Luận án tiến sĩ: Hiệu quả của phương pháp tạo nhịp tim vĩnh viễn tại vị trí vách đường ra thất phải

Luận án tiến sĩ phân tích hiệu quả tạo nhịp tim vĩnh viễn tại vị trí vách đường ra thất phải, đóng góp quan trọng cho y học tim mạch.

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Y - Dược Lâm Sang 108

Chuyên ngành

Nội Tim Mạch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2018

165
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN NHỊP CHẬM

1.1.1. Đặc điểm chung

1.1.2. Đặc điểm lâm sàng của bệnh lý rối loạn nhịp chậm

1.1.3. Điều trị rối loạn nhịp chậm bằng TNT vĩnh viễn

1.2. PHƯƠNG PHÁP TẠO NHỊP VĨNH VIỄN VỚI ĐIỆN CỰC TẠI VỊ TRÍ VÁCH ĐƯỜNG RA THẤT PHẢI

1.2.1. Tạo nhịp truyền thống tại mỏm thất phải

1.2.2. Giải phẫu thất phải liên quan tới lựa chọn vị trí tạo nhịp khác

1.2.3. Tạo nhịp tim tại vùng vách đường ra thất phải

1.2.4. Các phương pháp đánh giá hiệu quả điều trị của TNT vĩnh viễn

1.3. CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.3.1. Các nghiên cứu về kỹ thuật cấy điện cực tại vùng vách RVOT

1.3.2. Nghiên cứu về kết quả điều trị tạo nhịp tại RVOT so với ở RVA

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Bệnh nhân nghiên cứu

2.1.2. Chỉ định cấy máy

2.1.3. Lựa chọn phương thức tạo nhịp

2.1.4. Tiêu chuẩn loại trừ

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Qui trình cấy máy tạo nhịp tim

2.2.3. Các tiêu chuẩn liên quan đến kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

2.3. XỬ LÝ SỐ LIỆU

2.4. ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

2.5. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

2.5.1. ĐẶC ĐIỂM BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU TRƯỚC CẤY MÁY

2.5.1.1. Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu
2.5.1.2. Đặc điểm triệu chứng và thể bệnh RLNC trong nghiên cứu
2.5.1.3. Kết quả điện tim của bệnh nhân trước khi cấy máy
2.5.1.4. Kết quả siêu âm tim và siêu âm đánh giá RLĐB thất trước cấy máy

2.5.2. KẾT QUẢ KỸ THUẬT CẤY MÁY TẠO NHỊP TIM

2.5.2.1. Đặc điểm kỹ thuật cấy máy trong nghiên cứu
2.5.2.2. Các thông số điện cực thất trong quá trình cấy máy

2.5.3. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ TẠO NHỊP TIM SAU 12 THÁNG THEO DÕI

2.5.3.1. Đánh giá chung về hiệu quả điều trị tạo nhịp tim ở 2 nhóm
2.5.3.2. Kết quả các thông số điện cực thất trong nghiên cứu
2.5.3.3. Đặc điểm phức bộ QRS và RLĐB điện học liên quan đến vị trí tạo nhịp
2.5.3.4. So sánh kết quả siêu âm tim và siêu âm đánh giá RLĐB cơ học giữa 2 nhóm nghiên cứu

PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu tạo nhịp tim vĩnh viễn

Nghiên cứu tập trung vào hiệu quả tạo nhịp tim vĩnh viễn tại vị trí vách đường ra thất phải (RVOT). Đây là một phương pháp mới nhằm khắc phục những hạn chế của kỹ thuật tạo nhịp truyền thống tại mỏm thất phải (RVA). Rối loạn nhịp chậm (RLNC) là vấn đề nghiêm trọng trong tim mạch, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và tính mạng bệnh nhân. Máy tạo nhịp tim (MTNT) là giải pháp hiệu quả, nhưng vị trí cấy điện cực cần được tối ưu hóa để giảm thiểu rối loạn đồng bộ thất và các biến chứng khác.

1.1. Vai trò của tạo nhịp tim vĩnh viễn

Tạo nhịp tim vĩnh viễn là phương pháp điều trị chính cho RLNC, giúp duy trì nhịp tim ổn định và cải thiện chất lượng cuộc sống. Kỹ thuật này đã phát triển từ máy tạo nhịp 1 buồng đến các thiết bị hiện đại như máy tạo nhịp đồng bộ nhĩ - thất và máy tạo nhịp không dây. Tuy nhiên, vị trí cấy điện cực tại RVA có thể gây rối loạn đồng bộ thất, tăng nguy cơ rung nhĩ và giảm hiệu quả tưới máu cơ tim.

1.2. Lý do chọn vị trí vách đường ra thất phải

Vách đường ra thất phải (RVOT) được chọn làm vị trí tạo nhịp mới nhờ khả năng duy trì đồng bộ thất tốt hơn so với RVA. Nghiên cứu cho thấy tạo nhịp tại RVOT giảm thiểu rối loạn tái cấu trúc cơ tim và cải thiện hiệu quả tưới máu. Đây là hướng đi mới trong điều trị RLNC, đặc biệt tại các trung tâm tim mạch lớn trên thế giới.

II. Phương pháp và kỹ thuật tạo nhịp tại RVOT

Nghiên cứu sử dụng phương pháp cấy điện cực tại vách đường ra thất phải (RVOT) để đánh giá hiệu quả điều trị. Kỹ thuật này đòi hỏi sự chính xác cao trong việc xác định vị trí cấy và đảm bảo các thông số điện cực tối ưu. Quy trình cấy máy bao gồm các bước: chuẩn bị bệnh nhân, đưa điện cực vào RVOT, kiểm tra thông số và cố định điện cực.

2.1. Quy trình cấy điện cực tại RVOT

Quy trình cấy điện cực tại RVOT bao gồm các bước chi tiết: gây tê tại chỗ, đưa điện cực qua van ba lá, xác định vị trí RVOT bằng hình ảnh X-quang và siêu âm, kiểm tra thông số điện cực như ngưỡng kích thích và trở kháng. Kỹ thuật này đòi hỏi sự chính xác và kinh nghiệm của bác sĩ để đảm bảo hiệu quả và an toàn.

2.2. Đánh giá hiệu quả kỹ thuật

Hiệu quả của kỹ thuật được đánh giá qua các thông số điện cực, thời gian phức bộ QRS, và kết quả siêu âm tim sau 12 tháng theo dõi. Nghiên cứu cho thấy tạo nhịp tại RVOT giúp cải thiện đồng bộ thất, giảm rối loạn tái cấu trúc cơ tim và nâng cao chất lượng cuộc sống bệnh nhân.

III. Kết quả và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy tạo nhịp tim tại vách đường ra thất phải mang lại hiệu quả cao trong điều trị RLNC. Phương pháp này giúp cải thiện đồng bộ thất, giảm nguy cơ rung nhĩ và tăng hiệu quả tưới máu cơ tim. Nghiên cứu cũng mở ra hướng đi mới trong việc tối ưu hóa kỹ thuật tạo nhịp tim tại Việt Nam.

3.1. So sánh hiệu quả giữa RVOT và RVA

So sánh giữa RVOTRVA cho thấy tạo nhịp tại RVOT giúp giảm thời gian phức bộ QRS, cải thiện đồng bộ thất và giảm tỉ lệ biến chứng. Điều này khẳng định ưu điểm của RVOT trong điều trị RLNC.

3.2. Ứng dụng thực tiễn tại Việt Nam

Nghiên cứu là tiền đề để áp dụng kỹ thuật tạo nhịp tại RVOT tại các trung tâm tim mạch Việt Nam. Điều này giúp nâng cao chất lượng điều trị RLNC, giảm tỉ lệ biến chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhân.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN NHỊP CHẬM 1. Đặc điểm chung 1. Định nghĩa RLNC được định nghĩa là tình trạng tần số tim <60ck/phút [73].

RLNC là dạng rối loạn nhịp tim rất thường gặp trên lâm sàng và có thể xuất hiện ở mọi lứa tuổi khác nhau. RLNC có thể là tổn thương cấu trúc thực thể, nhưng cũng có thể là rối loạn chức năng do hoạt động sinh lý của cơ thể (ảnh hưởng của tuổi, giới.) hoặc tác động của các yếu tố ngoại lai [129]. Phân loại rối loạn nhịp chậm RLNC được xác định do 3 cơ chế chính: rối loạn hình thành xung động, rối loạn dẫn truyền và kết hợp cả 2 cơ chế trước. Tương ứng với 3 cơ chế đó, RLNC chia làm 2 thể bệnh chính: hội chứng nút xoang bệnh lý (HCNXBL) do rối loạn hệ thống phát nhịp và rối loạn dẫn truyền nhĩ thất do bất thường tại nút nhĩ thất hoặc hệ His - Purkinje; phân loại RLNC được mô tả theo Bảng 1.

Phân loại rối loạn nhịp chậm STT HCNXBL Rối loạn dẫn truyền nhĩ thất 1 Nhịp chậm xoang Block N-T cấp I 2 Ngừng xoang Block N-T cấp 2 3 Block xoang nhĩ - Týp I 4 Hội chứng nhịp nhanh - nhịp chậm - Týp II 5 Thể hạn chế gắng sức Block N-T độ cao 6 Rung nhĩ có đáp ứng tần số thất chậm Block N-T cấp 3 7 Liệt nhĩ mạn tính 4 1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh lý rối loạn nhịp chậm 1. Các biểu hiện lâm sàng của HCNXBL * Nhịp chậm xoang: Nhịp chậm xoang được định nghĩa khi tần số tim <60ck/ph. Nhịp chậm xoang cũng hay gặp ở những người cường phó giao cảm, vận động viên hoặc người có sức khỏe tốt.

Nhịp chậm xoang nghi ngờ do HCNXBL khi biểu hiện kéo dài, kèm theo triệu chứng lâm sàng và không giải thích được do các nguyên nhân khác. * Ngừng xoang: Được định nghĩa khi khoảng ngừng không phải là bội số của chu kỳ PP trên điện tim trước đó. Ngừng xoang không có triệu chứng kéo dài từ 2 đến 3 giây có thể gặp ở 11% người bình thường khi theo dõi bằng Holter điện tim 24h và 1/3 vận động viên thể thao [78]. Tuy nhiên, ngừng xoang kéo dài > 3giây rất hiếm gặp ở người bình thường và thường là do HCNXBL.

* Block xoang nhĩ: là hiện tượng khi một xung động bình thường của nút xoang không thể dẫn truyền rời nút xoang ra ngoài để khử cực tâm nhĩ do dẫn truyền chậm hoặc bị chẹn lại. Block xoang nhĩ được chia làm 3 độ: độ 1, độ 2 và độ 3. Phân biệt 3 độ thường phải dựa trên thăm dò điện sinh lý tim [134]. * Hội chứng nhịp nhanh - nhịp chậm Là sự xen kẽ nhịp chậm (nhịp xoang hay nhịp bộ nối) với nhịp nhanh trên thất.

Nhịp nhanh trên thất trong hội chứng nhịp nhanh - nhịp chậm thường là rung nhĩ kịch phát, tuy nhiên vẫn có tỉ lệ khác ít gặp hơn như cuồng nhĩ, nhanh nhĩ hoặc cơn nhịp nhanh kịch phát trên thất [78]. Hội chứng nhịp nhanh - nhịp chậm 5 * Rung nhĩ có đáp ứng tần số thất chậm: Bệnh nhân rung nhĩ có tần số thất chậm, khi đã loại trừ do tác dụng của thuốc cũng là một dấu hiệu của HCNXBL. * HCNXBL thể hạn chế gắng sức (Chronotropic - incompetence): mặc dù chưa có định nghĩa đồng thuận, nhưng đây là thể bệnh cũng hay gặp trong HCNXBL; đặc điểm là bệnh nhân không có khả năng tăng tần số tim khi gắng sức. Khi nghỉ bệnh nhân nhịp tim có thể bình thường, nhưng khi gắng sức, bệnh nhân chỉ đạt được khoảng 70 - 75% tần số tim tối đa theo lứa tuổi, thường kèm theo triệu chứng mệt, khó thở và choáng váng.

* Liệt nhĩ mạn tính (Persistent atrial standstill): là một thể ít gặp. Bệnh nhân hoàn toàn không có hoạt động điện của nhĩ và cơ nhĩ, không thể kích thích bằng xung động điện khi thăm dò điện sinh lý. Trên điện tim bề mặt, chỉ thấy nhịp bộ nối hoặc nhịp thất và không có sóng P [41], [51]. Các thể lâm sàng của bệnh lý rối loạn dẫn truyền nhĩ thất * Block N-T cấp I: được xác định khi PR >0,2s; các sóng P đều được dẫn truyền xuống thất và thời gian PR không thay đổi ở các phức bộ.

Trong block N-T cấp I, vị trí block tại nút N-T hay gặp nhất: 87% ở bệnh nhân QRS <120ms và 90% ở những bệnh nhân PR >300ms [86], [128]. * Block N-T cấp 2: được xác định khi xung động từ nhĩ không dẫn được liên tục xuống thất và chia thành 2 týp: - Týp I: là hiện tượng PR kéo dài dần cho tới khi có 1 sóng P không được dẫn. Block N-T cấp 2 týp I xảy ra do quá trình trơ tương đối và tuyệt đối của nút N-T; hiện tượng này thường bị ảnh hưởng bởi thần kinh phó giao cảm. - Týp II: Khoảng PR cố định cho tới khi có 1 sóng P không được dẫn xuống thất.

Block N-T cấp 2 týp II phần lớn tổn thương dưới nút N-T, trong đó khoảng 30% là tổn thương tại bó His, gần 70% là tổn thương dưới His. * Block N-T độ cao: được xác định khi trên điện tim có ≥2 sóng P liên tiếp không dẫn xuống thất. PR ở các chuyển đạo có dẫn thì không thay đổi. Dạng 6 block này xác định do tổn thương tại nút N-T khi phức bộ QRS hẹp và điện tim thường hết block sau dùng Atropin; ngược lại thường là tổn thương hệ His - Purkinje [86].

* Block N-T cấp 3: được định nghĩa khi không có 1 xung động nào từ nhĩ dẫn truyền được xuống thất. Triệu chứng lâm sàng của bệnh lý rối loạn nhịp chậm Triệu chứng lâm sàng của RLNC thường không đặc hiệu, thậm chí không có triệu chứng; hay gặp là mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, đau ngực, choáng váng. Khi bệnh nhân có triệu chứng ngất hoặc gần ngất, thường ở giai đoạn xuất hiện vô tâm thu hoặc block N-T độ cao; đôi khi lâm sàng thường chỉ biểu hiện tại thời điểm đó. Các phương pháp chẩn đoán bệnh lý rối loạn nhịp chậm * Holter điện tim: là phương pháp thăm dò không chảy máu rất cần thiết để đánh giá RLNC, với ưu điểm là xác định được mối liên hệ giữa triệu chứng và điện tim.

Phương pháp rất phù hợp khi thu thập bằng chứng ở các bệnh nhân có triệu chứng do nhịp chậm xảy ra không thường xuyên. * Nghiệm pháp gắng sức: thường sử dụng nghiệm pháp gắng sức thể lực. Phương pháp này rất có ý nghĩa trong chẩn đoán RLNC do cường phó giao cảm; là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán HCNXBL thể hạn chế gắng sức. * Nghiệm pháp đánh giá tần số tim nội tại bằng thuốc: Đây là phương pháp đánh giá hoạt động nội tại của nút xoang và dẫn truyền N-T bằng cách ức chế tác động của hệ thần kinh tự động lên tim bằng thuốc (Propanolol, Atropin sulfat).

Giá trị bình thường của tần số tim nội tại được tính bằng công thức: 118,1 – (0,57 x tuổi); giá trị ± 14% ở người trẻ và ± 18% ở người trên 45 tuổi [16]. Trong lâm sàng, thường dùng đơn độc Atropin sulfat tiêm tĩnh mạch. * Thăm dò điện sinh lý tim: là phương pháp thăm dò có chảy máu, thu thập điện đồ trong buồng tim để đánh giá các thông số liên quan đến RLNC. 7 Trong HCNXBL, thu thập các thông số: thời gian hồi phục nút xoang (giá trị bình thường: 1500ms) và thời gian hồi phục nút xoang có điều chỉnh (giá trị bình thường: 350 - 550ms) với độ nhạy trong chẩn đoán HCNXBL (85%) và độ đặc hiệu (90%); thời gian dẫn truyền xoang nhĩ (giá trị bình thường: 45 - 125ms), được đo bằng phương pháp trực tiếp và gián tiếp.

Trong HCNXBL, tỉ lệ bệnh nhân thời gian dẫn truyền xoang nhĩ kéo dài khoảng 40%; tỉ lệ này cao hơn ở bệnh nhân block xoang nhĩ hoặc thể nhịp nhanh-nhịp chậm, khoảng 78% [134]. Cách tính thời gian hồi phục chức năng nút xoang (1625 ms) Ở bệnh nhân block N-T, thăm dò điện sinh lý đánh giá điện đồ trong buồng tim được coi là tiêu chuẩn vàng trong xác định loại block N-T, vị trí tổn thương và đánh giá các yếu tố tiên lượng của bệnh nhân. Điều trị rối loạn nhịp chậm bằng TNT vĩnh viễn 1. Lịch sử hình thành và phát triển TNT vĩnh viễn * Trên thế giới Năm 1956, MTNT tự động được cấy vào cơ thể nhờ một phát minh ngẫu nhiên của Wilson Greatbatch.

Năm 1958, Elmqvist và Senning thành công với MTNT cấy vào cơ thể đầu tiên với điện cực gắn vào thượng tâm mạc. Năm 1963, Lagergren và Forhanson lần đầu tiên thành công với kỹ thuật cấy máy với điện cực luồn qua tĩnh mạch vào tim. Năm 1964, Castellanos và cộng sự sáng chế ra máy tạo nhịp thất một buồng (VVI). Năm 1969, Berkorvits thành công 8 với máy tạo nhịp đồng bộ nhĩ thất đầu tiên (dạng DVI) [94].

Việc ứng dụng và phát triển MTNT đi đầu vẫn là các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ và các nước Châu Âu với số bệnh nhân không ngừng gia tăng. Song song với xu thế TNT sinh lý, số lượng MTNT 2 buồng tim tăng từ 29,1/100.000 dân (năm 2009); còn máy tạo nhịp 1 buồng giảm từ 17,2/100. * Tại Việt Nam Năm 1973, Vũ Văn Đính, Trần Đỗ Trinh và Đặng Hanh Đệ đã thực hiện ca cấy MTNT đầu tiên tại Việt nam. Năm 1989, Trần Đỗ Trinh và cộng sự đã có những nghiên cứu bước đầu đánh giá hiệu quả của TNT trên 32 bệnh nhân tại Bệnh viện Bạch mai [13].

Đến nay, TNT đã trở thành kỹ thuật thường quy tại Việt nam với số lượng bệnh nhân không ngừng gia tăng. Tại Bệnh viện TƯQĐ 108, cấy MTNT đã được thực hiện khoảng 20 năm nay, với đầy đủ các thế hệ máy và phương thức tạo nhịp khác nhau. Các kỹ thuật cấy điện cực vào mỏm tim, vách liên thất và RVOT được thực hiện thuần thục, an toàn. Hệ thống máy TNT Hệ thống TNT được cấu thành từ 3 bộ phận: MTNT, điện cực tạo nhịp và máy lập chương trình [9], [46].

Hệ thống máy tạo nhịp tim 9 * Máy tạo nhịp tim (Pacemaker): Đây là một cấu trúc hoàn chỉnh để thực hiện tính năng điều trị của MTNT, gồm các thành phần chính: vỏ máy, pin, lỗ cắm điện cực và mạch điện (Hình 1. Máy tạo nhịp thường chỉ được sản xuất bởi các tập đoàn về y tế lớn nhất trên thế giới do tính phức tạp và đòi hỏi sự chính xác, an toàn gần như tuyệt đối trong điều trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu hiệu quả tạo nhịp tim vĩnh viễn tại vị trí vách đường ra thất phải là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc đánh giá hiệu quả của phương pháp tạo nhịp tim vĩnh viễn tại vị trí vách đường ra thất phải. Nghiên cứu này cung cấp những thông tin quan trọng về kỹ thuật, kết quả lâm sàng, và lợi ích của phương pháp này trong điều trị các bệnh lý tim mạch, đặc biệt là ở những bệnh nhân có rối loạn nhịp tim. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các bác sĩ, nhà nghiên cứu và sinh viên y khoa quan tâm đến lĩnh vực tim mạch và can thiệp tim mạch.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp điều trị tim mạch tiên tiến, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu hiệu quả của phẫu thuật van hai lá ít xâm lấn qua đường mở ngực phải, một nghiên cứu chuyên sâu về phẫu thuật tim ít xâm lấn. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu quy trình kỹ thuật điều trị phẫu thuật gãy kín cổ phẫu thuật xương cánh tay bằng đinh metaizeau cũng là một tài liệu thú vị về kỹ thuật phẫu thuật hiện đại. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu mạch máu và thần kinh tuyến giáp trên người Việt Nam trưởng thành cung cấp thêm góc nhìn về giải phẫu học ứng dụng trong y khoa.