CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa 1. Giải phẫu hệ tĩnh mạch gan và tĩnh mạch cửa 1. Giải phẫu tĩnh mạch gan Có 3 nhánh tĩnh mạch gan (TMG) là TMG phải, TMG giữa và TMG trái dẫn máu từ 3 khu vực khác nhau của gan, đổ vào tĩnh mạch chủ dưới (TMCD) ở sau gan [14],[90],[113].
- TMG phải: là TMG lớn nhất, bắt đầu từ bờ dưới gan ở bên phải góc phải, hướng chếch lên trên, ra sau và hơi sang trái, đổ vào bờ trước phải TMCD sau gan. TMG phải dẫn lưu máu từ toàn bộ phân thùy bên phải (phân thùy sau) và 1/3 - 1/2 phải phân thùy giữa phải (phân thùy trước). - TMG giữa: ngăn cách các thùy gan phải và thùy gan trái, chạy giữa phân thùy trước của thùy gan phải và phân thùy giữa của thùy gan trái, hướng chếch lên trên ra sau, tận cùng bởi một thân chung với TMG trái. Thân chung này thường rất ngắn (khoảng 1 cm) đổ vào bờ trái TMCD sau gan.
TMG trái dẫn lưu máu của 1/2 - 2/3 phân thuỳ trước gan phải và toàn bộ phân thuỳ giữa gan trái. - TMG trái: là TMG nhỏ nhất, dẫn lưu máu của phần bên trái của thuỳ gan trái, một phần sau phân thuỳ giữa gan trái. 4 CLVT lớp cắt ngang CLVT dựng hình 3D Hình 1. Giải phẫu hệ TM gan trên CLVT (IVC: TM chủ dưới, RHV: TM gan phải, MHV: TM gan giữa, LHV: TM gan trái) (nguồn [113]) 1.
Giải phẫu TMC Hệ TMC là một hệ tuần hoàn đặc biệt, kết nối với hai hệ thống giường mao mạch; một bên thuộc về ống tiêu hóa và lách, bên kia là các xoang gan. Nguyên ủy, đường đi, liên quan, tận cùng[14],[90] (Hình 1. 2) TMC được hợp thành ở sau tụy bởi sự hợp nhất của ba tĩnh mạch là tĩnh mạch mạc treo tràng trên (đường kính ~ 10mm), tĩnh mạch lách (hay tỳ) (đường kính ~ 8mm) và tĩnh mạch mạc treo tràng dưới (đường kính ~ 6mm). TMC có đường kính < 12mm, dài trung bình 8-10cm.
Đến cửa gan, tĩnh mạch tận hết bằng cách chia thành hai ngành phải và trái chạy vào hai nửa gan tương ứng. Lưu lượng máu trong TMC trung bình từ 1000-1200 ml/phút, cung cấp khoảng 72% lượng oxy cho gan, lượng còn lại được cung cấp bởi động mạch gan [38]. Giải phẫu TMC (nguồn [94]) Ngành bên Trên đường đi trong cuống gan, TMC nhận thêm một số ngành bên:TM vị trái, TM vị phải, TM tá tụy trên sau, TM túi mật, TM trước môn vị, TM vị mạc nối phải và các TM tá tụy dưới Phân bố điển hình trong gan của TMC [14],[30],[90] Vào đến cửa gan thì thân chung TMC chia đôi thành hai ngành lớn cho hai nửa gan phải và trái, ở hai bên khe chính. 6 - Ngành phải: ngắn (1-3 cm) và to hơn (8-14mm) hướng chếch lên trên và sang phải, tách ra một nhánh bên nhỏ ra sau cho một phần phải thùy đuôi rồi sớm chia đôi thành hai ngành cùng: nhánh trước và nhánh sau.
- Ngành trái: dài và nhỏ hơn, gồm: một “đoạn ngang” chạy ngang trong cửa gan độ 3-5 cm, tách ra 2-3 nhánh nhỏ ra sau cho thùy đuôi, rồi gấp khúc ra phía trước thành một “đoạn rốn” hơi phình to, nằm trong đáy của khe dây chằng tròn. Ngành nối hay vòng nối: Hệ TMC ở người bình thường luôn có những vòng nối thông tự nhiên với hệ tĩnh mạch chủ, tuy nhiên chúng không hoạt động (không có dòng chảy qua các vòng nối này) vì máu từ TMC sẽ đi qua gan về hệ tĩnh mạchchủ thông qua hệ mao tĩnh mạch trong xoang gan và không bị cản trở. Bình thường, áp lực TMC từ 5 - 10 mmHg và chênh áp giữa TMC và TMCD hoặc nhĩ phải từ 1 - 5 mmHg. Khi có các bệnh lý gây cản trở máu TMC về gan như xơ gan sẽ gây nên TALTMC, chênh áp giữa TMC và tĩnh mạch chủ tăng lên (≥ 10 mmHg), các vòng nối này sẽ phát triển tạo các mạch máu bàng hệ và từ đó máu từ TMC sẽ qua các mạch máu này để trực tiếp về tĩnh mạch chủ và không qua gan nữa[6],[10],[14],[19],[38],[124].
Hệ TMC nối thông với hệ tĩnh mạch chủ bởi những vòng nối sau: Vòng nối thực quản và cạnh thực quản: Vòng nối thực quản (giãn TMTQ) gặp khoảng 50 % ở các trường hợp xơ gan và hàng năm có khoảng 5 - 15 % người bệnh xơ gan xuất hiện giãn TMTQ mới. Giãn TMTQ là giãn các tĩnh mạch trong thành thực quản đoạn thấp, trong khi đó giãn tĩnh mạch cạnh thực quản là các tĩnh mạch giãn nằm ngoài thành thực quản[6]. 7 Vòng nối tại dạ dày và cạnh dạ dày: Giãn TMDD ít gặp hơn giãn TMTQ, tần suất khoảng 5 - 33 % người bệnh TALTMC. Giãn TMDD được cấp máu bởi một hoặc nhiều tĩnh mạch khác nhau, phổ biến là từ tĩnh mạch vị trái và các tĩnh mạch vị sau, nhưng cũng có thể được cấp máu bởi các tĩnh mạch vị ngắn[124].
Giãn TMDD có thể đơn thuần tại dạ dày hoặc phối hợp với giãn TMTQ, tĩnh mạch dẫn lưu về tĩnh mạchchủ trên hoặc dẫn lưu về tĩnh mạch chủ dưới qua shunt vị - thận [6]. Vòng nối trực tràng và quanh trực tràng: Giữa các nhánh tận của tĩnh mạch trực tràng trên thuộc hệ cửa, nối với các nhánh của các tĩnh mạch trực tràng giữa và các tĩnh mạch trực tràng dưới là những nhánh của tĩnh mạchchậu trong thuộc hệ tĩnh mạchchủ. Máu từ các búi giãn này sẽ được dẫn lưu về tĩnh mạch chậu hai bên bởi shunt trực tràng - sinh dục hoặc các shunt tĩnh mạch tại trực tràng[5],[6],[93]. Vòng nối quanh rốn và thành bụng: Do tái lập lại các tĩnh mạch cạnh rốn quanh dây chằng tròn thuộc hệ cửa nối với các nhánh quanh rốn của các tĩnh mạch thượng vị trên - nhánh của các tĩnh mạch ngực trong, và của các tĩnh mạch thượng vị dưới - nhánh của tĩnh mạch chậu ngoài, đều thuốc hệ chủ[4].
Các vòng nối khác: - Các vòng nối sau phúc mạc - Các vòng nối mạc treo và mạc nối - Các vòng nối quanh tá tràng, ruột non, đại tràng - Các vòng nối quanh túi mật, đường mật - Các vòng nối sinh dục - Vòng nối thành bàng quang - Các shunt tĩnh mạch cửa -chủ: lách - thận, trong gan, ngoài gan. Các vòng nối cửa - chủ (nguồn[114]) 1. Xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa 1. Định nghĩa xơ gan Xơ gan là hậu quả của một bệnh gan mạn tính.
Đặc điểm về mặt giải phẫu học là một quá trình tổn thương lan tỏa của gan, trong đó mô gan bình thường được thay thế bởi một mô xơ hóa (fibrous tissue) và những nốt tái tạo (regenerative nodules), dẫn đến sự suy giảm dần của các chức năng gan[3]. Xơ gan là bệnh lý phổ biến ở Việt Nam và trên Thế giới, là nguyên nhân thứ 8 gây tử vong tại Mỹ và là nguyên nhân thứ 13 gây tử vong trên Thế giới [2]. Hình thái học của xơ gan là kết quả của 3 quá trình đồng thời hoặc nối tiếp nhau[83]: 9 - Tổn thương nhu mô gan (sự hoại tử) - Sự gia tăng mô liên kết (sự xơ hóa), tạo ra những mảng xơ hóa - Sự hình thành các tiểu thùy gan giả và các nốt, cục tái tạo (sự tái tạo). Nguyên nhân xơ gan - Do viêm gan virus B, C - Lạm dụng rượu - Do chuyển hóa: thiếu hụt enzyme alpha-antitrypsin, bệnh Wilson, gan nhiễm mỡ - Xơ gan mật, xơ gan do tắc TM gan, xơ gan tim.
- Do viêm gan tự miễn - Do thuốc: methotrexate, amiodarone… 1. Tiên lượng xơ gan Xơ gan có hai giai đoạn tiến triển đó là còn bù (compensated) và mất bù (decompensated). Ở giai đoạn còn bù, thời gian có thể kéo dài cả thập kỷ và thường không có triệu chứng[13]. Xơ gan ở giai đoạn mất bù, có biểu hiện của tăng áp lực tĩnh mạch cửa (TALTMC), có các biến chứng như CMTH, cổ trướng, hội chứng não gan, và một số biến chứng khác.
Khi chẩn đoán xơ gan ở giai đoạn mất bù, thời gian sống thêm trung bình của bệnh nhân thường dưới 2 năm. Tỷ lệ tử vong trong 1 năm có thể lên đến 20% khi có dịch cổ trướng và tăng lên 57% khi có biến chứng CMTH. Xơ gan đến thời kỳ mất bù,các triệu chứng lâm sàng rõ rệt, thường có tiên lượng xấu. Nếu chẩn đoán được sớm và tìm ra được nguyên nhân để loại bỏ hoặc điều trị thì khả năng làm cho xơ gan có thể trở lại thời kỳ ổn định hoặc làm chậm sự tiến triển của bệnh.
Có hai hệ thống tiêu chuẩn để phân độ nặng cũng như tiên lượng xơ gan là Bảng phân độ Child - Turcotte - Pugh (CTP hay viết tắt là Child) và thang điểm MELD (Model for End - Stage Liver Disease). Bảng phân độ Child có 5 tiêu chí đánh giá gồm mức độ hội chứng não gan (HE – Hepatic 10 Encephalopathy), mức độ dịch cổ trướng, nồng độ Bilirubin huyết thanh, nồng độ Albumin huyết thanh và tỷ lệ prothrombin huyết thanh (hoặc chỉ số INR – International Normalized Ratio); mỗi tiêu chí cho điểm 1, 2 và 3 với tổng điểm thấp nhất là 5 và cao nhất là 15, điểm càng cao thì mức độ xơ gan càng nặng. Thang điểm MELD sử dụng các chỉ số bilirubin, creatinin, INR để tính toán, công thức tính như sau: MELD = 3. MELD thường được đánh giá ở các mức là < 10, từ 10 đến 14 và > 14 điểm và so sánh với 3 mức A, B và C của phân loại theo Child.
Khi MELD ≥ 14 điểm thì liên quan đến tỷ lệ bệnh nặng hơn và tỷ lệ tử vong cao hơn[2]. Chẩn đoán xơ gan Tiêu chuẩn chẩn đoán xơ gan dựa vào[23],[83]: + Hội chứng TALTMC biểu hiện với 3 triệu chứng sau: Có giãn TM thực quản phát hiện qua nội soi Cổ trướng tự do Lách to do ứ máu + Hội chứng suy chức năng gan gồm: Chán ăn, phù hai chi dưới hoặc toàn thân, xuất huyết dưới da hoặc niêm mạc, vàng da nhẹ hoặc nặng, có thể có cácdấu hiệu của hội chứng não-gan. Các triệu chứng khác: giãn các mao mạch ở ngực, lưng, gan bàn tay (sao mạch), da khô, móng tay bị thay đổi về hình dáng và màu sắc, các ngón tay bị co rút, suy giảm tình dục,. + Chẩn đoán hình ảnh: Siêu âm là phương pháp đơn giản, có giá trị đánh giá hình thái, kích thước, độ tăng âm và chẩn đoán dịch quanh gan cũng như dịch cổ trướng.
11 Các kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từcũng có giá trị chẩn đoán xơ gan. + Cận lâm sàng: Albumine giảm, Globuline tăng, Bilirubine tăng, tỷ lệ Prothorombine giảm, enzymeTransaminase tăng nếu có huỷ hoại tế bào gan.