Nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật và năng suất nhân tố tổng hợp của ngành công nghiệp chế biến thủy sản việt nam

Nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuật và năng suất nhân tố tổng hợp của ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam. Phân tích, đánh giá và giải pháp nâng cao.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2024

182
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ NĂNG SUẤT NHÂN TỐ TỔNG HỢP

1.1. Tổng quan nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuật và năng suất nhân tố tổng hợp

1.2. Các nghiên cứu nước ngoài

1.3. Các nghiên cứu trong nước

1.4. Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật và năng suất nhân tố tổng hợp

1.5. Các nhân tố thuộc đặc điểm của doanh nghiệp

1.6. Các nhân tố thuộc môi trường sản xuất, kinh doanh

1.7. Kết quả đạt được, khoảng trống nghiên cứu và khung phân tích của luận án

1.7.1. Kết quả đạt được

1.7.2. Khoảng trống nghiên cứu và khung nghiên cứu của luận án

1.8. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ TE VÀ TFP CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN VIỆT NAM

2.1. Khái niệm về hiệu quả kỹ thuật và năng suất nhân tố tổng hợp

2.1.1. Khái niệm về hiệu quả kỹ thuật

2.1.2. Khái niệm năng suất nhân tố tổng hợp

2.2. Phân rã tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp

2.3. Phương pháp ước lượng TE và TFP cho ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam

2.3.1. Phương pháp ước lượng hiệu quả kỹ thuật

2.3.2. Phương pháp ước lượng đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp vào sản lượng

2.3.3. Phương pháp phân rã tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp

2.3.4. Phương pháp phân tích tác động của các nhân tố đến hiệu quả kỹ thuật và năng suất nhân tố tổng hợp

2.3.4.1. Mô hình hồi quy Tobit
2.3.4.2. Mô hình POLS, FEM, REM

2.4. Nguồn dữ liệu, biến nghiên cứu, mẫu nghiên cứu và thống kê mô tả các biến trong mẫu nghiên cứu

2.4.1. Nguồn dữ liệu

2.4.2. Các biến trong các mô hình

2.4.3. Mẫu nghiên cứu và thống kê mô tả của các biến trong mẫu nghiên cứu

2.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ NĂNG SUẤT NHÂN TỐ TỔNG HỢP CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015 - 2020

3.1. Thực trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh của ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020

3.2. Số lượng và cơ cấu của các doanh nghiệp trong ngành

3.3. Thực trạng hoạt động và kết quả sản xuất, kinh doanh

3.4. Thực trạng hiệu quả kỹ thuật của ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam

3.5. Thực trạng năng suất nhân tố tổng hợp ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam giai đoạn 2015-2020

3.6. Thực trạng năng suất bộ phận của ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam giai đoạn 2015-2020

3.7. Phân tích thực trạng năng suất nhân tố tổng hợp của ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam giai đoạn 2015-2020

3.8. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN HIỆU QUẢ KỸ THUẬT, NĂNG SUẤT NHÂN TỐ TỔNG HỢP CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN VIỆT NAM

4.1. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

4.2. Xây dựng mô hình

4.3. Kết quả ước lượng

4.4. Thống kê mô tả các biến

4.5. Kiểm định về sự phù hợp và lựa chọn phương pháp ước lượng của các mô hình

4.6. TIỂU KẾT CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ NĂNG SUẤT NHÂN TỐ TỔNG HỢP CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN THỦY SẢN VIỆT NAM

5.1. Định hướng, mục tiêu và yêu cầu đặt ra đối với ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

5.2. Những vấn đề đặt ra đối với ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam

5.3. Mục tiêu của ngành công nghiệp chế biến thủy sản đến năm 2030 tầm nhìn đến 2045

5.4. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật và năng suất nhân tố tổng hợp ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam

5.4.1. Giải pháp đối với các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam

5.4.2. Giải pháp đối với Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam

5.4.3. Khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước

5.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 5

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan Nghiên cứu Hiệu quả Kỹ thuật Chế biến Thủy sản

Nghiên cứu hiệu quả kỹ thuậtnăng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đóng vai trò then chốt trong tăng trưởng kinh tế, được Solow (1957), Lucas (1988) và Romer (1994) nhấn mạnh. Hiệu quả kỹ thuật đo lường khả năng tối thiểu hóa đầu vào hoặc tối đa hóa đầu ra, là thước đo quan trọng trong kinh tế. Năng suất, mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào, phản ánh hiệu quả, chất lượng sản xuất và cuộc sống. Năng suất bộ phận xem xét từng yếu tố, ví dụ như năng suất lao động hoặc năng suất vốn. TFP, phần tăng thêm nhờ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động, là yếu tố then chốt. Nâng cao hiệu quả kỹ thuật chế biến thủy sảnnăng suất ngành chế biến thủy sản đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.

1.1. Tầm quan trọng của Hiệu quả Kỹ thuật và Năng suất TFP

Nghiên cứu đồng thời về hiệu quả kỹ thuậtTFP mang lại nhiều thông tin về hiệu suất, giúp xác định cách sử dụng nguồn lực tối ưu, cải thiện công nghệ chế biến thủy sản, và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Phân rã tăng trưởng TFP cung cấp thông tin về các yếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm năng suất, giúp đánh giá toàn diện quá trình sản xuất. Kết hợp thông tin từ hiệu quả kỹ thuật chế biến thủy sảnTFP giúp xây dựng chiến lược kinh doanh và phát triển bền vững. Việc đo lường và phân tích hiệu quả kỹ thuậtTFP một cách chính xác là vô cùng quan trọng để đưa ra các quyết định và chính sách hiệu quả.

1.2. Vai trò của Ngành Chế biến Thủy sản Việt Nam

Ngành chế biến thủy sản phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn, đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế. Xuất khẩu thủy sản mang lại giá trị lớn. Theo VASEP, năm 2022, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 11 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ 3 trên thế giới về sản xuất, chế biến và xuất khẩu thủy sản. Ngành giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, tạo động lực cho nghề khai thác và nuôi trồng. Tuy nhiên, ngành còn nhiều hạn chế, bất cập, đặc biệt về công nghệ và hiệu quả kỹ thuật.

II. Thực trạng và Thách thức Năng suất Ngành Thủy sản Việt Nam

Trong giai đoạn 2015-2020, Việt Nam có trung bình khoảng trên một ngàn doanh nghiệp chế biến thủy sản hoạt động mỗi năm. Phần lớn doanh nghiệp là siêu nhỏ, nhỏ và vừa, gặp nhiều khó khăn về vốn, lao động và công nghệ sản xuất. Trình độ công nghệ chế biến thủy sản chưa cao, chủ yếu là chế biến thô, hiệu quả kỹ thuậtnăng suất ngành chế biến thủy sản còn thấp, đặc biệt là TE và TFP chưa đáp ứng tiềm năng. Giả định tất cả doanh nghiệp có cùng công nghệ sản xuất có thể dẫn đến ước lượng không chính xác về TE và TFP.

2.1. Hạn chế trong Đánh giá Hiệu quả và Năng suất

Các phân tích về hiệu quả kỹ thuậtnăng suất ngành chế biến thủy sản hiện nay thường giả định tất cả doanh nghiệp có cùng công nghệ sản xuất, dẫn đến ước lượng không chính xác về TE và TFP. Ngoài ra, việc đánh giá tác động của các nhân tố mới chỉ tập trung vào đặc điểm của doanh nghiệp mà chưa đề cập đến cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh. Việc thiếu đầy đủ các yếu tố sẽ dẫn đến các giải pháp toàn diện trong việc nâng cao hiệu quả kỹ thuậtnăng suất ngành chế biến thủy sản.

2.2. Sự cần thiết của Nghiên cứu Toàn diện

Nghiên cứu sinh chọn đề tài “Nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật và năng suất nhân tố tổng hợp ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam” nhằm phân tích TE và TFP, đồng thời phân tích tác động của các nhân tố. Nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả và năng suất, giúp doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tốt hơn. Mục đích là xây dựng căn cứ khoa học cho các giải pháp nâng cao hiệu quả kỹ thuậtnăng suất nhân tố tổng hợp ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam. Nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi: TE, TFP là gì? Cách tiếp cận đo lường, phân tích? Thực trạng về TE, TFP của ngành? Nhân tố nào tác động đến TE, TFP? Giải pháp, kiến nghị cần thực hiện?

2.3. Phạm vi và Đối tượng Nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là hiệu quả và năng suất, xem xét ở hai khía cạnh là TE và TFP. Phạm vi nghiên cứu là các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam thuộc mã ngành cấp 3 là 102 trong danh mục các ngành kinh tế theo Quyết định 27/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ. Việt Nam có lợi thế với đường bờ biển dài, diện tích mặt nước lớn, có tiềm năng lớn để phát triển nuôi trồng thuỷ sản cả nước lợ và nước ngọt, góp phần vào sản lượng tôm và cá tra thế giới.

III. Cách Đo lường Năng suất và Hiệu quả Kỹ thuật Chế biến

Các học thuyết kinh tế chỉ ra nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế là tăng trưởng các yếu tố sản xuất và nâng cao hiệu quả kỹ thuậtnăng suất nhân tố tổng hợp. Hiệu quả kỹ thuật đề cập đến mối quan hệ giữa đầu ra và đầu vào. Các thước đo hiệu quả thường được sử dụng là hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả quy mô, hiệu quả phân bổ, và hiệu quả kinh tế. Trong đó, hiệu quả kỹ thuật là khả năng cực tiểu hóa đầu vào hoặc cực đại hóa đầu ra. Năng suất ngành chế biến thủy sản được hiểu là quan hệ tỷ lệ giữa khối lượng đầu ra với khối lượng đầu vào được sử dụng.

3.1. Khái niệm và Phân loại Hiệu quả

Hiệu quả kỹ thuật là khả năng cực tiểu hóa lượng đầu vào để sản xuất một đầu ra cho trước, hoặc khả năng thu được đầu ra cực đại từ một lượng đầu vào cho trước (Farrell, 1957). Còn năng suất ngành chế biến thủy sản được hiểu là quan hệ tỷ lệ giữa khối lượng đầu ra với khối lượng đầu vào được sử dụng. Qua các giai đoạn phát triển, khái niệm năng suất có những nhận thức mới, nó phản ánh đồng thời tính hiệu quả và chất lượng sản xuất cũng như chất lượng cuộc sống ở các cấp độ khác nhau.

3.2. Năng suất Bộ phận và Năng suất Nhân tố Tổng hợp TFP

Khi đo lường năng suất, người ta có thể xem xét năng suất của từng yếu tố hoặc toàn bộ các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất. Khi xem xét năng suất của từng yếu tố người ta gọi đó là năng suất bộ phận, chẳng hạn như năng suất lao động hoặc năng suất vốn. Tuy nhiên các nhà kinh tế học đã cho thấy, trong sự tăng trưởng của kết quả sản xuất, ngoài các yếu tố như vốn và lao động thì vẫn còn một phần đáng kể được tăng thêm nhờ các yếu tố khác.

IV. Các Giải pháp Nâng cao Hiệu quả Ngành Chế biến Thủy sản

Ngày nay, việc nâng cao hiệu quả kỹ thuậtTFP là vấn đề có vai trò đặc biệt quan trọng với các doanh nghiệp, các ngành sản xuất, và toàn bộ nền kinh tế. Nghiên cứu đồng thời về TE và TFP trong các ngành sản xuất nói chung và ngành công nghiệp chế biến thủy sản nói riêng là quan trọng vì nó mang lại nhiều thông tin về hiệu suất và cơ hội cải tiến. TE cho biết mức độ tối ưu trong việc kết hợp các yếu tố đầu vào với công nghệ chế biến thủy sản hiện có.

4.1. Giải pháp Cải thiện Tổ chức và Sử dụng Nguồn lực

Điều này sẽ giúp ngành công nghiệp chế biến thủy sản xác định cách tổ chức sử dụng nguồn lực như lao động, vật liệu, và công nghệ để tối ưu hóa quá trình sản xuất. Trong khi, TFP cho biết mức độ đóng góp của các yếu tố khác do nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và lao động vào sản lượng. Hơn nữa phân rã tăng trưởng TFP còn cung cấp các thông tin về những thành tố (thay đổi hiệu quả kỹ thuật, tiến bộ công nghệ, và thay đổi hiệu quả quy mô) thúc đẩy hay kìm hãm năng suất.

4.2. Chiến lược Kinh doanh và Phát triển Bền vững

Điều này giúp ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam đánh giá toàn diện mức độ hiệu quả của toàn bộ quá trình sản xuất. Từ đó, có thể chỉ ra những cơ hội cải thiện hiệu quả kỹ thuật hoặc cải tiến công nghệ hoặc mở rộng (thu hẹp) quy mô, giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất của ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam. Hơn nữa, kết hợp thông tin từ TE và TFP sẽ giúp ngành công nghiệp chế biến thủy sản đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và nhu cầu người tiêu dùng, cũng như xây dựng chiến lược kinh doanh và phát triển bền vững.

17/05/2025
Nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật và năng suất nhân tố tổng hợp của ngành công nghiệp chế biến thủy sản việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU QUẢ KỸ THUẬT VÀ NĂNG SUẤT NHÂN TỐ TỔNG HỢP Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan các nghiên cứu về đo lường, phân tích về TE và TFP ở trong và ngoài nước. Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến TE và TFP. Từ đó tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu và khung phân tích của luận án. Tổng quan nghiên cứu về hiệu quả kỹ thuật và năng suất nhân tố tổng hợp 1.

Các nghiên cứu nước ngoài Mặc dù khái niệm TE ra đời trong thời kỳ kinh tế học tân cổ điển, nhưng không quan tâm đến đo lường nó vì giả định các doanh nghiệp luôn đạt TE tối đa. Nhưng Leibenstein (1966) [68] đã chỉ ra những vấn đề tồn tại giữa giả định lý thuyết này và thực tế thực nghiệm nên việc đo lường nó là hết sức cần thiết. Cơ sở cho việc đo lường TE bắt đầu với những mô tả của công nghệ sản xuất. Các công nghệ sản xuất có thể được biểu diễn bằng các đường đồng lượng, các hàm sản xuất, các hàm chi phí hoặc các hàm lợi nhuận.

Các mô tả công nghệ khác nhau sẽ dẫn đến các công cụ khác nhau để đo lường TE. Mặc dù các phân tích dựa trên các công cụ này có những khác biệt, nhưng chúng được tiếp cận cơ bản tương đối giống nhau, đó là TE được đo lường bởi tỷ số giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng. Trong khi đó năng suất có thể được hiểu là mối quan hệ giữa lượng đầu ra và lượng đầu vào để sản xuất ra lượng đầu ra đó. Năng suất bộ phận đơn giản được tính bằng tỷ lệ tổng lượng đầu ra trên số lượng một đầu vào cụ thể, như năng suất lao động, năng suất vốn.

Tuy nhiên các doanh nghiệp sẽ thay đổi quy mô sản xuất khi chịu tác động bởi các sốc năng suất. Khi chịu các sốc năng suất tích cực, các doanh nghiệp phản ứng bằng cách mở rộng sản xuất để tăng sản lượng do đó nhu cầu các đầu vào cũng tăng. Ngược lại, khi chịu các sốc năng suất tiêu cực thì các doanh nghiệp sẽ cắt giảm 12 sản lượng nên nhu cầu về các yếu tố đầu vào sẽ giảm. Do đó, TFP được đo bởi các kỹ thuật phức tạp hơn.

Uớc lượng chính xác TE và TFP là một vấn đề cơ bản trong kinh tế, là chủ đề được nhiều nhà kinh tế học quan tâm. Trong lý thuyết kinh tế, người ta thường sử dụng các cách tiếp cận cơ bản sau trong đo lường TE và TFP: Các phương pháp phi tham số; các phương pháp ước lượng hàm sản xuất gộp và các phương pháp biên ngẫu nhiên. Các phương pháp phi tham số thường dùng trong ước lượng TE và TFP là phương pháp chỉ số và phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA). Phương pháp chỉ số được đưa ra bởi Hicks (1961) [54] và Moorsteen (1961) [77] và được phát triển bởi Diewert (1992) [38].

Chỉ số TFP được xác định bằng tỷ lệ tốc độ tăng trưởng của tất cả các đầu ra trên tốc độ tăng trưởng của tất cả các đầu vào được sử dụng trong quá trình sản xuất. Do đó, cần xác định trước các chỉ số về lượng đầu ra và lượng đầu vào. Có thể tính các chỉ số này dưới một số dạng như: Laspeyres, Paasche, Fisher và Tornquyst (Diewert, 1992) [38]. Trong những năm gần đây, chỉ số Fisher và Tornquyst được sử dụng nhiều nhất.

Phương pháp chỉ số TFP khá dễ áp dụng và không cần những ước lượng phức tạp, nhưng nó lại không tách được TFP thành hai bộ phận là thay đổi công nghệ (TC) và thay đổi hiệu quả kỹ thuật (TEC). Hơn nữa, phương pháp này đòi hỏi các thông tin về giá đầu vào, đầu ra mà trong nhiều trường hợp chúng ta không quan sát được. Trong khi đó phương pháp bao dữ liệu (DEA) ước lượng đường biên sản xuất dựa trên dữ liệu nghiên cứu bằng cách sử dụng các kỹ thuật quy hoạch tuyến tính. Những kết hợp hiệu quả nhất sẽ nằm trên đường biên và TE được đo lường bởi khái niệm hàm khoảng cách so với đường biên (Fare và cộng sự, 1994; Coelli và cộng sự, 2005) [35,43].

Phương pháp này được gợi ý bởi Farrell (1957) [44] và được áp dụng lần đầu bởi Charnes và cộng sự (1978) [31] trong mô hình đo lường hiệu quả của các đơn vị ra quyết định (DMUs). Charnes và cộng sự (1978) [31] đã sử dụng khái niệm hàm khoảng cách định hướng đầu 13 vào và giả định tính kinh tế không đổi theo quy mô trong mô hình này. Một số nghiên cứu khác đã phát triển phương pháp này bằng việc bỏ đi các giả định trên (Fare và cộng sự, 1983; Banker và cộng sự, 1984) [42, 14]. Sau đó, xuất phát từ gợi ý của Caves và cộng sự (1982), Fare và cộng sự (1994) [43] đã phát triển mô hình DEA của Charnes và cộng sự (1978) [34] thành mô hình đo lường chỉ số Malquyst TFP.

Trong mô hình này, tăng trưởng TFP được phân rã thành các thành phần TEC và TC. Mô hình này không đòi hỏi thông tin của giá các đầu vào và đầu ra, cũng như không đòi hỏi dạng cụ thể của hàm sản xuất. Tuy nhiên đường biên của phương pháp DEA rất nhạy cảm với các quan sát trội vì nó được tạo nên từ những kết hợp hiệu quả nhất. Hơn nữa, phương pháp này không tính đến sự ảnh hưởng của các nhiễu thống kê.

Simar và Wilson (1998, 1999) [100,101] đã đưa ra kỹ thuật bootstrap nhằm khắc phục những hạn chế này. Kỹ thuật này phân tích các đặc điểm chọn mẫu, từ đó thực hiện các vòng lập chọn lại mẫu từ mẫu nghiên cứu ban đầu và thực hiện các ước lượng tương ứng với các mẫu để có được các khoảng tin cậy của ước lượng. Các phương pháp ước lượng hàm sản xuất gộp thường giả định doanh nghiệp đạt TE tối đa nên tất cả các kết hợp về sản lượng đều nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất. Chỉ có TC làm tăng trưởng TFP (Solow, 1957) [104].

Người ta thường ước lượng TC trong các phương pháp ước lượng hàm sản xuất gộp bằng cách: Thêm biến xu hướng thời gian vào hàm sản xuất gộp (Beckmann và cộng sự, 1972) [22] hoặc hạch toán tăng trưởng (Solow, 1957) [104]. Thay đổi về quy mô được tính bằng tổng ước lượng của các hệ số co giãn giữa các đầu vào với sản lượng. Ước lượng hàm sản xuất gộp được sử dụng rộng rãi trong ước lượng TFP. Tuy nhiên, phương pháp này không đem lại các thông tin về một số thành phần của TFP.

Hơn nữa kết quả ước lượng gặp một số vấn đề về kinh tế lượng như: vấn đề nội sinh; vấn đề về sự lựa chọn; vấn đề về sự thiếu hụt giá các yếu tố đầu vào, đầu ra; và khá nhạy cảm với việc lựa chọn dạng hàm. 14 Do đó, kết quả ước lượng TFP bị chệch. Để khắc phục tính nội sinh trong mô hình ước lượng hàm sản xuất gộp, Olley& Pakes (1996) [83] là những người đầu tiên đề xuất phương pháp kiểm soát hàm sản xuất bằng thủ tục ước lượng hai bước. Mức đầu tư của doanh nghiệp trong năm đại diện cho các sốc năng suất.

Tuy nhiên, phương pháp này gặp hạn chế lớn trong áp dụng thực tế, làm hạn chế phạm vi ứng dụng của nó. Điều này xuất phát từ thực tế hoạt động sản xuất công nghiệp, mức đầu tư của các doanh nghiệp thường không được quyết định tại từng thời điểm mà được tích lũy trong vài năm trước khi thực hiện nên các số liệu ở cấp độ doanh nghiệp có rất nhiều quan sát có mức đầu tư bằng không tại các thời điểm. Do đó nó vi phạm giả định về tính đơn điệu trong hàm đầu tư của Olley& Pakes (1996) [83]. Levinsohn & Petrin (2003) [69] đã khắc phục hạn chế này bằng cách đề xuất các mức đầu vào trung gian của doanh nghiệp trong năm đại diện cho các sốc năng suất.

Tuy nhiên cả phương pháp Olley& Pakes (1996) [83] và Levinsohn & Petrin (2003) [69] đều giả định các doanh nghiệp có thể điều chỉnh các mức đầu vào ngay lập tức mà không chịu tổn thất về chi phí khi chịu sự tác động của các sốc năng suất. Nhưng Bond & Soderbom (2005) [27] đã chỉ trích điều này và cho rằng hệ số của lao động có thể được ước lượng vững trong bước một nếu các biến tự do biến thiên độc lập với biến đại diện cho sốc năng suất. Ngược lại, các hệ số sẽ đa cộng tuyến hoàn hảo trong ước lượng ở bước một và do đó không thể xác định được hệ số của lao động. Cụ thể, Wooldridge (2009) [119] đã thu hẹp các momen liên quan trong các hệ số của các phương trình được thiết lập bởi Olley& Pakes (1996) [83] và Levinsohn & Petrin (2003) [69].

Các phương trình này đều có biến phụ thuộc giống nhau nhưng được đặc trưng bởi một tập các công cụ khác nhau. Cách tiếp cận như vậy giải quyết được vấn đề sản lượng 15 tiềm năng trong bước một của thủ tục hai bước và có được các sai số tiêu chuẩn tốt hơn, tính được cả cho trường hợp tự tương quan và phương sai sai số thay đổi. Tuy nhiên cách tiếp cận kiểm soát dạng hàm cũng chưa giải quyết trọn vẹn các vấn đề trong kinh tế lượng và cũng không có được thông tin về các thành phần của TFP. Một trong những phương pháp mạnh mẽ trong việc đo lường và phân tích TE và TFP là phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA).

Phương pháp này đã được giới thiệu bởi Aigner và Chu (1968) [8]. Trong phương pháp này, sai số thống kê được phân chia thành hai phần chính: nhiễu ngẫu nhiên và phi hiệu quả kỹ thuật. Aigner và Chu đã gán dấu âm cho sai số ngẫu nhiên trong quá trình ước lượng hàm sản xuất. Điều này có nghĩa rằng đầu ra thực tế không thể vượt quá đường biên sản xuất.

Mô hình hàm sản xuất biên ngẫu nhiên là sự tổng hợp của cách tiếp cận truyền thống đối với hàm sản xuất. Trong lý thuyết sản xuất truyền thống, người ta giả định rằng có sự phân phối tối ưu trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên những hạn chế này đã được khắc phục trong các mô hình biên ngẫu nhiên (Sickles và Zelenyuk, 2019) [98]. Một đặc điểm quan trọng của mô hình biên ngẫu nhiên so với mô hình hàm sản xuất trung bình thông thường là sự tồn tại của hai thành phần sai số không đối xứng, bao gồm nhiễu ngẫu nhiên và phi hiệu quả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Ngành công nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết về nâng cao hiệu quả kỹ thuật và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt. Nghiên cứu này phân tích thực trạng hiệu quả sản xuất của các doanh nghiệp chế biến thủy sản, xác định các yếu tố then chốt tác động đến TFP như trình độ công nghệ, vốn nhân lực và quy mô sản xuất. Để duy trì lợi thế cạnh tranh dài hạn, doanh nghiệp cần chú trọng hoàn thiện quản trị nhân lực ngành thủy sản song song với việc xây dựng chiến lược marketing thủy sản xuất khẩu bài bản và hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng giúp nhà quản lý và hoạch định chính sách đề xuất giải pháp tối ưu hóa nguồn lực, từ đó thúc đẩy tăng trưởng bền vững cho toàn ngành.