ĐẶT VẤN ĐỀ Trong sự phát triển kinh tế đất nước, ngành thủy sản đã và đang được coi là ngành kinh tế mũi nhọn. Trên cả nước đã có vài trăm nghìn hecta được chuyển đổi từ cấy lúa, cấy cói kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản (NTTS), tuy nhiên phần lớn lại là các đối tượng cá truyền thống (cá Mè, cá Trôi, cá Trắm…) được đưa vào nuôi theo phương thức cũ, giá trị kinh tế thấp, thu nhập từ những loại cá này không đáp ứng được ngày công bỏ ra, không có khả năng xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế một cách bền vững. Cá Vược là loài cá có nhiều ưu điểm vượt trội về chất lượng thịt ngon, lớn nhanh, chủ động sản xuất giống nhân tạo, dễ nuôi và có thể nuôi trong nước ngọt. Bên cạnh đó, cá Vược là đối tượng cá biển nuôi hiện nay ở Việt Nam có thị trường xuất khẩu và tiêu dùng nội địa lớn so với một số loài cá nuôi nước mặn, nước lợ khác.
Do vậy, đây là một loài cá có tiềm năng rất lớn, có khả năng tạo bước tiến vượt bậc so với mô hình nuôi cá truyền thống nếu được nghiên cứu và triển khai một cách bài bản, với từng lộ trình cụ thể. Tỉnh Thái Bình nói chung và huyện Tiền Hải nói riêng có tiềm năng về điều kiện tự nhiên, khí hậu, mặt nước nuôi trồng thủy sản thuận lợi và to lớn.Với dạng mặt nước là ao, hồ tự nhiên, nhưng chưa lựa chọn được đối tượng phù hợp để có thể khai thác hiệu quả tiềm năng mặt nước đó và phát triển nuôi đối tượng chủ lực, quy mô hàng hóa, xuất khẩu.Nhưng trong những năm qua việc quản lý, khai thác và sử dụng diện tích mặt nước để phát triển ngành còn nhiều bất cập, đặc biệt là hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi còn thấp. Với đặc thù là một huyện ven biển, Tiền Hải có khả năng phát triển nhiều loại thuỷ sản có giá trị kinh tế cao.Thực hiện chương trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa, phát huy lợi thế vùng, hiện nay huyện đang tập trung phát triển thuỷ sản, đặc biệt là nuôi cá Vược với việc định hướng xây dựng thương hiệu “Cá Vược Tiền Hải” nói riêng và dần xây dựng thương hiệu sản phẩm thủy sản Tiền Hải. Trong bối cảnh ngành thuỷ sản nói chung, nuôi cá Vược nói riêng chịu ảnh hưởng của các biến động kinh tế xã hội, hiệu quả kinh tế luôn là mối quan tâm hàng đầu của hộ nông dân.Cá Vược là ngành thuỷ sản mới của huyện nhưng đến nay các nghiên cứu để phát triển hơn nữa ngành này còn ít và hạn chế.
1 c Xuất phát từ những thực trạng trên, để đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình nuôi cá Vược tại huyện tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả kinh tế mô hình nuôi cá Vược nước ngọt tại huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình”. Với mong muốn hoàn thiện mô hình nuôi cá Vược và góp phần thúc đẩy phát triển ngành nuôi trồng thủy sản tại huyện Tiền Hải trong những năm tới. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá Vược thương phẩm nước ngọt tại huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình và từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế mô hình trên địa bàn huyện trong thời gian tới.
Mục tiêu cụ thể Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế. Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế mô hình nuôi cá Vược thương phẩm nước ngọt tại huyện Tiền Hải trong thời gian vừa qua. Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi cá Vược nước ngọt trên địa bàn huyện trong thời gian tới. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.
Đối tượng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu quy trình và hiệu quả kinh tế mô hình nuôi cá Vược thương phẩm nước ngọt tại các hộ dân của huyện Tiền Hải. Phạm vi nghiên cứu 1. Phạm vi nội dung Các vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế. Thực trạng hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá Vược thương phẩm nước ngọt của hộ dân tại huyện Tiền Hải.
Các giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình nuôi trên địa bàn huyện trong thời gian tới. Do trên địa bàn huyện Tiền Hải, các mô hình nuôi các Vược đều là nuôi cá thương phẩm; không nuôi cá bố, mẹ, cá giống. Vì vậy, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu mô hình nuôi cá Vược thương phẩm. Phạm vi về không gian Đề tài được tiến hành nghiên cứu trong các hộ nuôi cá Vược tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
Phạm vi về thời gian Số liệu thứ cấp về đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Tiền Hải và thống kê ngành thủy sản ở Việt Nam được lấy từ 20132015. Số liệu thống kê về ngành thủy sản và nghề nuôi cá Vược trên thế giới lấy từ năm 2014 trở về trước. Số liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2015. Thời gian thực hiện đề tài: từ 15/10/2015 đến 30/08/2016.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Lý luận chung về nuôi trồng thủy sản 2. Khái niệm Nuôi trồng thủy sản là khái niệm chỉ hai hoạt động là “nuôi” và “trồng” các đối tượng thủy sản gồm nuôi các động vật như cá, ếch, tôm,. và trồng các loại thực vật như rong câu chỉ vàng, rong sụn,.
trong môi trường nước ngọt, mặn, lợ.Nói cách khác NTTS là hoạt động nuôi dưỡng sinh vật sống trong môi trường nước, nhằm mục đích tăng cường hỗ trợ, cải thiện nâng cao chất lượng nguồn sinh vật sống nhằm mục đích phục vụ tốt cuộc sống con người. Theo định nghĩa của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO, 1992), nuôi trồng thuỷ sản là các hoạt động canh tác trên đối tượng sinh vật thuỷ sinh như cá, nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thuỷ sinh. Quá trình này bắt đầu từ thả giống, chăm sóc, nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong. Có thể nuôi từng cá thể hay cả quần thể với nhiều hình thức nuôi theo các mức độ thâm canh khác nhau như quảng canh, bán thâm canh và thâm canh.
Đặc điểm, vai trò, chức năng và tầm quan trọng của NTTS * Đặc điểm của ngành NTTS Ngành nuôi trồng thủy sản có một số đặc thù chuyên biệt như sau: Môi trường nuôi thuỷ sản khắt khe. Mỗi giống loài thủy sản yêu cầu một môi trường sinh thái phù hợp khác nhau về thủy lý, thuỷ hoá, thủy sinh của môi trường đất và nước, về nhiệt độ, dòng chảy…Nếu gặp môi trường sống phù hợp, các đối tượng thuỷ sản sẽ phát triển nhanh. Ngược lại nếu gặp môi trường không phù hợp các đối tượng thuỷ sản sẽ chậm hoặc không phát triển, phát sinh bệnh tật, nếu điều kiện môi trường thay đổi đột ngột rất dễ dẫn đến hiện tượng chết hàng loạt. Nuôi thuỷ sản mang tính mùa vụ khác nhau giữa các loài.
Mặc dù các loài cùng sống trong môi trường nước nhưng mỗi loài thủy sản có đặc điểm sinh học, sinh sản và sinh trưởng khác nhau, nhất là giữa các bộ khác nhau như giáp xác, cá, nhuyễn thể, do đó mùa vụ sinh sản cũng như thời gian sinh trưởng của mỗi loài thường khác nhau. 4 c Các loài thuỷ sản sống trong môi trường nước, có khả năng lan truyền dịch bệnh nhanh. Do đối tượng nuôi thuỷ sản là động vật sống, di chuyển nhanh, sống trong môi trường nước là môi trường vật chất mang tính dễ lan toả nên nếu một con bị bệnh sẽ nhanh chóng làm cho cả ao nuôi bị bệnh. Mặt khác do điều kiện của hệ thống cấp và thoát nước không hoàn chỉnh.
không có đường cấp và thoát riêng, không có hệ thống xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường nên khi một ao nuôi bị bệnh cũng sẽ rất dễ dàng dẫn đến cả vùng nuôi sử dụng chung nguồn nước sẽ bị bệnh. Sản phẩm thuỷ sản mau ươn thối. Động vật thuỷ sản sống trong môi trường nước, yêu cầu điều kiện môi trường khắt khe nên khi bị tách ra khỏi môi trường nước hoặc đưa vào một môi trường nước khác không phù hợp sẽ làm cho các động vật thủy sản chết nhanh chóng. Mặt khác do cấu trúc tế bào dễ phân huỷ và có độ đạm cao nên động vật thuỷ sản sẽ nhanh chóng bị ươn thối sau khi chết.
Các loài thuỷ sản thường chịu tác động lớn của môi trường. Nuôi thủy sản mang nhiều tính chất của quá trình sản xuất nông nghiệp vì các loài thuỷ sản cũng có quá trình tự phát triển ngoài tác động của công cụ lao động và con người, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, điều kiện môi trường. Con người hiện nay bằng các máy móc kỹ thuật tiến bộ có thể điều chỉnh môitrường nhưng thường chỉ trong phạm vi nhất định và với chi phí rất cao, do đó đến nay kết quả hoạt động nuôi thuỷ sản vẫn phải chịu tác động lớn của môi trường. Những biến động bất ngờ của môi trường về khí hậu, đặc biệt là mưa và nhiệt độ, ô nhiễm nguồn nước do chất thải công nghiệp, thuốc trừ sâu từ hoạt động nông nghiệp…đều có ảnh hưởng không tốt nghiêm trọng tới hiệu quả nuôi thuỷ sản.
Ngược lại cũng do đặc tính này, nếu môi trường phù hợp cộng với các tác động hữu ích của con người cũng sẽ thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển của đối tượng thuỷ sản nuôi, mang lại hiệu quả cao Nuôi thuỷ sản có thể thực hiện thâm canh năng suất sản phẩm. Sự phát triển của đối tượng nuôi thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường sống và lượng chất dinh dưỡng làm thức ăn nên con người bằng các tác động để tạo ra môi trường sống phù hợp và điều kiện thức ăn đầy đủ có thể thúc đẩy nhanh quá trình sinh sản và sinh trưởng của đối tượng nuôi nên trong hoạt động nuôi thuỷ sản có thể thực hiện thâm canh tăng năng suất. Sản phẩm thủy sản có giá trị cao. Thực phẩm thủy sản ngày càng được ưa chuộng trong đời sống hàng ngày của mọi người.
Một mặt do sự phân bố rộng 5 c khắp của động vật thuỷ sản trên thế giới đR dẫn đến thói quen ăn thực phẩm thủy sản, làm cho thực phẩm thuỷ sản hợp khẩu vị với nhiều người trên thế giới.