CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Sơ lược về vi khuẩn Gram âm 1. Vi khuẩn Acinetobacter baumannii Acinetobacter baumannii (A. baumannii) được nhà vi sinh vật học Beijerinck người Hà Lan phân lập lần đầu tiên vào năm 1911 và được đặt tên là Micrococcus calcoaceticus.
Trong 50 năm tiếp theo, loại vi khuẩn này cũng đã được phân lập nhiều lần và được báo cáo dưới nhiều tên khác nhau. Đến năm 1968, Baumann và cộng sự đã xếp tất cả vào cùng chi Acinetobacter và được hội đồng phân loại học chấp nhận [35]. Hiện nay, theo vị trí phân loại, A. baumannii được xếp vào chi Acinetobacter, họ Moraxellaceae, bộ Pseudomonadales, lớp Gammaproteobacteria, ngành Proteobacteria [35].
Tại Việt Nam, A. baumannii chiếm 94,4% tổng trường hợp nhiễm Acinetobacter [21]. baumannii nói riêng và các loài thuộc chi Acinetobacter nói chung là các vi khuẩn sống tự do và thường được tìm thấy ở nước, đất [21]. Trong môi trường bệnh viện, A.
baumannii có thể được tìm thấy trên giường, rèm, tường, các dụng cụ và thiết bị y tế và cũng có thể bám trên các dụng cụ chăm sóc cá nhân và thậm chí cả máy vi tính. Vi khuẩn này có thể tồn tại lâu dài và tích lũy các gene kháng KS ngay trong bệnh viện nhờ vào việc tồn tại ở trạng thái không hoạt động và khả năng hình thành biofilm. Việc hình thành biofilm giúp cho A. baumannii có thể bám vào bề mặt các sinh vật sống và cả các bề mặt khác [45].
Đây chính là một trong những yếu tố quan trọng trong việc tồn tại và gây bệnh của A. Đặc điểm hình thái, sinh lý, sinh hóa A. baumannii là cầu trực khuẩn Gram âm, hiếu khí tuyệt đối, không sản xuất ra các loại enzyme như cytochrome oxidase, urease, citrate, indole nhưng lại có khả năng sinh enzyme catalase và dễ nuôi cấy. Chúng sinh trưởng tốt ở điều kiện nhiệt độ từ 35oC đến 37oC.
baumannii là loài duy nhất có thể sinh trưởng ở 44oC trong chi Acinetobacter. Loài này phát triển tốt trong các môi trường nuôi cấy thường sử dụng trong phòng thí nghiệm như: môi trường thạch máu (BA), thạch. chocolate và thạch MacConkey. Trên môi trường BA, chúng tạo thành các khuẩn lạc không màu, hơi nhầy, không gây tán huyết hoặc ở dạng kết cấu nhẵn với đường kính từ 1-2 mm sau 18-24 giờ ủ ở 37oC.
Trên môi trường thạch MacConkey, các khuẩn lạc không màu, hơi nhầy. Trên môi trường thạch chọn lọc Leeds Acinetobacter, khuẩn lạc có màu hồng nhạt [35]. Nhiễm khuẩn do Acinetobacter baumannii gây ra A. baumannii là nhân tố gây bệnh có mặt khắp nơi và có khả năng gây bệnh nhiễm khuẩn cộng đồng và nhiễm khuẩn bệnh viện.
Vi khuẩn này đã được cảnh báo là nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện với mức độ kháng KS cao và xu hướng có thể gây ra sự bùng phát lớn trong các bệnh viện [63]. Khả năng tạo biofilm và kháng đa KS đã giúp cho A. baumannii tồn tại lâu dài trong môi trường bệnh viện tạo điều kiện cho việc gây nên dịch. baumannii đa kháng thuốc đã được báo cáo xuất hiện ở 14 bệnh viện thuộc Châu Âu, Bắc Mỹ, Argentina, Brazil, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản và Hàn Quốc và từ các khu vực xa xôi như Tahiti ở Nam Thái Bình Dương.
Các chủng đa kháng thuốc này thường lây lan để gây ra dịch bệnh trên toàn bộ thành phố, quốc gia và lục địa. Việc lan tràn các chủng đa kháng thuốc từ các khu vực có tỷ lệ kháng KS cao đến các khu vực có tỷ lệ thấp như từ Tây Ban Nha đến Na Uy, đã được ghi nhận. Gần đây, các trường hợp nhân viên quân sự và phi quân sự của Vương quốc Anh và Hoa Kỳ trở về từ các hoạt động ở Iraq và Afghanistan và mắc các bệnh nhiễm khuẩn do A. baumannii gây ra đang ngày càng được chú ý [63].
baumannii còn có khả năng gây ra một số bệnh nguy hiểm khác như viêm màng não, viêm nội tâm mạc, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, viêm giác mạc… A. baumannii không phải là một vi khuẩn có khả năng gây bệnh với độc tính cao, tuy nhiên với khả năng kháng đa KS đứng đầu trong các vi khuẩn kháng thuốc hiện nay đã biến A. baumannii đang trở thành mối đe dọa đối với mọi bệnh nhân trên thế giới, đặc biệt là các bệnh nhân nằm trong ICU. Vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa Trước đây trực khuẩn mủ xanh có tên gọi là Bacterium aeruginosa, được.
Schroeter mô tả năm 1872. Đến năm 1990 Migula xếp chúng sang giống Pseudomonas, họ Pseudomonadaceae trong nhóm Gammaproteobacteria. Từ đó trực khuẩn mủ xanh còn có tên gọi khác là Pseudomonas aeruginosa (P. Đặc điểm hình thái, sinh lý, sinh hóa P.
aeruginosa là một vi khuẩn Gram âm hiếu khí, có khả năng tồn tại trong nhiều môi trường khác nhau. Sinh vật này có kích thước khoảng 0.6 x 2 µm và có khả năng di động nhờ tiên mao ở một cực duy nhất, không sinh vỏ, không sinh nha bào [3]. Trên môi trường thạch, vi khuẩn thường tạo khuẩn lạc thể S. Trong môi trường lỏng, vi khuẩn làm đục đều môi trường và tạo lớp váng bề mặt sau 18-24 giờ [3].
aeruginosa là vi khuẩn không lên men các loại đường, dương tính với oxidase và catalase, một số chủng gây tan máu β [3]. Khi vi khuẩn phát triển trong môi trường dinh dưỡng hoặc trên vết thương, chúng tiết ra sắc tố khuếch tán ra ngoài làm thay đổi màu sắc khuẩn lạc và môi trường [3]. Có bốn loại sắc tố thường gặp: pyocyanin (sắc tố màu xanh da trời, không phát huỳnh quang dưới tia cực tím), pyomelanin (sắc tố màu nâu đen), pyorubin (sắc tố màu đỏ nâu), pyoverdine (sắc tố màu xanh lục, phát huỳnh quang dưới tia cực tím) [3]. Nhiễm khuẩn do Pseudomonas aeruginosa gây ra P.
aeruginosa phân bổ khắp nơi và có thể gây bệnh cho một số động vật và thực vật [3]. Trong môi trường bệnh viện, P. aeruginosa thường tồn tại nhiều và dai dẳng, nhất là ở những nơi ẩm thấp như sàn nhà, giường, chiếu, dụng cụ y tế, …, từ đó, vi khuẩn lây lan và xâm nhập vào bệnh nhân [3]. aeruginosa là vi khuẩn gây bệnh cơ hội trên những người bị suy giảm miễn dịch; lạm dụng kháng sinh; các thủ thuật y khoa: thông tiểu, đặt nội khí quản, …;.
tổn thương da, niêm do chấn thương, phỏng, loét do tì đè, …[3]. aeruginosa được xác định là một trong những tác nhân nhiễm khuẩn bệnh viện nguy hiểm hàng đầu [3]. Vi khuẩn Klebsiella pneumoniae Klebsiella pneumoniae (K. pneumoniae) thuộc họ vi khuẩn đường ruột – Enterobacteriaceae; chi Klebsiella, gồm các loài: Klebsiella pneumoniae, Klebsiella granulomatis, Klebsiella ozaenae, Klebsiella rhinoscleromatis, Klebsiella oxytoca, Klebsiella ornithinolytica, Klebsiella planticola, Klebsiella terrigena [41], [55].
Vi khuẩn này có mặt ở khắp nơi trong tự nhiên như đất, nước, nước thải, các sản phẩm thực vật, những thức ăn có hàm lượng đường và acid cao [41], [55]. Trong số các loài thuộc chi Klebsiella, K. pneumoniae có tầm quan trọng nhất về mặt bệnh học và và trở thành một trong những tác nhân gây nhiễm khuẩn cộng đồng nghiêm trọng trong những năm gần đây [41], [55]. Đặc điểm hình thái, sinh lý, sinh hóa Các vi khuẩn thuộc giống K.
pneumoniae được phát hiện đầu tiên vào thế kỷ 19 bởi nhà vi sinh vật học người Đức – Edwin Klebs. Vi khuẩn có hai đầu tròn, không có lông, không sinh nha bào, có vỏ [3]. pneumoniae phát triển dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy thông thường như MacConkey tạo khuẩn lạc màu hồng nhạt, bóng, nhầy [55]. Vi khuẩn có lên men đường glucose, lactose, sản xuất men urease và có khả năng sử dụng citrate, sinh khí CO, H2, nhưng không sinh khí H2S, không di động và cho phản ứng indol âm tính [3].
Nhiễm khuẩn do Klebsiella pneumoniae gây ra Từ những năm 1970, dịch tễ nhiễm khuẩn gây ra bởi K. pneumoniae thay đổi mạnh mẽ khi vi khuẩn này xuất hiện trong bệnh viện và trở thành nguyên nhân quan trọng của nhiễm khuẩn bệnh viện trên các bệnh nhân có thể trạng suy yếu bởi tình trạng đa bệnh lý [65], [75]. Vi khuẩn có khả năng gây bệnh ở hầu hết các cơ quan, thường gặp nhất là hô hấp ở trẻ em hoặc bệnh nhân thở máy [78]. Vi khuẩn này cũng là căn nguyên chính gây ra nhiễm khuẩn đường tiết niệu, áp xe gan và viêm phổi ở người khỏe mạnh [65], [75].
Ngoài ra, vi khuẩn còn có thể gây nhiễm khuẩn huyết, viêm tai giữa, viêm xoang [78]. Kháng sinh 1. Lịch sử ra đời kháng sinh Kháng sinh được phát hiện vào năm 1928. Fleming đã ghi nhận một khuẩn lạc khác thường của nấm mốc trong một số đĩa petri có chứa vi khuẩn Staphylococcus.
Các khuẩn lạc mốc đã khuếch tán các hợp chất xung quanh nó dẫn tới không có khuẩn lạc Staphylococcus mọc xung quanh khuẩn lạc mốc [62]. Fleming đã viết bài báo đầu tiên của ông về penicillin trong năm 1929, đề cập đến việc sử dụng các chất bổ sung vào trong môi trường nuôi cấy vi khuẩn để chọn lọc và phân lập vi khuẩn Haemophilus influenzae, được cho là nguyên nhân gây ra bệnh cúm [62]. Theo thời gian, Fleming đã chứng minh rằng penicillin có khả năng ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn và thậm chí là diệt khuẩn. Tuy nhiên trong giai đoạn này penicillin đã không được sử dụng rộng rãi.
Trong các khoảng thời gian tiếp theo, rất nhiều họ kháng sinh và thế hệ kháng sinh mới ra đời, nhằm đáp ứng nhu cầu điều trị bệnh trên người và động vật [81]. Phân loại Có nhiều cách để phân loại thuốc kháng sinh như căn cứ vào: 1. Nguồn gốc - Kháng sinh được sản xuất từ vi sinh vật do vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn tiết ra, có tác dụng ngăn cản hay giết chết vi sinh vật khác mà không hoặc ít gây hại cho cơ thể người. Điển hình là penicillin.
- Kháng sinh bán tổng hợp được tổng hợp từ một nhân tố cơ bản có nguồn gốc vi sinh vật bằng cách gắn thêm một số gốc hóa học vào phân tử KS ban đầu để tối. Có thể kể đến như ampicillin, oxacillin… [29]. - Kháng sinh tổng hợp được tổng hợp từ những chất hoá học như các fluoroquinolone, nitrofuran, chloramphenicol. Cấu trúc hóa học Họ β-lactamin, aminoside, chloramphenicol, tetracycline, polypeptide… [3].
Phổ tác dụng Phổ tác dụng của một thuốc KS bao gồm tất cả các loài vi sinh vật mà KS đó tác dụng [3]. Như vậy, một kháng sinh có phổ tác dụng rộng là KS có tác dụng với nhiều loại vi khuẩn. Ngược lại, kháng sinh có phổ tác dụng hẹp là KS tác dụng với một loài vi khuẩn [3]. Cơ chế tác dụng Sau khi vào tế bào, KS được đưa tới đích tác động lên 4 thành phần cấu tạo cơ bản của tế bào, làm kìm hãm sự sinh trưởng, phát triển hoặc tiêu diệt vi khuẩn bằng cách: - Cạnh tranh [3]: + Đó là cơ chế tác dụng của sulfamide.