẫu thuật thường gặp nhất ở phụ nữ châu Á… Trên thế giới, các chuyên gia đã nghiên cứu tạo hình nếp mi trên cho người châu Á 5,6.
Tuy nhiên, khi so sánh giữa đôi mắt ở người châu Âu và người châu Á, người ta thấy có những khác biệt lớn. Nếu sử dụng các kích thước, hình dáng mí mắt ở người châu Âu trong việc tạo hình nếp mí ở người châu Á dường như không phù hợp 7,8. Để tạo được đôi mắt hai mí phù hợp với người châu Á, nhiều chuyên gia đã nghiên cứu những đặc điểm về giải phẫu, hình thái và nhân trắc mắt cũng như các phương pháp tạo hình mi trên ở người châu Á. 2 Ở Việt Nam, đã có một s nghiên cứu về giải phẫu, hình thái nhân trắc vùng mắt như nghiên cứu Nguyễn Huy Thọ, Lê Gia Vinh (1994) 9 Trần Thiết Sơn (1994) 10 Vũ Văn Khoa, Nguyễn Bắc Hùng (2000) 11 Trần Thị Bích Hạnh (2003) 12.
Chưa có nghiên cứu chi tiết về hình thái nhân trắc nếp mi trên ở nữ người Việt. Đã có các nghiên cứu về tạo hình mi trên trong các bệnh lý như u vùng mi, sụp mi, hở mi, vết thương vùng mi. như nghiên cứu của Phạm Trọng Văn (1990) 13 Vũ Ngọc Lâm (2015) 14 Nguyễn Huy Thọ (2004) 15 Đào Chí Kiên (2003) 16… Riêng về phẫu thuật tạo hình nếp mi trên, tuy đã được áp dụng ở nước ta từ nhiều thập kỷ, nhưng chủ yếu dựa trên hình thái nhân trắc của phụ nữ châu Âu hoặc châu Á nói chung. Việc hiểu rõ các đặc điểm mi mắt của phụ nữ Việt Nam, xác định chính xác kỹ thuật tạo hình nếp mi trên có thể vừa giữ được các nét đặc trưng dân tộc vừa tạo được nếp mí đẹp tự nhiên, đạt hiệu quả về thẩm mỹ và tâm lý cho phụ nữ.
Từ thực tiễn lâm sàng, nhu cầu thực tế, mong mu n tìm hiểu hình thái nhân trắc và phương pháp phẫu thuật tạo hình nếp mi trên ở nữ người Việt, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hình thái nhân trắc và phẫu thuật tạo hình nếp mi trên ở nữ ngƣời Việt trƣởng thành” với hai mục tiêu chính như sau: 1. Mô tả hình thái, xác định kích thước và chỉ số nhân trắc mắt ở một nhóm nữ người Việt trưởng thành. Đánh giá kết quả tạo hình nếp mi trên ở nữ người Việt trưởng thành. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Đặc điểm giải phẫu và sinh lý vận động mi trên 1. Hình thể ngoài mi mắt Mỗi mắt có hai mi mắt: Mi trên và mi dưới cách nhau bởi khe mi 17. Giải phẫu đại thể mi mắt bao gồm những đặc điểm sau: - Mặt trước: Giới hạn trên là dọc bờ dưới cung mày (gần tương ứng với bờ trước trần ổ mắt), giới hạn dưới là bờ tự do mi trên. nh thể ngoài mi mắt 18 1.
bờ tự do mi dưới. Bờ tự do mi trên. nếp mi trên. Đầu cung mày.
Điểm giữa cung mày. Đuôi cung mày. - Mặt sau: Có kết mạc mi che phủ, màu hồng, trơn bóng. Khi nhắm mắt hay mở mắt thì kết mạc mi luôn áp sát vào nhãn cầu.
- Bờ tự do mi mắt: Mi mắt có hai bờ tự do, bờ mi trên và bờ mi dưới. Khi nhắm mắt hai bờ mi áp sát và khép kín tạo thành một đường cong quay lên trên và ra sau. khi mở mắt hai bờ tự do cách xa nhau tạo thành khe mi nằm ngang. - Lỗ lệ: Có hai lỗ lệ nằm trên bờ tự do của hai mi cách góc mắt trong khoảng 6 mm, lỗ có hình bầu dục kích thước khoảng 1/4 mm, quanh lỗ lệ có một vùng vô mạch màu trắng hơi gồ cao hơn bờ mi gọi là điểm lệ.
4 - Lông mi: Lông mi được xếp thành 2- 3 hàng trên bờ tự do mi ngay trước đường xám. Lông mi có vai trò quan trọng về mặt thẩm mỹ và bảo vệ mắt, cho nên bảo tồn t i đa s lượng và hình thể ngoài khi can thiệp phẫu thuật. - Khe mi: Khe mi có hình e-lip, hơi nằm ngang, không đều. Ở bờ mi trên hơi cong hơn ở 1/3 giữa.
Với sự hổ trợ của cơ trán, khe mi có thể mở rộng thêm 2-3 mm 19. - Góc mắt: Góc mắt là vùng n i giữa mi trên và mi dưới, có hai góc mắt: Góc mắt ngoài nhọn. Góc mắt trong tròn và rộng Túi kết mạc phía dưới sâu hơn ở vùng điểm lệ tạo thành hồ lệ nhận nước mắt và đổ vào điểm lệ và lệ đạo. - Cục lệ: Là một kh i hình bầu dục màu hồng, bề mặt gồ ghề không đều, cục lệ có những tuyến bả nhờn và tuyến lệ phụ 20.
Cấu tạo mi trên và các thành phần liên quan Mi trên bao gồm nhiều lớp tổ chức khác nhau tùy theo cách phân chia của từng tác giả và được mô tả như sau: 1. Da mi Da mi trên là phần da mỏng nhất trong cơ thể. Phần mỏng nhất phần tiếp giáp với bờ tự do mi chỉ khoảng 0.3 mm và tăng dần lên đến bờ dưới cung mày, độ dày da ở khu vực phía trên sụn là khoảng 0,8 mm, dưới lông mày là khoảng 1 - 1,3 mm 21. Da mi dễ di động, có mạng lưới mạch máu phong phú.
Da mi có lông ngắn, tuyến bã, tuyến mồ hôi, bám dính lỏng lẻo vào cơ vòng mi ở phía dưới. Ở người cao tuổi, các sợi tạo keo, sợi chun bị thoái hóa nên da mất trương lực, rủ xu ng gây biến đổi hình thể, che phủ lên nếp mi tạo nên tình trạng sa trễ mi trên 22. Lớp mô dưới da mi là một lớp tế bào liên kết thưa và mỏng kết n i lớp cơ bên dưới và lớp trung bì. Trong lớp cơ liên kết này không chứa mỡ làm cho dễ bị đọng dịch mô bình thường và cả dịch mô bệnh lý sau chấn thương, sau phẫu thuật và viêm nhiễm dễ dàng thấm qua, lan rộng, do đó mi dễ bị sưng nề nhanh chóng khi bị những tổn thương tại chỗ và lân cận 23,24.
Tổ chức cơ Mi trên có hai cơ chính là cơ vòng mi và cơ nâng mi trên. Cơ vòng mi có nhiệm vụ nhắm mắt còn cơ nâng mi có nhiệm vụ mở mắt. Ngoài ra còn 3 cơ nhỏ khác là cơ Muller, cơ Riolan và cơ Horner. Cơ vòng mi: Bao quanh khe mi, có nhiệm vụ nhắm mắt, các thớ cơ tạo thành nhiều vòng tròn đồng tâm, tập trung thành từng bó và chia thành 3 phần: phần trước sụn, phần trước cân và phần h c mắt.
Giải phẫu cơ vòng mi 25 + Phần mi chia thành 3 nhóm: Nhóm rìa bờ mi, nhóm trước sụn mi và nhóm trước vách ngăn. Nhóm trước sụn nằm ngay trước sụn mi trên và mi dưới, làm thành một vòng khép kín từ góc trong đến góc ngoài khe mi. Nhóm trước vách ngăn bao gồm các thớ cơ vòng rộng nhất và nằm ở vị trí ngoài rìa nhất của mi mắt. + Phần h c mắt của cơ vòng mi: phần ngoài cùng của cơ, trải rộng trên xương trán, phần trước h thái dương, phần trong xương gò má và ngành lên xương hàm trên.
6 Cơ vòng mi co làm hẹp khe mi, nhắm mắt lại, do thần kinh s VII chi ph i. Khi liệt VII, cơ vòng mi bị liệt tạo ra hiện tượng mắt nhắm không kín. Trong phẫu thuật cần tôn trọng và bảo tồn t i đa cơ vòng mi để đảm bảo chức năng và thẩm mỹ mắt. * Cơ nâng mi trên Cơ nâng mi trên có nguyên ủy từ cánh nhỏ xương bướm sát phía trên ngoài của lỗ thị giác.
Ngay sát dưới là chỗ bám của cơ trực trên vào vòng Zinn trong đỉnh h c mắt đi ra. Cấu tạo phần thân cơ trong h c mắt là cơ vân. Cơ tỏa ra trước theo hình nan quạt, kích thước cơ tại nguyên ủy chỉ 4mm nhưng khi ra ngoài trung tâm h c mắt rộng lên 8mm 26. Bao xơ quanh thân cơ nâng mi dính với bao xơ của cơ trực trên.
Tổ chức xơ này chia nhánh xu ng cùng đồ mi trên và bao Tenon. Chính m i liên kết này giúp mi chuyển động theo nhãn cầu khi bệnh nhân liếc mắt xu ng dưới hay lên trên. Đến gần sát bờ trên h c mắt cơ bám vào dây chằng xơ Whitnall và chuyển thành cân. Dây chằng Whitnall đóng vai trò như ròng rọc để cơ nâng mi chuyển lực vector từ hướng trước - sau thành hướng trên - dưới.
Khi cơ nâng mi ở trạng thái nghỉ, dây chằng Whitnall giữ nguyên tại vị trí trong khi đó cân cơ nâng mi rút vào phía trong h c mắt, cơ chế này giúp cho mắt nhắm kín hơn. Khi cơ nâng mi hoạt động dây chằng Whitnall cũng chuyển động lên xu ng hỗ trợ mi di chuyển. Vai trò của dây chằng Whitnall rất quan trọng nên cần tôn trọng không làm tổn thương trong lúc phẫu thuật. Cân cơ nâng mi rộng 18mm, dài khoảng 14 -20 mm và tiếp tục tỏa theo hình nan quạt ra phía trước, phần lớn cân bám vào cơ vòng mi, phần ít hơn bám vào 1/3 trên trước sụn mi 27.