MỞ ĐẦU Nội mạc tử cung giữ vai trò quan trọng trong sự làm tô của phôi và khả năng mang thai. Rối loạn tái tạo nội mạc tử cung sau ton thương hoặc rỗi loạn chức năng nội tiết là nguyên nhân chính gây ra các bệnh lý ở tử cung như nội mạc tử cung mỏng và kết dính (hội chứng Asherman). Người ta ước tính rằng 2/3 số ca làm tô thất bại có thê là do khả năng tiếp nhận phôi của nội mạc tử cung và tương tác giữa phôi và nội mạc tử cung kém, trong khi chất lượng phôi quyết định 1/3 số ca còn lại. Mặc dù các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART) đã được cải thiện nhanh chóng và đạt được hiệu quả trong những năm qua, bao gồm cả việc thu nhận và cải thiện chất lượng phôi, nhưng nhiều bệnh nhân vẫn gặp phải tình trạng thất bại làm tổ nhiều lần (RIF).
Khả năng tiếp nhận nội mạc tử cung kém đã trở thành một trở ngại trong lĩnh vực ART. Vì vậy, việc tìm ra phương pháp điều trị hiệu quả luôn là mục tiêu của các bác sĩ lâm sảng và các nhà khoa học. Kể từ đó, nhiều phương pháp đã được thử nghiệm dé cải thiện chất lượng nội mạc tử cung, bao gồm estrogen, aspirin liều thấp, vitamin E, sildenafil âm đạo, pentoxifylline và yếu tô kích thích bạch cầu hạt (G-CSF). Tuy nhiên, những phương pháp này không thể cải thiện được tất cả các trường hợp nội mạc tử cung mỏng.
Gần đây, đã có nhiều tiến bộ trong điều trị nội mạc tử cung mỏng và bị tôn thương, đặc biệt là liệu pháp tế bào gốc. Nhiều nghiên cứu đã xác nhận tác động của các dòng tế bao gốc khác nhau lên sự phát triển tế bào nội mạc tử cung hoặc tái tạo nội mạc tử cung trên mô hình động vật. Hơn nữa, phương pháp điều trị này còn được áp dụng lâm sàng trong ghép tế bào gốc tự thân. Tuy nhiên, sự an toàn và khả năng sử dụng của tế bảo sốc, bao gồm các rối loạn tăng sinh nội mạc tử cung, vẫn chưa được giải quyết.
Vì vậy, cân tìm ra giải pháp điêu trị hiệu quả hồ trợ tái tạo nội mạc tử cung. Chế phẩm cô đặc tiêu cầu bao gồm huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) và fibrin giàu tiêu cầu (PRF) có những ưu điểm nổi bật như dé dàng được thu nhận, không gây thải loại bởi tính tự thân, tiết ra các yếu tố tăng trưởng kích thích sự tái tạo mô. Một số nghiên cứu đã tập trung vào các dẫn xuất cô đặc tiểu cầu tự thân. Đã hơn 40 năm ké từ khi thé hệ cô đặc tiểu cầu tự thân đầu tiên, được gọi là huyết tương giàu tiêu cầu (PRP), được chế tạo.
Ké từ đó, các chế phẩm cô đặc tiểu cầu khác đã được phát triển, bao gồm fibrin giàu tiểu cầu (PRF), yếu tố tăng trưởng được cô đặc (CGF) và dich yếu tô tăng trưởng từ tiêu cầu (PL) và được ứng dụng nhiều trong y học tái tạo. Trong ứng dụng tái tao nội mạc tử cung, huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) đã được chứng minh vai trò tiềm năng trong thúc đây tăng sinh và di cư của các tế bào nội mạc, cải thiện cấu trúc và chức năng tử cung ở mô hình động vật và cải thiện chức năng sinh sản ở những bệnh nhân có tiền sử that bại làm tô hoặc mắc hội chứng asherman. Tuy vậy, hiệu quả này vẫn bắt gặp những tranh cãi bởi một số trường hợp được báo cáo là không có hiệu quả điều trị. Bên cạnh đó, chế phẩm thế hệ thứ hai của công nghệ cô đặc tiêu cau là fibrin giàu tiêu cầu (PRF) cũng bước đầu khang định vai trò tái tạo nội mạc tử cung trên mô hình chuột và lâm sàng trong hai nghiên cứu mới nhất năm 2023.
Tuy vậy, trạng thai gel của chế phẩm này là rào cản ứng dụng bởi hạn chế trong việc sử dụng như các chế phẩm dạng bơm, tiêm của nó. Trước tình hình trên, chế phẩm dịch yếu tố tăng trưởng từ tiêu cầu (PL) có nguồn gốc từ PRP và PRF được gọi là PRP lysate và PRF lysate trở thành đối tượng tiềm năng nghiên cứu. Tính đến nay, chế phẩm này chỉ mới được đánh giá vai trò kích thích tăng sinh tế bào nội mạc tử cung. Vẫn chưa có nhiều công bố cho thấy được hiệu quả tác động của PRF lysate.
Bên cạnh đó, nghiên cứu so sánh hiệu quả tác động của các chế phâm chưa từng được công bố trước đây. Từ tình hình nghiên cứu va phát triển các chế phẩm cô đặc tiểu cầu có thé thay rằng, các chế phẩm này chưa được nghiên cứu nhiều ở mức độ tiền lâm sàng trước khi ứng dụng lâm sang. Do đó, các đánh giá chi tiết về hiệu quả tác động của các chế phẩm còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu trên mô hình động vật được coi là yếu tố then chốt trong y sinh.
Mặc dù việc sử dụng nó còn gây tranh cãi và đặt ra những thách thức về mặt đạo đức, nhưng sự đóng góp của mô hình động vật trong y học là điều cần thiết dé hiểu được sinh lý bệnh và các phương pháp điều trị mới đối với một số bệnh ở động vật và con người. Dé hạn chê sô lượng động vat mô hình trong các nghiên cứu, sự kết hợp với các nghiên cứu in vitro trên tế bào hoặc mô là điều cần thiết. Từ bối cảnh và những cơ sở lý luận trên, câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là (¡) PRF lysate có phù hợp cho liệu pháp điều trị tái tạo bệnh lý nội mạc tử cung không?; (ii) Dùng mô hình in vitro nào dé đánh giá hiểu của PRF lysate nói riêng và các chế phẩm cô đặc tiêu cầu nói chung trong tái tạo nội mac tử cung in vitro?; (iii) Có thé tao mô hình chuột nhất trắng bị bệnh lý nội mạc tử cung dùng để đánh giá hiệu quả của chê phâm cô đặc tiêu câu trong tái tạo nội mạc tử cung không? Nghiên cứu “Thu nhận và đánh giá hiệu qua của các chế phẩm cô đặc tiểu cầu lên sự tái tạo nội mạc tử cung chuột nhat trang” được thực hiện nhằm mục tiêu thu nhận và đánh giá hiệu quả của các chế phâm cô đặc tiêu cầu từ chuột nhắt trắng bao gồm PRP chưa hoạt hóa, PRP gel, PRF gel, PRP lysate và PRF lysate lên sự tái tạo nội mac tử cung in vitro và in vivo với ba nội dung chính bao gôm: -._ Thu nhận các chê phâm cô đặc tiêu câu từ chuột nhất trăng đạt yêu câu sử dụng cho nghiên cứu đánh giá hiệu quả tái tạo nội mạc tử cung - Đánh giá, tuyển chọn chế phẩm cô đặc tiểu cầu về hiệu quả tai tao in vitro trên mô hình mảnh mô tử cung chuột bị ton thương - _ Đánh giá hiệu quả tái tao của chế phẩm dịch tiểu cầu PRF lysate ở mô hình chuột bị ton thương nội mạc tử cung CHUONG 2. Sinh lý nội mạc tử cung 2.
Cấu trúc nội mạc tử cung Nội mạc tử cung là cấu trúc mô học vẫn chưa được hiểu rõ trong hệ thống cơ quan sinh sản ở nữ giới nhưng nó giữ vai trò quyết định sự phát triển phôi thai. Nội mạc tử cung là mô đa lớp phức tap lót trong khoang tử cung chứa các biểu mô hình thành khoang, tuyến tử cung, mô đệm, mạch máu và các tế bào bạch cầu [1]. Nội mạc tử cung được cấu trúc thành hai lớp riêng biệt bao gồm lớp chức năng bên trên chứa các tuyến được tổ chức rời rac trong cấu trúc mô nền lỏng lẻo, các tế bào trong mô nền phân bồ rời rac và lớp đáy bên dưới chứa các tuyên phân nhánh và cau trúc mô nền dày đặc (Hình 2. BIEU MO BE MAT Tế bào biểu mô NTPDase2” Tế bào mô đệm (Lớp chức năng) CD10" NTPDase2" Tế bào mô đệm (Lớp đáy) CDI0” NTPDase2* LOP CO TRON Hình 2.
Cấu trúc nội mac tử cung [2] Biểu mô khoang tử cung (luminal epithelium, LE) là cấu trúc lớp đơn các tế bào biểu mô dạng khối. Nó được hỗ trợ bởi các nguyên bào sợi mô đệm và xâm lân vào cau trúc mô nền bên dưới dé tạo thành các tuyến chức năng giống như ống được gọi là tuyến tử cung. Trong giai đoạn tăng sinh của chu kỳ, LE chứa nhiều tế bào có lông nhung hơn so với giai đoạn chế tiết. Các tế bào này tham gia tích cực vào động học của tỉnh trùng.
Trong giai đoạn chế tiết hay khoảng thời gian làm tổ của phôi, số lượng các tế bào không chứa lông nhung thuộc LE gia tăng. LE là lớp tế bào mẹ đầu tiên mà phôi tương tác và do đó chúng trở thành đối tượng đề xác định khả năng tiếp nhận của nội mạc tử cung. Các tế bào LE được hỗ trợ bởi các nguyên bảo sợi mô đệm và xâm lấn vào chất nền tế bào bên dưới dé tạo thành các tuyến chức năng giống như ống, lúc này chúng được gọi là tế bào biểu mô tuyến (glandular epithelial, GE). Các tế bào biểu mô chức năng và biểu mô đáy tương tự nhau về mặt hình thái trong giai đoạn tăng sinh [2].
Câu trúc mô nền chứa các thành phần tế bào của mô liên kết với các tế bào mô đệm giống với nguyên bào sợi và chứa một số tuyến dạng ống tiếp giáp với bề mặt khoang tử cung, các động mạch xoắn và một số lượng các tế bào miễn dịch bẩm sinh biến động được chiêu mộ. Có băng chứng khẳng định rằng, tế bào gốc trưởng thành ton tại trong cấu trúc mô này [3]. Những quan thé tế bào gốc/tiền thân nội mạc tử cung nảy có thể biệt hóa thành tế bào mô đệm và tế bào biểu mô, đồng thời góp phần thay thế và duy trì nội mạc tử cung, giúp khôi phục tính toàn vẹn của nội mạc tử cung khi có kinh nguyệt. Ở người, các tế bào gốc tiền thân này phân bố ở lớp đáy của nội mạc tử cung [4].
Các tế bào mô đệm của nội mạc tử cung là đích tác động cua progesterone. Một quá trình xảy ra bên trong nội mạc tử cung được gọi là quá trình hình thành màng rụng, cho thấy sự biến đổi các tế bào mô đệm thành các tế bào rụng. Sự biến đổi này giúp cung cấp vi môi trường dưỡng bào và tế bào tiếp nhận cần thiết cho quá trình cấy phôi và phát triển nhau thai [5, 6]. Lớp đáy, không giống như lớp chức năng, có cấu trúc ôn định, ít tăng sinh và là thành phần cấu trúc được bảo tồn của tử cung, tồn tại trong suốt cuộc đời của người phụ nữ và không bị bong tróc trong thời kỳ kinh nguyệt hoặc khi sinh nở.