Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về loài Bời lời đắ ng 1. Tên gọi, phân loa ̣i và đă ̣c điểm Tên Việt Nam: Bời lời đắng (Mò lông ) Tên khoa học: Litsea umbellata (Lour.) Merr Tên tiếng Việt là cây Bời lời đắng, Bời lời hoa tán, Mò lông, Nhan sang. Cấp bậc sinh giới Ngành: Thực vật Bộ: Cucurbitales Họ: Long não (LAURACEAE) Bời lời đắng (Litsea umbellata (Lour.) Merr) là cây gỗ nhỏ có các nhánh thường có lông màu hung.
Lá mọc so le, hình bầu dục, thuôn hay trái xoan, thon hẹp hay tròn ở gốc, nhọn ở đầu, bóng và nhẵn ở mặt trên, trừ trên gân giữa, màu tối hay có lông nâu ở dưới; gân bên 8-16 đôi, lõm ở trên, lồi ở dưới; cuống lá khá to, có lông, dài 8-10 mm. Hoa xếp 5-6 cái thành tán tụ họp ở nách lá, có cuống chung ngắn, có lông ngắn màu hung. Quả hình cầu, đường kính 5-6 mm, có cuống nhỏ, hơi phồng lên ở phía dưới quả. Loài Bời lời đắng (Litsea umbellata (Lour.) Merr) thường ra hoa vào tháng 1-2.
Phân bố Bời lời đắng (Litsea umbellata (Lour.) Merr) phân bố ở nhiề u quốc gia như China, Myanma, Campuchia, Vietnam, Malaysia, Indonesia, Philippin. Cây khá phổ biến ở nước ta, trong các savan cây bụi, trong rừng thưa và rừng rậm tới độ cao 1200 m ở nhiều nơi: Lào Cai, Lạng Sơn, Vĩnh Phú, Hà Tây, Ninh Bình, Gia Lai, Kontum, Bà Rịa-Vũng Tàu. Thu hái lá quanh năm, thường dùng tươi. Thành phần hóa học của loài Bời lời Hiê ̣n nay chưa có nhiều nghiên cứu về thành phầ n hóa ho ̣c của loài Bời lời đắ ng (Litsea umbllata).
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu về chi Bời lời rất đa dạng về mặt hóa học chúng bao gồm nhiều lớp chất có hoạt tính sinh học như alkaloid, lactone, sesquiterpene, flavonoid, lignan… và các dầ u bay hơi, ước tính có khoảng 407 chất đã được phân lập từ 69 loài của chi này [8, 9, 17]. Alkaloid Các alkaloid được phân lập từ chi Bời lời khá đa dạng về cấu trúc cũng như hoạt tính sinh học có khoảng 63 các alkaloid được phân lập từ chi này (Hình 1. Năm 1890 alkaloid đầ u tiên được phân lập là laurotetanin (37) từ loài L. Một số nghiên cứu khác về chi Bời lời cũng phát hiện ra khá nhiều các alkaloid đại diện là các khung chất aporphine kiểu isoquinoline.
Theo nghiên cứu các aporphin được chia thành 3 loại khung chính: khung aporphin nguyên mẫu (Aporphine prototype), khung nguyên oxo-aporphine (Oxoaporphine) và khung bị aporphine dehydro hóa (Dehydroaporphine) [13]. Trong chi Bời lời thì nhóm khung aporphin là phổ biến nhất. Các nghiên cứu còn chỉ ra aporphin alkaloid có hoạt tính sinh học như: chống oxy hoá, chống khối u, chống kết tu ̣ tiểu cầ u, chống sốt rét và chống co giật. Hiện nay các aporphine alkaloid và dẫn xuất tổng hợp của chúng đóng vai trò là các tiền chất cho sự phát triển các thuốc tiềm năng trong điều trị các bệnh khác nhau [6, 37].
Ở loài Màng tang (L.cubeba) có số lượng các alkaloid được phân lập nhiều nhất. Phenanthrene alkaloid được tách ra lầ n đầ u tiên từ thân cây của Màng tang là Lidebamine (39) [61]. Ngoài ra còn một số alkaloid bậc 4 hiếm gặp trong thiên nhiên cũng đã được phân lập từ Màng tang như 2 hợp chất dibenzopyrrocoline alkaloid là (–)-litcubine (2) và (–)-litcubinine (3) [31], 5 hợp chất isoquinoline alkaloid là (+)-8-methoxyisolaurenine-N-oxite (6), (+)-N-(methoxylcarbonyl)-N- norbulbodione (12), (+)-N-(methoxylcarbonyl)-N-nordicentrin (13), (+)-N- 4 (methoxylcarbonyl)-N-norisocorydione (14), và (+)-N-(methoxylcarbonyl)-N- norpredicentrine (15) [49]. Các alkaloid được phân lập từ chi Bời lời [13, 31, 33, 49, 53] 1.
Butanolide và butenolactone Theo như công bố đầ u tiên về các hợp chất lacton được phân lập từ loài L. japonica [32], thì cho tới nay hiện có hơn 69 hợp chất butanolide và butenolactone (64-132) (Hình 1.2) được phân lập từ các loài thuộc chi Bời lời. Từ năm 2011-2015 có 7 chất khung butanolide là các litseakolide H-N (98-104) đã được phân lập từ rễ của loài L. 2 chất khung butanolide mới với mạch nhánh 10 carbon là licunolides A (80) và B (81) từ rễ của L.
Có thể thấy Butanolide và butenolactone cũng là các lớp chất thứ cấp chin ́ h đại diện trong chi Bời lời [20]. Các butanolide và butenlactone phân lập từ chi Bời lời [35, 36] 7 1. Terpen Có 4 hợp chất terpene đã được phân lập từ chi Bời lời bao gồm: monoterpene, sesquiterpene, diterpene và triterpenoid (Hình 1.3) ● Monoterpene (133-161) Các monoterpene chiếm khoảng 90% thành phần tinh dầu trong các loài Bời lời, chúng rất khác nhau về cấu trúc và có thể phân chia thành 3 dạng cấu trúc chính đó là: các acyclic monoterpene, các monocyclic monoterpene, bicyclic monoterpene và những dẫn xuất đã được oxy hoá. Năm 2011 có 17 monoterpene đã phân lập được từ loài Màng tang (L.cubeba) đó là: camphene (134); 1,8- cineole (136); citronellal (137); citronellol (138); p-cymene (139); geraniol (142); limonene (Cinene, 143); linalool (144); neral (citral b, 146); β-phellandrene (151); α-pinene (152); β-pinene (153); α-a- isopulegol (154); sabinene (155); α-terpineol (157); α-terpinyl acetate (160); litseacubebic acid (161) [20].
● Sesquiterpene (162-234) Các sesquiterpene có khoảng 73 hợp chất sesquiterpenoid đã được phân lập từ chi Bời lời, chúng rất khác nhau về khung cấu trúc và hoạt tính sinh học bao gồm các sesquiterpene béo, các sesquiterpene vòng đơn, vòng đôi, vòng ba và các sesquiterpene bị oxy hoá. Các hợp chất khung litseanes duy nhất đã được phân lập Zhang H J và cộng sự (2001) [73]. ● Diterpene (235-236) Các diterpene cũng được phát hiện trong chi Bời lời. Năm 2014, dịch chiết methanol của quả Màng tang (L.
cubeba) đã phân lập được 1 hợp chất iterpene là [(+)-6-(4-hydroxy-4-methyl-2- pentenoyl)-4,6-dimethyl-5-(3-methyl-2-butynyl)- 1,3-cyclohexadienecarbaldehyde] (235) [51]. Sau đó nhiều hợp chất với cấu trúc khung tương tự từ loài Bời lời đã được tìm thấy [52]. 8 ● Triterpenoid (237-244) Năm 1994, đã phân lập được 5 triterpenoid từ loài L. elliptica là: β- amyrin acetate (238), erythrodiol-3-acetate (239); 3-O-acetyloleanolic acid (240); 3-O-acetyloleanolic aldehyde (241), 3-O-acetyl-28,28-dimethoxyolean- 12-ene (242) [45].
Năm 2011, có 8 triterpene đã tách được từ các loài L. Phân loại theo cấu trúc thì các triterpene này được phân thành 4 phân nhóm: nhóm 1 là những triterpene 4 vòng kiểu protostane; nhóm 2 là những triterpenoid kiểu oleanane; nhóm 3 là những triterpenoid kiểu taraxasterane; và nhóm 4 là những triterpenoid kiểu khung lupane [20, 2, 45]. ● Monoterpenoid (245-246) Các monoterpenoid là các hợp chất thứ cấp được tạo ra trong quá triǹ h sinh tổng hợp terpenoid, chẳng hạn như panamonon A (245) và (246) là những hợp chất đã được phân lập từ lá và cành của L. Các hơ ̣p chấ t Terpen đươ ̣c phân lập từ chi Bời lời 1.
Các flavonoid (247-286) Năm 1953, Puercitrin (248) và astilbin (250) được phân lập từ lá non của L. Năm 2011, đã phân lập được 8 lavonoid từ loài L. acuminata: kaempferol 3-O-β-D-xylopyranoside (257); kaempferol 3-O-α-L- rhamnopyranoside (Afzelin, 259); và kaempferol 3-O-rutinoside (nicotiflorin, 260); quercetin-3-O-(2-O-β-D-apiofuranosyl)-α-L-arabinopyranoside (274); quercetin 3-O-β-D-galactopyranoside (hyperoside, 276); quercetin 3-O-β-D- glucopyranoside (isoquercitrin 280); quercetin 3-O-α-D-L-rhamnopyranoside (quercitrin, 278); quercetin 3-O-[2-O- β-D-xylopyranosyl)-β-D- glucopyranoside] (279) [58]. Cũng trong năm 2011, những chalcone với những nhóm epoxy hoặc ethylidenoxy hiếm gặp là litseaone A (264) và B (265) từ L.
Năm 2013, đã phân lập được 8 flavonoid là pinostrobin (272), pinocembrin (270), pinocembrin chalcone (271), apigenin, kaempferol, astragalin, isoquercetin, kaempferol 3,4 ‟-di-O-L- rhamnopyranoside (258) từ lá của Litsea fruticosa [68]. Cho đến nay có khoảng hơn 39 các khung chất gồm lavanol, lavonol, chalcone và các glycoside của chúng đã được phân lập từ các loài của chi Bời lời (Hình 1. Các flavonoid phân lập từ chi Bời lời 1. Tuy nhiên các amide phân lập được từ các loài Bời lời chưa được sử du ̣ng để làm chất đánh dấu đặc trưng cho loài (Hình 1.
Các amide phân lập từ chi Bời lời 1. Lignan (297-331) Các lignan từ chi Bời lời có số lượng rất nhỏ, hiện nay có khoảng 35 lignan đã được phân lập từ các loài Bời lời (Hình 1. Theo nghiên cứu các lignan phân lập từ chi Bời lời có cấu trúc đa dạng như các neolignan, aryltetralon, dihydrobenzofuran, furofuran, lignanamide, ditetrahydrofuran, tetrahydrofuran, benzofuran, biphenyl lignan, arylnaphthalene lignan và dibenzylbutane lignan. Năm (2013) một lignan mới và một oxyneolignan biseugenol A (310) và B (311) đã được phân lập từ vỏ thân loài L.
Các lignan phân lập từ chi Bời lời 1. Các lớp chấ t khác (332-407) Theo nghiên cứu từ chi Bời lời còn phân lập được khoảng 7 steroi dạng tự do hoặc dạng glucoside (332-338); 28 acid béo (339-366), khoảng 40 các hợp chất khác như các coumarine, các phenol, các bennzoquinone (367-407). Một số chấ t khác phân lập từ chi Bời lời 15 1. Tinh dầu của loài Bời lời Tinh dầ u khá phong phú và được nghiên cứu nhiều trong chi Bời lời.
Tinh dầ u có thể được chiết từ nhiều bộ phận khác nhau của cây như lá, hoa, quả, thân, rễ… với sự đa dạng về thành phầ n hoá học và số lượng tinh dầ u. Đã có nhiều nghiên cứu về tính chất của các thành phần tinh dầu. trong đó, thành phầ n chủ yếu trong tinh dầ u từ các loài thuộc chi Bời lời là các monoterpene và các sesquiterpene bị oxy hoá. Loài Màng tang (L.
cubeba) phân bố ở Ấn độ, có thành phầ n tinh dầ u từ lá là sabinen (155) chiếm (62,4%), ở quả là limonen (143) chiếm (22,7%), (E)-citral (140) (25,5%) và α-citral (146) (37,9%) có hả năng kháng khuẩn và kháng nấm [47]. Loài Màng tang (L. cubeba) có chứa citral (70%) ở quả, citral (8,1%) ở hoa, cineol (80%) ở lá và geraniol (142) (36,5%) ở thân. Ở Thái Lan tinh dầ u Màng tang chủ yếu chứa citral (49,6%), ngoài ra còn có các hợp chất alkaloid và các hợp chất khác.
Năm 1993, ở Trung Quốc tinh dầ u lá của loài L. pungen được Zhu L. và cộng sự đã xác định thành phầ n hóa học bao gồm: 1,3,3-trimetyl-2- oxabicyclooctan (215) (60%), 1,8-cineol (136) (9,0%). Từ lá cây này 24 hợp chất được xác định, trong đó thành phầ n chính của tinh dầ u; (Z)-α-ocimen (150) (25,1%), 3,7-dimethyl-1,6-octadien-3-ol (144) (16,9%) và n-trans- nerolitol (213) (13,9%) [40].
Bighelli A và cộng sự 2005, đã công bố 5 mẫu lá ở các vùng khác nhau của miền Bắc Việt Nam với các chất chiń h của tinh dầ u là 1,8- cineol (136, 0,2- 51,7%), linalool (144, 0,4-91,1%), sabinene (155, 0,48,1%) từ quả là lá câu Màng tang [14]. Năm 2005, Trầ n Điǹ h Thắng và cộng sự đã nghiên cứu tinh dầ u một số loài Bời lời như Bời lời hao hoa đơn (L. monopetala) phân bố ở Vũ Quan-Hà Tĩnh với các hợp chất chính được xác định là myrcene (145, 40,5%), limonene (143, 11,7%), α-pinene (152, 8,6%), β-pinene (153, 8,3%), (E)-β- ocimene (149, 5,8%) [59]; lá của Bời lời núi đá (L. euosma) có thành phầ n tinh dầ u chính là α-pinene (152, 11,8%), sabinene (155, 24,9%) và β-pinene (153, 16 14,0%); lá của Bời lời đắng (Litsea umbellata) có thành phầ n chính là α- copaene (176, 11,7%), β-caryophyllene (173, 26,1%) và germacren D (188, 16,2%) [53, 70].